Chinh sách đào tạo và sử dụng quan lại thời lê thánh tông và ý nghĩa đối với công tác cán bộ hiện nay - Pdf 35

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi xã hội phân chia thành giai cấp và cùng với nó là sự xuất hiện của
Nhà nước thì chính trị và con người chính trị cũng ra đời. Con người chính trị
có vai trò rất to lớn, là nhân tố quyết định sự vận động và phát triển của chính
trị nói riêng, của toàn xã hội nói chung. Nếu quyền lực chính trị được xác lập
trên thực tế thông qua bộ máy nhà nước hay tổ chức chính quyền nhà nước –
cái quan trọng nhất trong chính trị - thì Nhà nước đó hoạt động như thế nào,
có thực hiện được các chức năng của nó hay không lại phụ thuộc rất nhiều
vào những chủ thể nắm quyền lực chính trị. Ở Việt Nam, dưới các triều đại
phong kiến dân tộc theo mô hình Nho giáo, vua – quan là chủ thể quyền lực
chi phối toàn bộ sự hoạt động xã hội. Bộ máy quyền lực nhà nước đó do vua
đứng đầu và bên dưới là đội ngũ quan lại các cấp mà ngày nay trong đời sống
chính trị nước ta chính là đội ngũ cán bộ, công chức.
Lịch sử Việt Nam là quá trình đấu tranh lâu dài, gắn liền giữa dựng
nước và giữ nước, thường xuyên phải đối mặt với thiên tai và giặc ngoại xâm.
Bởi thế, việc tập hợp lực lượng, xây dựng sức mạnh đoàn kết dân tộc luôn
được đặt lên hàng đầu. Để giải quyết thành công các nhiệm vụ đó, Nhà nước
phong kiến Việt Nam nhất là trong các giai đoạn phục hưng và phát triển
mạnh mẽ của dân tộc đều coi trọng việc đào tạo, sử dụng đội ngũ quan lại
nhằm tăng cường sức mạnh của Nhà nước cũng như đảm bảo hiệu quả và hiệu
lực của chính quyền các cấp.
Vào nửa cuối thế kỷ XV, vương triều Lê Thánh Tông (1460-1497) đã
đạt được những thành tựu rực rỡ trong xây dựng và phát triển đất nước, được
xem là đỉnh cao sự phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam. Với thời gian
38 năm trị vì, Lê Thánh Tông đã đưa nước Đại Việt trở thành một quốc gia
hùng cường trong khu vực Đông Nam Á lúc bấy giờ cả về mặt kinh tế, chính


2

3
vốn có của dân tộc trong kho tàng tư tưởng chính trị Việt Nam truyền thống,
góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh đảm bảo cho công
cuộc đổi mới thành công. Chính vì thế, tác giả chọn đề tài “Chính sách đào
tạo và sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông và ý nghĩa đối với công tác
cán bộ hiện nay” làm luận văn thạc sĩ chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ trước tới nay, nhiều công trình nghiên cứu về sử học, văn học, triết
học, chính trị học, lịch sử tư tưởng, văn hoá, giáo dục Việt Nam của nhiều tác
giả trong nước được công bố. Trong các công trình đó, dưới góc độ tiếp cận
khác nhau của các khoa học cụ thể, một số tác giả đề cập đến vấn đề đào tạo
và sử dụng đội ngũ quan lại cũng như việc dùng người trong chính trị của các
nhà nước phong kiến Việt Nam trong lịch sử. Có thể dẫn ra một số công trình
nghiên cứu của các tác giả sau đây.
Bàn về con người chính trị Việt Nam, nổi bật là công trình nghiên cứu
Con người chính trị Việt Nam - Truyền thống và hiện đại của một nhóm tác
giả của Viện Chính trị học thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ
Chí Minh do GS.TS Nguyễn Văn Huyên (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, năm 2009. Tác phẩm đã hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về
con người chính trị cũng như thực tiễn con người chính trị Việt Nam trong
truyền thống và thời hiện đại, đồng thời xác định những yêu cầu mới đối với
con người chính trị Việt Nam hiện nay.
Trong cuốn Lịch sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8 1945 do Nguyễn Đăng Tiến (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1996,
các tác giả đã phân tích cụ thể về nội dung, phương pháp và kết quả đạt được
trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở nước ta từ thế kỷ X đến năm 1945, trong đó
nhấn mạnh những đóng góp tích cực của nền giáo dục Nho học vào việc đào
tạo đội ngũ quan lại cho các triều đại phong kiến dân tộc.
Về vấn đề sử dụng nhân tài, cuốn Phương sách dùng người của ông
cha ta trong lịch sử của GS. Phan Hữu Dật (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị


bảo vệ thành công Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Lịch sử với đề tài Chế độ


5
đào tạo và tuyển dụng quan chức thời Lê Sơ (1428-1527), trong đó có một số
kết quả nghiên cứu về lĩnh vực này thời Lê Thánh Tông.
Trong những năm gần đây, trên các tạp chí nghiên cứu cũng đã công bố
một số bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề đào tạo, tuyển chọn
và sử dụng quan lại như Tuyển chọn quan lại dưới triều vua Lê Thánh Tông và
vua Minh Mệnh: Di sản kế thừa và tham khảo của Bùi Huy Khiên trên Tạp chí
Quản lý nhà nước, số 144 năm 2008 ; Tuyển chọn và sử dụng quan lại ở nước ta
thời kỳ trung đại của TS. Đỗ Minh Cương trên Tạp chí Xây dựng Đảng, số 9
năm 2006; Ông cha ta sử dụng hiền tài của Lê Văn Huân trên Tạp chí Xây dựng
Đảng, số 2+3 năm 2008; Tuyển chọn và sử dụng quan chức: Cách làm của ông
cha ta của Bùi Xuân Đính trên Báo Tiền phong số 40 năm 2009 …
Các công trình, ấn phẩm nói trên đề cập đến con người chính trị Việt
Nam hoặc vấn đề đào tạo, sử dụng đội ngũ quan lại trong lịch sử Việt Nam
truyền thống nói chung, hoặc phân tích về tư tưởng chính trị hay một số khía
cạnh có liên quan đến việc đào tạo và sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông
nhưng chủ yếu tiếp cận dưới góc độ sử học, văn học, triết học, lịch sử tư
tưởng và văn hoá, giáo dục. Việc sử dụng con người chính trị với tư cách là
một hoạt động cơ bản và quan trọng trong thực thi quyền lực chính trị đã
được các nhà khoa học quan tâm nhưng chưa nhiều. Chính sách đào tạo và sử
dụng quan lại thời Lê Thánh Tông dưới góc nhìn chính trị học vẫn còn là
khoảng trống cần được nghiên cứu, tìm hiểu một cách sâu sắc và toàn diện
hơn. Tuy nhiên, những công trình khoa học của các học giả, các nhà nghiên
cứu kể trên là rất quý báu để tác giả luận văn có điều kiện kế thừa, đồng thời
vừa có thể tự hệ thống và khám phá độc lập trong nghiên cứu riêng của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận văn là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về chính trị và con người chính trị. Luận văn cũng dựa trên các
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và
công tác cán bộ.


7
Trên cơ sở đó, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử - logíc,
đồng thời kết hợp nhiều phương pháp khác như: phương pháp phân tích - tổng
hợp, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống, khái quát hoá.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Là luận văn thạc sỹ Chính trị học đầu tiên nghiên cứu về chính sách
đào tạo và sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông. Luận văn góp phần trình bày
một cách có hệ thống, nhiều phương diện và đầy đủ hơn về chính sách đào tạo
và sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông dưới góc độ của khoa học chính trị,
đồng thời nêu lên những giá trị lịch sử cũng như ý nghĩa của chính sách này
đối với công tác cán bộ hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp luận cứ khoa học
cho việc hệ thống, đánh giá những giá trị tiêu biểu trong đường lối trị nước
cũng như làm sâu sắc thêm tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông - một nhà
lãnh đạo Nhà nước xuất sắc và nhà hoạt động tư tưởng, văn hoá, giáo dục lớn
của Việt Nam nửa cuối thế kỷ XV.
- Luận văn có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy về lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam và khoa học chính trị nói chung.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 8 tiết.


xã hội, kích thích sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp.


9
Khác hẳn với các triều Lý - Trần, nhà Lê thực hiện chính sách lộc điền,
đem ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nước ban cấp cho tầng lớp quan
lại cao cấp. Chế độ lộc điền được thi hành ngay từ những triều vua đầu tiên
của nhà Lê, nhưng chưa trở thành quy chế. Đến thời Lê Thánh Tông mới
được quy định và ban hành thống nhất trong cả nước vào năm 1477. Theo đó,
người được cấp là “những quan lại cao cấp từ thân vương đến tòng tứ phẩm
và những người thân thuộc gần gũi nhà Vua, các nữ quan thân cận trong
triều” và “quan lại từ tứ phẩm trở lên thường nắm giữ các trọng chức trong
triều hay đứng đầu các khu vực hành chính” [27, tr.20]. Chế độ lộc điền là đặc
quyền của tầng lớp cao nhất trong giai cấp thống trị, bao gồm hai phần: một
phần nhỏ là Nhà nước cấp vĩnh viễn, người được cấp có toàn quyền sở hữu
gọi là ruộng đất thế nghiệp; còn phần lớn lộc điền thuộc loại ban cấp tạm thời,
người được cấp chỉ có quyền chiếm hữu và sử dụng trong một đời, trong đó
có quyền phát canh thu tô, sau khi người được cấp lộc điền chết ba năm phải
trả lại cho Nhà nước. Bằng chế độ lộc điền, Nhà nước đã hạn chế và đi đến
thủ tiêu nền kinh tế điền trang thái ấp, thúc đẩy phát triển giai cấp địa chủ,
đánh dấu một bước tiến trong quá trình hình thành và xác lập chế độ phong
kiến Việt Nam.
Chế độ quân điền được thực hiện ngay sau khi hoàn thành công cuộc
giải phóng đất nước, khi chính quyền đã được củng cố và Nhà nước đã điều
tra xong tài sản ruộng đất trong toàn quốc. Vào năm 1477, Lê Thánh Tông đã
hoàn chỉnh chế độ quân điền và năm 1481 được thực hiện theo nguyên tắc
thống nhất trên quy mô cả nước. Đây là chế độ chia cấp định kỳ ruộng đất
công của làng xã cho các hộ nông dân cứ sáu năm một lần. Đối tượng được
cấp quân điền là “tất cả mọi người trong xã từ quan viên cho đến hạng thấp
nhất của bậc thang xã hội phong kiến như người cô quả, tàn tật, vợ con người

vàng, bạc .. cũng được mở rộng.
Trên cơ sở nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển, việc buôn bán
cũng được đẩy mạnh. Các chợ địa phương phát triển, nhà Lê Sơ còn ban


11
hành “lệ họp chợ”, quy định việc chia chợ cũ thành các chợ mới và thống
nhất các đơn vị đo lường để tiện việc trao đổi hàng hóa trong vùng. Tình
hình ngoại thương không được phát triển như nội thương do những chính
sách “ức thương” như Nhà nước nắm độc quyền ngoại thương, hạn chế và
kiểm soát chặt chẽ các thuyền buôn và thương nhân nước ngoài. Nhiều cơ
quan kiểm soát ngoại thương mọc lên khắp các cửa biển dọc miền duyên
hải. Thuyền buôn nước ngoài chỉ được cập bến ở một số địa điểm đã quy
định như Vân Đồn, Vạn Ninh (Quảng Ninh), Hội Thống (Nghệ An), Hội
Triều (Thanh Hóa) và một số địa điểm trên đất liền thuộc các tỉnh Lạng
Sơn, Tuyên Quang, Hà Tây. Việc buôn bán giữa người trong nước với
người nước ngoài cũng bị kiểm soát chặt chẽ. Theo sách Đại Việt Sử ký
toàn thư, vào những năm Quang Thuận đời Lê Thánh Tông, “thuyền đi
biển của nước Xiêm La đến trang Vân Đồn dâng biểu văn khắc trên lá vàng
và dâng sản vật địa phương, vua khước từ không nhận” [48, tr.427]. Sở dĩ
triều Lê Sơ thi hành một chính sách “bế quan toả cảng” nghiêm ngặt là vì
đất nước mới trải qua hàng chục năm đấu tranh gian khổ chống ngoại xâm
để giành độc lập nên rất cảnh giác đề phòng âm mưu dò xét và xâm lược
của người nước ngoài.
1.1.2. Về văn hoá, tư tưởng
Cùng với những bước phát triển về kinh tế - xã hội, nền văn hóa, tư
tưởng của nước Đại Việt thế kỷ XV cũng phát triển mạnh mẽ và giành được
nhiều thành tựu rực rỡ.
Nho giáo có vị trí quan trọng ngay từ thời Lý với việc bắt đầu thi cử
Nho học, lập Văn Miếu,... và đến thời Lê Sơ thì phát triển đến đỉnh cao. Các

và trở thành quốc giáo nhưng đến thế kỷ XV thì suy yếu. Sở dĩ Lê Thánh
Tông hạn chế Phật giáo, Đạo giáo vì ông cho rằng giáo lý của hai đạo này hết
thảy đều “mê lừa dân”, “che lấp nhân nghĩa”, cái hại của nó không thể kể xiết
mà lòng người rất ham, rất tin, trong khi đạo của Thánh nhân (tức Nho giáo),
lớn thì tam cương, ngũ thường, nhỏ thì tiết văn độ số đều thiết dụng trong


13
cuộc sống thường ngày. Mặc dù bị hạn chế, nhưng Phật giáo và Đạo giáo vẫn
tồn tại ở mức đáng kể, có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hoá tinh thần,
không chỉ trong dân gian mà cả trong một bộ phận quan lại, thậm chí cả trong
đời sống cung đình.
Giáo dục Nho học do Nhà nước phong kiến quản lý bắt đầu xuất hiện
từ cuối thế kỷ XI khác hẳn nền giáo dục của nhà chùa đã tác động trực tiếp đến
sinh hoạt văn hóa, tư tưởng của nhân dân, đến sự hình thành đội ngũ trí thức dân
tộc và quan lại cũng như ảnh hưởng đến thế giới quan, phong cách tư duy và
những quy phạm chính trị và đạo đức của con người. Trong thế kỷ XV, giáo dục
và thi cử Nho học tiếp tục được mở rộng và không ngừng phát triển.
Hoạt động văn hóa - nghệ thuật diễn ra sôi nổi. Văn học rất phong phú
về thể loại với nội dung xoay quanh những vấn đề của đạo Nho và đề cập đến
đời sống hiện thực, phản ánh tinh thần dân tộc. Các ngành nghệ thuật sân
khấu ca vũ nhạc cũng có nhiều bước tiến bộ, đã xuất hiện những loại hình ca
kịch như hát ả đào, hát chèo, hát tuồng,... Bên cạnh nền văn hóa cung đình
còn tồn tại một nền văn hóa dân gian rất đa dạng và phong phú, phục vụ đời
sống tinh thần của tầng lớp lao động. Ở các địa phương, các lễ hội truyền
thống thể hiện tinh thần thượng võ như bơi thuyền, đánh vật, đấu gậy, cướp
cù... rất thịnh hành. Các lễ hội thường xuyên gắn liền với việc nêu cao truyền
thống đánh giặc giữ nước và suy tôn các vị anh hùng dân tộc, những người đã
hy sinh vì sự nghiệp chống ngoại xâm.
Những thành tựu văn hóa rực rỡ luôn gắn liền với sự vận động và phát

túng, bất lực trước đòi hỏi của đời sống chính trị - xã hội đã có những chuyển
biến tích cực về nhiều mặt sau hơn 30 năm phát triển đất nước trong hoà bình.
Trước tình hình thực tiễn đó, năm 1460 một số quan đại thần trung
thành với nhà Lê, đứng đầu là Nguyễn Xí, Đinh Liệt đã tiến hành một cuộc
đảo chính nổi binh giết bọn tay chân của Nghi Dân rồi “giáng Nghi Dân
xuống tước hầu” [48, tr.388]. Con thứ tư của Thái Tông là Bình Nguyên
Vương Lê Tư Thành vừa tròn 18 tuổi được quần thần đưa lên làm vua tức vua


15
Lê Thánh Tông. Ông là vị vua đã góp phần quan trọng nhất trong việc củng
cố chế độ quân chủ quan liêu tập quyền trung ương. Trong thời Lê Thánh
Tông, bộ máy nhà nước quân chủ trung ương đã phát triển tới mức cao nhất
của nó, các chế độ, qui chế về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục
đều được hoàn chỉnh, làm mẫu mực cho các triều đại phong kiến sau này. Lê
Thánh Tông đã được các nhà sử gia phong kiến khen là “vua sáng lập chế độ,
văn vật khả quan, mở mang đất đai, cõi bờ khá rộng, thực là bậc vua anh hùng
tài lược, dẫu Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không thể hơn
được” [48, tr.387].
Lê Thánh Tông không chỉ là nhà chính trị, vị vua anh minh mà còn là
nhà văn hoá, nhà tư tưởng lỗi lạc, học vấn uyên bác và có khả năng về nhiều
mặt. Ngoài việc hiểu đường lối và phương pháp trị nước, ông còn am hiểu
thiên văn, địa lý, lịch sử, văn học. Thông qua hoạt động thực tiễn của mình,
ông còn sáng tác thơ văn, tự mình chế định ra các loại chiếu, chế, cáo và các
văn kiện về pháp luật, giáo dục, quân sự, ngoại giao… Tác phẩm của ông
được tập hợp lại trong các bộ Thiên nam dư hạ tập, Hồng Đức quốc âm thi
tập… không những cho thấy tài năng, trình độ của ông về các mặt nói trên, mà
còn cho thấy những quan niệm, những tư tưởng của ông về xã hội, về nhân sinh.
Trong đó, những quan niệm, những tư tưởng chính trị của ông được thể hiện ra
với nhiều nét đặc sắc và có giá trị. Tuy mang nặng dấu ấn của Nho giáo, không

“hơi hướng” của thể chế quân chủ quý tộc nhà Trần, của việc trọng đãi các
quý tộc hoàng tộc và các “khai quốc công thần”. Nhận thấy những hạn chế,
bất cập của mô hình này như tình trạng phân tán, thiếu tập trung quyền lực
nên ngay từ khi lên ngôi, Lê Thánh Tông đã sớm tiến hành công cuộc cải tổ
bộ máy nhà nước và được đẩy mạnh vào năm 1471 thông qua việc hiệu định
Hoàng triều quan chế với nguyên tắc “đất đai bờ cõi so với ngày trước càng
lớn hơn nhiều lắm, không thể không thi quyền chế tác, hiểu hết mọi đạo biến
thông” [43, tr.12]. Đó thực chất là một cuộc cải cách chính trị, tổ chức lại
thiết chế nhà nước quân chủ tập quyền một cách có quy củ, hệ thống nhằm tập


17
trung quyền lực vào tay hoàng đế, giảm bớt các cơ quan trung gian rườm rà,
tăng cường hệ thống giám sát, hạn chế sự tham chính của quý tộc hoàng tộc,
loại trừ khả năng lộng quyền của triều thần ở trung ương và tệ nạn tập trung
quyền hành của các quan lại ở địa phương.
Tăng cường quyền lực và làm cho bộ máy nhà nước ở trung ương trở
nên thực quyền là mục tiêu quan trọng nhất trong khâu cải cách hành chính vì
chính quyền trung ương là cơ quan đầu não của đất nước trong việc hoạch
định và triển khai việc tổ chức thực hiện đường lối chính trị. Để thực hiện
mục tiêu đó, Lê Thánh Tông bãi bỏ các chức quan Tam tư (Tư đồ, Tư mã, Tư
không), Tướng quốc, Đại hành khiển, Tả hữu bộc xạ… và những cơ quan
trung gian giữa vua và các cơ quan thừa hành như Thượng thư sảnh, Trung
thư sảnh, Môn hạ sảnh, Nội mật viện. Vua trực tiếp nắm quyền chỉ đạo, giải
quyết mọi công việc quan trọng của Nhà nước cũng như mối liên hệ với các
cơ quan thừa hành cùng sự giúp đỡ của các đại thần trọng chức là tứ Thái
(Thái sư, Thái uý, Thái phó, Thái bảo), tứ Thiếu (Thiếu sư, Thiếu uý, Thiếu
phó, Thiếu bảo) và các đại học sĩ… Những đại thần này không hình thành cơ
quan tư vấn mà chỉ là những người đáng tin cẩn làm việc riêng rẽ, góp ý kiến
cho nhà vua. Vua thực sự trở thành nguyên thủ quốc gia, nhân vật số một có

quy chế tổ chức hoạt động và mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước.
Ở cấp Trung ương, các bộ thực hiện nguyên tắc “Lục bộ tương thông” nhằm
phối hợp điều hành công vụ hoặc trực ban tại Triều đình, làm cho công việc
quản lý nhà nước trở thành một chính thể thống nhất và được giải quyết
nhanh, gọn, hiệu quả. Lê Thánh Tông hợp lý việc phân tán quyền lực giữa các
cơ quan giúp việc trong triều, chẳng hạn như không lập ra các quan tư pháp
độc lập mà chỉ quy định những vụ án ở Trung ương phải qua các quan như Đề
lĩnh, Phủ doãn, ở ngoài đạo phải qua các Thừa ty và Hiến ty rồi chuyển lên
Bộ Hình, những án bị kêu ca, khiếu nại chuyển lên Ngự sử đài duyệt lại. Hơn
nữa, việc tổ chức mạng lưới sáu khoa kiểm tra, giám sát việc thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của sáu bộ lần đầu tiên được thực hiện dưới triều Lê. Nếu như


19
ở các triều vua Lê trước Lê Thánh Tông, Ngự sử đài và tất cả các quan lại đều
được quyền dâng sớ đàn hặc bất cứ một viên quan nào hoặc một cơ quan nào
đó trong triều thì đến thời vua Lê Thánh Tông, ông đã bãi bỏ lệnh đó và giao
hẳn cho sáu khoa chịu trách nhiệm này. Trong các buổi chầu, nhà Vua đòi hỏi
sự có mặt của các văn võ đại thần, các viên quan phụ trách các bộ, khoa,
Thượng bảo tự, Thông chính sứ ty, Đông các, Ngự sử, Sử quan, nghĩa là cố
gắng tận dụng sự góp ý của tất cả những người có chức trách.
Dưới thời Lê Thánh Tông, bộ máy nhà nước ở Trung ương đã được xây
dựng theo hướng tinh gọn, hiệu quả và tập trung toàn bộ quyền lực nhà nước
vào trong tay nhà vua. Cùng với cải tổ về mặt tổ chức, Lê Thánh Tông đã sửa
đổi quy chế công chức, nếu như trước đó việc bổ nhiệm quan lại phần nhiều
lấy “quan to, tước cao” thì đến đời vua Lê Thánh Tông đặt quan đều là “lương
ít, trật thấp”. Mặc dù, số lượng quan lại được đặt ra so với trước có tăng rất
nhiều về số lượng nhưng tiền lương chi tiêu so với trước kia không tăng. Nhờ
đó, “kẻ ăn hại đã không có, trách nhiệm lại quy đến nơi. Để cho lớn nhỏ cùng
ràng buộc nhau, khinh trọng cùng kiềm chế nhau. Uy quyền không giả mà lẽ

Tông còn đặt 13 cai đạo giám sát ngự sử chuyên theo dõi, kiểm tra hoạt động
của quan lại địa phương. Như vậy, mỗi ty có phần quyền hạn riêng của mình
đồng thời phải chịu trách nhiệm trước cấp trên của mình ở Trung ương. Các
chức quan ở ty Hiến sát cùng với 13 giám sát ngự sử là những người theo dõi,
giám sát hoạt động của quan lại các ty, các phủ, huyện. Năm 1489, khi dụ Ngự
sử đài và Giám sát ngự sử 13 đạo, Lê Thánh Tông quy định “nếu là ba ty bên
ngoài trị lý dân chúng, khi phát hiện quan lại tham ô, hoặc có đơn khống tố về
kiện tụng oan ức, cùng tất cả việc riêng tư xảy ra trong phủ, huyện, châu thì do
phân ty các đạo xét xử thi hành” [48, tr.506].
Dưới đạo, Lê Thánh Tông chia thành các phủ, dưới phủ là huyện ở
đồng bằng và châu ở miền núi. Đứng đầu phủ có Tri phủ, Đồng tri phủ; Tri
huyện và Huyện thừa cai quản mỗi huyện; ở châu (vùng dân tộc thiểu số) có
Tri châu do các tù trưởng đảm nhiệm. Riêng phủ Trung đô thì đặt viên Phủ doãn


21
đứng đầu, giúp việc có Thiếu doãn và Thị trung. Đơn vị quản lý hành chính cơ
sở là cấp xã được phân thành ba loại là đại xã, trung xã, tiểu xã căn cứ vào số hộ
dân. Năm 1466, Lê Thánh Tông đổi chức xã quan thành xã trưởng là những
người đứng đầu cấp xã giúp các đơn vị hành chính cấp trên nắm quyền quản lý
ruộng đất, thu thuế và quản lý hành chính ở địa phương. Đầu năm 1490, Lê
Thánh Tông ban hành thể lệ tách xã cũ, lập xã mới theo nguyên tắc, tiểu xã có từ
100 đến 299 hộ, trung xã có từ 300 đến 490 hộ, đại xã có trên 500 hộ; những đại
xã quá số quy định 100 hộ (tức là có khoảng 600 hộ trở lên) thì tách số hộ này ra
lập thành một tiểu xã mới. Cũng vào năm 1490, khi xác định bản đồ toàn quốc,
dưới 13 đạo thừa tuyên có “52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường,
6851 xã, 332 thôn, 637 trang, 40 sách, 40 động, 30 nguồn, 30 trường” [48, tr.507].
Các chức quan từ cấp huyện trở lên đều do Nhà nước bổ nhiệm. Điều
kiện và thủ tục bổ nhiệm được quy định rõ ràng và có văn bản. Riêng chức xã
trưởng, tuy do dân bầu nhưng phải được sự duỵêt y của quan phủ, huyện. Xã

đạo giữ phép; không có lỗi trái nghĩa phạm hình” [43, tr.14]. Trong sắc dụ
quan lại cả nước vào năm 1474, Vua lại khẳng định “đặt luật để trừ kẻ gian,
sao dung được bọn coi thường pháp luật” [48, tr.463].
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị của giai cấp
phong kiến, nhưng quyền lực đó chỉ có thể được triển khai và có hiệu lực trên
cơ sở của pháp luật. Để tập trung cao độ quyền lực nhà nước vào tay nhà vua,
đơn giản hoá các cơ quan hành chính, phục dịch, Lê Thánh Tông đã đề cao
luật pháp, lấy luật pháp làm chuẩn để giải quyết các vấn đề có ảnh hưởng đến
trật tự xã hội và an ninh quốc gia. Có thể thấy pháp luật được ban hành dưới
triều vua Lê Thánh Tông khá hoàn thiện về hình thức và nội dung, đỉnh cao là
Quốc triều hình luật hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức (năm 1483), gồm có
721 điều, chia làm sáu quyển, 16 chương. Về cơ bản, Bộ luật này là luật hình,
như tên gọi của nó, nhưng thực chất, lại là một bộ luật tổng hợp nhiều ngành
luật, điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng trong các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, hôn nhân và gia đình cũng như các quan hệ xã hội cơ bản khác. Bộ
luật biểu hiện rõ nét tính chất giai cấp và quyền lực của nhà nước phong kiến đối
với nhân dân, nhưng cũng là bộ luật tiến bộ nhất trong lịch sử phong kiến Việt


23
Nam, “mang đậm nét sáng tạo và tinh thần thực tiễn của giai cấp phong kiến
trong giai đoạn đi lên của nó” [34, tr.203]. Đây là thành tựu có giá trị đặc biệt
quan trọng trong lịch sử pháp luật Việt Nam, là đỉnh cao so với những thành tựu
pháp luật không chỉ của các triều đại trước đó mà còn đối với cả bộ Hoàng Việt
luật lệ được biên soạn vào đầu triều Nguyễn sau này như Phan Huy Chú nhận
xét: “Hình luật đời Hồng Đức... các thời đều tuân theo, dùng làm phép sẵn, dù
các điều mục lặt vặt có thêm bớt, nhưng đại cương chế độ bao giờ cũng vẫn theo
đó, thật là cái mẫu mực để trị nước, cái khuôn phép để buộc dân” [5, tr.94].
Thời Lê Thánh Tông, với hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh, lấy
Quốc triều hình luật làm xương sống, đã xác lập được một trật tự pháp luật cần

Cả bộ máy triều đình đều đặt dưới quyền điều khiển trực tiếp của nhà vua,
khuynh hướng tăng cường sự chi phối của Triều đình và hạn chế quyền lực địa
phương được thể hiện rõ nét, coi trọng sự phân chia và kiểm soát lẫn nhau giữa
hệ thống hành chính, quân sự, tư pháp và giám sát. Nhờ đó mà Lê Thánh Tông
đã thâu tóm được quyền hành, tạo ra một hệ thống hành chính phù hợp với trình
độ phát triển kinh tế - xã hội và dân trí đương thời. Để đáp ứng yêu cầu vận hành
của bộ máy nhà nước sau cải cách gắn liền với thực thi theo pháp luật, việc quản
lý xã hội đòi hỏi phải có một đội ngũ quan lại có kiến thức, có văn hoá, hiểu biết
về pháp luật, có phẩm chất đạo đức… Đó chính là những tiêu chuẩn của quan lại
nhà nước mà Lê Thánh Tông muốn hướng tới.
1.3. NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
QUAN LẠI

1.3.1. Chuẩn hóa, nâng cao chất lượng đội ngũ quan lại theo những
tiêu chí cụ thể
1.3.1.1. Có văn hoá, tri thức cai trị theo tư tưởng Nho giáo
Nền văn hoá Đại Việt thế kỷ XV phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều
thành tựu rực rỡ, nhất là trong lĩnh vực giáo dục và tư tưởng. Thời kỳ này,
Nho giáo được tạo điều kiện củng cố và vươn lên thành hệ tư tưởng thống trị


25
xã hội, kéo theo sự phát triển của nền giáo dục khoa cử Nho giáo. Bản thân Lê
Thánh Tông từ nhỏ đã chăm chỉ học hành, lo lập thân bằng con đường nghiên
bút, “sớm khuya không lúc nào rời sách vở”, dành toàn bộ tâm sức cho việc
nắm được “sách vở cổ kim, nghĩa lý thánh hiền” [48, tr.388], vốn có tư chất
thông minh lại “đặc biệt siêng năng” nên đã sớm trở thành nhà nho uyên thâm
trước khi trở thành hoàng đế, “các tập kinh, sử, các sách lịch, toán, những
việc thánh thần, không có việc gì không bao quát tinh thông” [48, tr.519]. Là
người tiếp thu Nho giáo một cách cơ bản từ nhỏ nên sau khi lên ngôi vua, từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status