Sự dẫn truyền tỷ giá và việc sử dụng tiền tệ trong thương mại quốc tế: Ý nghĩa đối với vấn đề hội nhập tiền tệ asean - Pdf 12

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƢỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – UEH 2013”
TÊN CÔNG TRÌNH:

SỰ DẪN TRUYỀN TỶ GIÁ
VÀ VIỆC SỬ DỤNG TIỀN TỆ TRONG
THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ: Ý NGHĨA ĐỐI
VỚI VẤN ĐỀ HỘI NHẬP TIỀN TỆ ASEAN
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
1

TÓM TẮT
Lí do chọn đề tài
Ở Đông Nam Á, sự hội nhập về mặt thương mại đang ngày càng tăng lên. Câu hỏi
được đưa ra là, liệu ASEAN có thể hội nhập tiền tệ được hay không? Để xem xét điều
này, chúng ta cần phân tích về sự truyền dẫn của tỷ giá, vì nếu sự dẫn truyền là thấp thì
những cú sốc sẽ không truyền đến được các đối tác kinh doanh – một trong những yếu
Bên cạnh đó, tác động của hành vi định giá cũng như việc lựa chọn đồng tiền trong giao
thương đến sự truyền dẫn của tỷ giá là khá quan trọng. Như vậy, nghiên cứu sự dẫn
truyền trong mối quan hệ với các yếu tố trên và từ đó đưa ra gợi ý về hội nhập tiền tệ ở

trình bày lí do cần phải ước lượng sự dẫn truyền tỷ giá ở ASEAN và những điểm mới
bài nghiên cứu đem lại. Phần thứ hai, tôi trình bày những ước lượng sự dẫn truyền tỷ
giá trước đây ở khu vực Đông Á, sắp xếp theo thứ tự sau: mức độ nghiên cứu (vi mô, vĩ
mô), loại nước (phát triển và đang phát triển), cùng khu vực (Đông Á) và có kết quả
nghiên cứu gần giống nhau. Dựa trên những nền tảng hiểu biết này, tôi đưa ra một bức
tranh hoàn chỉnh hơn về sự dẫn truyền tỷ giá trong khu vực ASEAN ở phần ba, bằng
các tiến hai giai đoạn phân tích dựa trên quan điểm của nhà xuất khẩu và nhập khẩu.
Phần bốn trình bày giải thích của tôi về kết quả, đồng thời đưa ra những thảo luận về
vấn đề hội nhập tiền tệ ở ASEAN. Phần thứ năm là kết luận cùng với hướng phát triển
của đề tài.
Đóng góp của bài nghiên cứu:
(1) Bài nghiên cứu này đo lường một cách toàn diện hơn về sự dẫn truyền của tỷ giá
ở ASEAN, bổ sung ước lượng dẫn truyền tỷ giá ở mức độ vi mô vào tư liệu nghiên cứu
(2) Bài nghiên cứu xem xét sự dẫn truyền của tỷ giá ở những nước đang phát triển
hoặc những nước nhỏ, thu nhập thấp và so sánh với các nước phát triển.
(3) Bài nghiên cứu trình bày sự thống trị của đồng đôla Mỹ trong thương mại quốc
tế và những tác động đến triển vọng hội nhập tiền tệ khu vực.
Hướng phát triển của đề tài:
Sự dẫn truyền tỷ giá là một câu hỏi thực nghiệm, do đó cần phải được tiến hành
nghiên cứu thực nghiệm nhiều hơn nữa, với các mô hình, quốc gia, ý tưởng khác nhau
dưới sự thay đổi liên tục của nền kinh tế toàn cầu.
3
MỤC LỤC

1. Giới thiệu 4
2. Những ƣớc tính trƣớc đây: 9
3. Ƣớc tính mới 11

cho vấn đề hội nhập tiền tệ, neo theo rổ tiền tệ tối ưu và các vấn đề liên quan
khác. Otani (2002), ví dụ, đã phát triển một mô hình lí thuyết nhằm kiểm tra những tác
động truyền dẫn của các chính sách tiền tệ trong và ngoài nước; tiến hành mô phỏng
những tác động truyền dẫn quốc tế giữa Nhật Bản và Mỹ. Mô hình “nền kinh tế vĩ mô
mở mới” tạo ra một giả định đặc biệt về hành vi định giá xuất khẩu của các doanh
nghiệp; giả định này có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả phân tích lí thuyết và mô hình
mô phỏng của ông. Otani (2002) cho rằng tác động truyền dẫn quốc tế của chính sách

1
OCA: Optimal currency area (tạm dịch là khu vực tiền tệ tối ưu)
Khu vực tiền tệ là khu vực có tỷ giá hối đoái cố định giữa các nước hoặc tồn tại một đồng tiền chung,
đi kèm với sự lưu động tự do của hàng hóa, vốn và lao động.
Theo lí thuyết về khu vực tiền tệ tối ưu được phát triển bởi Mundell (1961) và McKinnon (1963), một
khu vực tiền tệ tối ưu có nghĩa là các nước trong khu vực sẽ tốt hơn khi áp dụng tỷ giá cố định hoặc tạo
thành một khu vực tiền tệ dưới những điều kiện sau: mở cửa với các nước trong khu vực; hội nhập thị
trường tài chính, các yếu tố sản xuất và hàng hóa; tính đối xứng của các cú sốc lên các thành viên.
2
Kinh tế vĩ mô mở kiểu mới (New open-economy macroeconomic) là một bước phát triển hàng đầu
trong Kinh tế quốc tế. Mục tiêu của nó là đem lại những khuôn khổ lí thuyết mới để nghiên cứu nền
kinh tế mở và xây dựng chính sách, nhằm khắc phục những hạn chế của mô hình Mundell-Fleming
trong khi vẫn đảm bảo ý nghĩa thực nghiệm, đồng thời kết nối những tranh cãi về chính sách trước đây.
Khuôn khổ mới bao gồm: sự lựa chọn mang tính lí thuyết, mô hình cân bằng chung và sự cạnh tranh
không hoàn hảo trong thị trường hàng hóa và lao động.
5
tiền tệ trong nước có thể không cân xứng với chính sách tiền tệ ở nước ngoài khi các
doanh nghiệp ở hai nước có hành vi định giá khác nhau. Shioji (2006) điều tra hệ thống
neo rổ tiền tệ tối ưu cho những nền kinh tế Đông Á với mô hình nền kinh tế vĩ mô mới.

Xem Slavi T. Slavov (2008) “Does Monetary Integration Reduce Exchange Rate Pass-Through?”
6
khi có sự thay đổi của tỷ giá giữa nước xuất khẩu và nhập khẩu.
4
Giả sử đồng tiền của
nước xuất khẩu được đánh giá cao hơn so với nước nhập khẩu. Nếu sự thay đổi của tỷ
giá được truyền dẫn đến giá nhập khẩu (bằng đồng tiền trong nước), giá nhập khẩu tăng
có thể làm dịch chuyển từ hàng hóa nhập khẩu sang hàng hóa nội địa và kết quả là một
sự cải thiện (hoặc suy giảm) của cán cân thương mại của nước nhập khẩu (hoặc xuất
khẩu). Định giá theo thị trường (Pricing to market)
5
là một sự mở rộng của nghiên cứu
về sự truyền dẫn của tỷ giá đối với sự phân biệt giá cả trên thị trường quốc tế. Nếu sự
thay đổi tỷ giá làm những nhà xuất khẩu tiến hành định giá khác nhau đối với những thị
trường nhập khẩu tương ứng, thì hành vi phân biệt giá này sẽ được gọi là PTM.
Trong khi đã có rất nhiều nghiên cứu về sự truyền dẫn của tỷ giá và PTM trong
hai thập kỉ qua (xem Marston, 1990; Knetter, 1993; và Gil-Pareja, 2002…), những
nghiên cứu này thường tập trung vào các nước phát triển, ví dụ như Mỹ, Nhật Bản và
liên minh châu Âu. Gần đây, cũng có một số nghiên cứu về định giá xuất khẩu ở
MERCOSUR
6
(Chang và Winters, 2002) và một số ít nghiên cứu về các nước châu Á
ngoài Nhật Bản (Lee, 1995; Toh và Ho, 2001; và Parsley, 2004) tuy nhiên những
nghiên cứu về sự truyền dẫn tỷ giá đối với các nước có thu nhập trung bình và thấp vẫn
còn khan hiếm. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 97-98
đã thúc đẩy tôi phải tìm hiểu thêm về việc các cú sốc được truyền dẫn trong khu vực
bằng cách nào và mức độ bao nhiêu. Nghiên cứu cho thấy, phần lớn các nước ASEAN
8
lương và giá cả điều chỉnh chậm chạp thì sẽ làm một thời gian dài tỷ giá thực bị sai
lệch, gây chi phí cho nền kinh tế. Hơn thế nữa, trong phản ứng với cuộc khủng hoảng,
những nền kinh tế bị ảnh hưởng nhiều nhất đã từ bỏ hệ thống tiền tệ neo vào đồng Đôla
Mỹ và bắt đầu áp dụng những chính sách tỷ giá linh hoạt hơn. Theo đuổi những hệ
thống tỷ giá linh hoạt hơn, do sự gia tăng biến đổi của tỷ giá song phương so với đồng
Đôla Mỹ, vấn đề định giá và/hoặc sử dụng đồng tiền tự nhiên trở hành một mối quan
tâm lớn.
Hình 1 trình bày tỷ giá song phương theo tháng (1/1999 = 100) từ năm 1999 đến
năm 2005 của đồng tiền bốn nước ASEAN so với ba đồng tiền lớn: Đôla Mỹ, Yên Nhật
và Euro. Rõ ràng là tỷ giá song phương theo đồng Đôla Mỹ của Malaysia là cố định cho
tới tháng 7/2005 do việc neo đồng tiền sau khủng hoảng. Tuy nhiên, tỷ giá trải qua
những dịch chuyển khá lớn so với đồng Đôla Mỹ ở ba quốc gia khác, đặc biệt là ở
Indonesia. Tỷ giá song phương (bao gồm cả đồng Ringgit của Malaysia bởi vì nó dịch
chuyển song song với đồng Đôla Mỹ) theo đồng Yên Nhật và Euro cũng có những thay
đổi đang kể. Do đó, việc hiểu được sự thay đổi tỷ giá đã có những tác động gì lên giá
nhập khẩu là rất quan trọng.
Theo đó, những thông số về sự truyền dẫn của tỷ giá bắt nguồn từ một câu hỏi
thực nghiệm sẽ giúp các quyết định về chính sách hối đoái phù hợp và các vấn đề kinh
tế vĩ mô mở khác được thông tin một cách tốt hơn. Công việc của tôi sẽ đóng góp vào
lĩnh vực này bằng cách cung cấp những bằng chứng thực nghiệm về hành vi định giá
của những nhà xuất khẩu ở các nước ASEAN được nghiên cứu.
Bài nghiên cứu này có những điểm mới sau: (1) đo lường toàn diện hơn về sự
truyền dẫn của tỷ giá ở ASEAN, nhằm bổ sung vào những kiến thức hiện có về sự
truyền dẫn tỷ giá ở châu Á (chúng tôi bao gồm 5 nước lớn ở ASEAN); (2) có rất ít
nghiên cứu về những nước kém phát triển và những nước nhỏ, do đó, bài nghiên cứu
này sẽ đóng góp vào sự hiểu biết về sự truyền dẫn tỷ giá của những nước nhỏ và thu
nhập thấp, cho phép chúng ta so sánh với kết quả của những nghiên cứu trước đây về

liệu xuất nhập khẩu theo mã HS 9 chữ số (Sato, 2003, Sasaki, 2005). Và nhìn chung, có
vẻ như vẫn chưa có sự nhất quán nào về sự dẫn truyền ở Nhật Bản là cao hay thấp, mặc
dù sự dẫn truyền trong xuất khẩu được xác định là lớn hơn so với trong nhập khẩu
(Takagi và Yoshida, 2001).
Một số nghiên cứu cũng đã được thực hiện với các nước OCED ở mức độ vĩ mô,
bao gồm một số nước ở ASEAN. Campa và Goldberg (2002) là một trong những
nghiên cứu khá toàn diện và được trích dẫn nhiều trong những năm gần đây.
Ngược lại, có rất ít các nghiên cứu được thực hiện cho các nước nhỏ và càng ít
hơn ở mức độ mặt hàng. Lee (1995) đã xem xét xuất khẩu của Hàn Quốc và tìm thấy
một sự dẫn truyền thấp (hàm ý PTM dưới giả định trong mô hình của ông). Toh và Ho
10
(2001) đã kiểm tra một số hàng hóa xuất khẩu cơ bản và một số hàng hóa sản xuất ở
mức độ bán tổng hợp cho các nước Malaysia, Singapore, Đài Loan và Thái Lan giai
đoạn trước khủng hoảng. Nghiên cứu của họ không phải là cho giữa hai nước song
phương trong tự nhiên, mà thay vào đó ước lượng sự di chuyển cùng nhau của giá xuất
khẩu với tỷ giá hiệu dụng. Đối với Đài Loan, họ tìm thấy một sự dẫn truyền thấp (13%)
và được giải thích rằng, có thể do các nhà xuất khẩu Đài Loan là người nhận giá trong
thị trường thế giới. Aw (1993) đã tiến hành một nghiên cứu cẩn thận lên mặt hàng xuất
khẩu giày dép ở Đài Loan và cũng tìm thấy không có sự dẫn truyền ở hai trong bốn thị
trường nhập khẩu được nghiên cứu, hai thị trường còn lại (US và Hong Kong) thì lại có
sự dẫn truyền hoàn toàn.
Parsley (2004) xem xét xuất khẩu của Hong Kong ở mức độ mặt hàng và tìm
thấy không có sự định giá theo thị trường. Ông tương đương điều này với sự dẫn truyền
hoàn toàn và quy điều này cho điều kiện thị trường cạnh tranh và sự thiếu phân khúc thị
trường của một nước nhỏ, mở cửa. Ông nhấn mạnh, giải thích thay thế này cũng rất có
khả năng. Toh và Ho (được nhắc ở trên) cũng tìm thấy một sự dẫn truyền lớn trong
nghiên cứu của ông về xuất khẩu ở Singapore. Trong cả hai trường hợp, các nước đều

lượng mối quan hệ giữa sự chuyển dịch tỷ giá và giá cả hàng hóa dưới quan điểm của
nhà xuất khẩu (xem Knetter, năm 1989 và 1993; Gil-Pareja năm 2002; Parsons và Sato
2006) hoặc bằng cách xem xét giá nhập khẩu (xem Freenstra 1989). Cả hai quan điểm
này đều dưới giả định về hành vi của giá ở hai đầu trong mối quan hệ xuất khẩu/ nhập
khẩu. Như Kreinin (1977) đã nói trong nghiên cứu,
Mức độ mà sự thay đổi tỷ giá được chuyển thành những thay đổi trong giá nhập khẩu
(bằng đồng nội tệ) và giá xuất khẩu (bằng đồng ngoại tệ) được gọi là tác động truyền dẫn của
tỷ giá.
Theo mô hình được sử dụng rộng rãi của Knetter (tương tự như mô hình tôi sử
dụng dưới đây), mối tương quan giữa sự thay đổi trong giá xuất khẩu (bằng đồng tiền
nước xuất khẩu) và tỷ giá song phương thường được giải thích như là bằng chứng của
PTM. Từ mô hình và mối tương quan này cho thấy rằng sự thay đổi tỷ giá và giá liên
quan không truyền dẫn qua thị trường nhập khẩu. Ngược lại, trong nghiên cứu của
Feenstra, ông xem xét sự dịch chuyển của giá nhập khẩu Mỹ ở các hàng hóa xe ô tô, xe
tải và xe máy của Nhật theo sự thay đổi của tỷ giá Yên/ Đôla Mỹ. Dưới những giả định
của ông, thực tế là không có sự truyền dẫn hoàn toàn của việc tăng giá đồng Đôla đầu
thập kỉ 80. Điều này có nghĩa là, những điều chỉnh trong giá có thể xuất hiện ở đầu bên
kia – nhà xuất khẩu Nhật Bản. Như vậy, chúng ta có thể nói rằng, khi tỷ giá song
phương thay đổi, nếu giá không thay đổi ở đầu này thì nó sẽ thay đổi ở đầu bên kia.
Tuy nhiên khá ít trường hợp nhà nghiên cứu xem xét ở cả hai đầu xuất khẩu và nhập
khẩu. Đó sẽ là điều chúng ta làm trong bài nghiên cứu này.
Đầu tiên, tôi ước lượng mô hình dưới quan điểm của Knetter, xem xét sự chuyển
dịch của giá xuất khẩu khi tỷ giá song phương thay đổi. Tiếp theo, tôi ước lượng mô
hình (với cùng hàng hóa) xem xét mối quan hệ giữa giá theo đồng tiền nước nhập khẩu,
để xem sự tăng hoặc giảm giá trị của đồng tiền nước xuất khẩu có thực sự “dẫn truyền”
vào giá hay không. Thông qua việc ước lượng hai phương trình một cách song song
này, tôi có thể xác định được các câu hỏi nghiên cứu sau (1) đối với những nước nhỏ cụ
thể như ASEAN khi tỷ giá song phương thay đổi thì có dẫn truyền sang thị trường nhập
khẩu hay không, (2) liệu sự dẫn truyền thấp (như phần lớn các nghiên cứu) có phải là


(1)
Với,
i=1,…,N thể hiện thị trường xuất khẩu
t= 1,…, T thể hiện thời gian


biểu thị sai phân bậc 1
p
x
là giá xuất khẩu ở đồng tiền của nước xuất khẩu
e là tỷ giá song phương (đơn vị tiền tệ của nước xuất khẩu/tiền tệ của thị
trường xuất khẩu) nhân cho chỉ số giá ở thị trường xuất khẩu


là sai số, được giả định là độc lập và phân phối theo giá trị trung bình
bằng 0 và phương sai
2


không đổi.
13

t


i


vào tất cả các hồi quy.

có thể được giải thích như sau. Theo mô hình cạnh tranh không hoàn hảo và
thị trường là phân khúc – sự phân biệt giá cả có thể xuất hiện- một giá trị

gần bằng 0
thể hiện rằng, giá xuất khẩu ở đồng tiền của nước xuất khẩu không phản ứng với những
dao động của tỷ giá song phương (đồng tiền nước xuất khẩu/đồng tiền nước nhập
khẩu). Do đó, những thay đối trong tỷ giá, được dẫn truyền hoàn toàn sang nhà nhập
khẩu.
11
Một giá trị

dương và có ý nghĩa, thể hiện có một mối quan hệ cùng chiều
giữa giá xuất khẩu (theo đồng tiền của nước xuất khẩu) và tỷ giá. Điều này thể hiện
rằng, nhà xuất khẩu có xu hướng ổn định giá xuất khẩu (theo đồng tiền của nước nhập

10
Kết quả kiểm định không được trình bày trong bài, nhưng có thể cung cấp nếu được yêu cầu.
11
Trong mô hình cạnh tranh không hoàn hảo,

=0 thể hiện cầu không co giãn với giá theo đồng tiền ở
nước nhập khẩu – giá được tính bằng một phần “markup” cố định trên cho chi phí biên.
14
khẩu) ít nhất là một mức độ nào đó. Và do đó, họ có nhiều khả năng sẽ sử dụng chiến
lược PTM.

it
ep

 lnln
(2)
Với p
m
là giá xuất khẩu theo đồng tiền của nước nhập khẩu. Trong phương trình
này, ta có thể giải thích

=0 theo những cách sau.

=0 hàm ý rằng giá được trả bởi

12
Hệ số

dương và ý nghĩa thể hiện đường cầu ít lồi hơn so với đường cầu không co giãn
13
McKinnon (1979) lập luận rằng hàng hóa đồng nhất và / hoặc ít phân biệt được giao dịch trong một
thị trường thế giới hội nhập được lập hoá đơn bằng một đồng tiền quốc tế lớn, điển hình là đồng đô la
Mỹ.
Mặc dù nó được công nhận rộng rãi rằng sử dụng tiền tệ trong thương mại có thể quan trọng rất nhiều
trong nghiên cứu PTM và pass-through tỷ giá (xem, ví dụ, Knetter, năm 1989 và 1993; Gagnon và
Knetter, 1995; và Goldberg và Knetter, 1997), chỉ có một vài nỗ lực đã được thực hiện kiểm tra thực
nghiệm về vấn đề này. Một vài trường hợp ngoại lệ là Fukuda và Ji (1994), Sato (1999 và 2003) và
Donnenfeld và Haug (2003)

sử dụng này lớn hơn rất nhiều so với những bất lợi khi ước lượng sự truyền dẫn tỷ giá.
14

Theo Knetter (1989) lập luận rằng, sự khác biệt hệ thống trong chất lượng sản phẩm
(những hàng hóa có chất lượng khác nhau được bán ở những thị trường khác nhau) sẽ
được nắm giữ bởi biến giả theo nước. Hơn thế nữa, những thay đổi chất lượng hàng hóa
mà chung cho các nước thì sẽ được nắm giữ bởi biến giả thời gian. Do vậy, tác động
của sự thay đổi chất lượng hàng hóa lên việc đánh giá PTM là tối thiểu.

14
Như đã được trình bày, biến giả tác động thời gian sẽ tính toán đến sự thay đổi trong chât lượng hàng
hóa.
16
β = 1
Bảng 1
Ma trận hai kết quả nghiên cứu
β = 0
β = -1
β = 0
Không dẫn truyền
hoặc
SCIM
Dẫn truyền
hoàn toàn
hoặc
SCIM
Dẫn truyền
Cột thứ hai, giả thuyết β=0 được chấp nhận ở phương trình (1) có ý nghĩa là:
(a) sự dẫn truyền hoàn toàn hoặc (b) SCIM
Việc lựa chọn thị trường xuất khẩu dựa trên những thị trường nhập khẩu có
doanh số lớn và có đồng tiền có biến động so với đồng tiền của nước xuất khẩu. Mục
đích của việc chọn những thị trường nhập khẩu lớn là để tăng sự chính xác của cách đo
lường giá bằng giá trị đơn vị và giảm thiểu những giai đoạn mà không có quan sát về
giá do thiếu hụt hàng hóa. Bảng A1-phần phụ lục, trình bày danh sách những thị trường
nhập khẩu được sử dụng trong bài. WPI (hoặc PPI) được sử dụng để đại diện cho giá ở
thị trường nhập khẩu. Những dữ liệu này được thu thập từ IMF, International Financial
Statistics (IFS) CD-ROM.
Tỷ giá song phương (đồng tiền nước xuất khẩu/đồng tiền nước nhập khẩu) được
xây dựng từ những tỷ giá chéo theo đồng Đôla Mỹ, lấy từ nguồn IFS.
15
Tỷ giá danh

15
Tỷ giá song phương theo đồng Mark Đức và Franc Pháp được tính toán từ tỷ lệ quy đổi euro, lấy từ
website của Ngân hàng trung ương EU (
17
Bảng 2
Những mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của ASEAN-5


HS-85
Thiết bị điện, điện tử
HS-84
Máy móc thiết bị lò phản ứng hạt nhân, nồi
hơi
HS-62
Quần áo, phụ kiện không dệt
HS-87
Phương tiện vận tải
HS-61
Quần áo, phụ kiện dệt Thái Lan
HS-85
Thiết bị điện, điện tử
HS-84
Máy móc thiết bị lò phản ứng hạt nhân, nồi
hơi
HS-40
Cao su
HS-87
Phương tiện vận tải
HS-39
Nhựa Việt Nam
HS-64
Giày dép và các phụ kiện liên quan

lại không xuất khẩu. Do đó, ngoài mục tiêu cơ bản của nghiên cứu này là ước lượng hệ
số dẫn truyền cho những hàng hóa mang tính đại diện cho từng quốc gia, chúng ta còn
muốn có thể so sánh giữa các quốc gia. Như ta có thể thấy trong Bảng A2-phần phụ lục,
ta chọn một số lượng lớn các mặt hàng được nhiều nước xuất khẩu, và một số mặt hàng
khác mang tính “thương hiệu” của mỗi quốc gia nhằm mở rộng mẫu, phản ánh những
mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của ASEAN.
Cụ thể, gần một nửa các mặt hàng là được phân loại HS-85 -top5 các mặt hàng
xuất khẩu của cả năm quốc gia. Tuy nhiên, để tìm những mặt hàng tương tự được xuất
khẩu ở cả năm nước, tôi đã chọn những mặt hàng (HS-85) 6 chữ số được xuất khẩu với
khối lượng lớn ở Indonesia
16
, với thời gian đồng thời ở 4 nước kia. Thành phần xuất
khẩu của Malaysia tương tự như Indonesia, do đó, tôi đã tìm được đủ dữ liệu ở tất cả
các loại. Đối với Thái Lan, Philipine và Việt Nam, mẫu hình có vẻ khác hơn, những
vẫn không gọi là ít dữ liệu để tiến hành phân tích thích hợp. Dầu, cao su, dầu cọ và gỗ
cũng được chọn, không những vì đây là những mặt hàng nằm trong top5 mà còn vì đây

16
Indonesia được chọn chỉ đơn thuần với lí do thứ tự trong bảng chữ cái.
19
là thương hiệu xuất khẩu cho khu vực và cũng là chủ đề của nhiều nghiên cứu trước.
Cuối cùng, quần áo (HS-62) và giày dép (HS-64), là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực
của Philipine và Việt Nam, cũng được chọn để mở rộng mẫu cho hai nước này.
17

3.3 Kết quả
Như đã đề cập phía trên, tôi đã ước lượng riêng cho từng hàng hóa-quốc gia (ví

(2) nếu thị trường cạnh tranh hoàn hảo hoặc thị trường thế giới hội nhập thì

=0 ngụ ý

17
Trong tiến trình lựa chọn này, việc tìm hàng hóa xuất khẩu ở Thái Lan, Philippine, Việt Nam và đồng
thời được xuất khẩu ở Indonesia và Malaysia thì tương đối đơn giản. Tuy nhiên, trường hợp ngược lại
thì lại có nhiều khó khăn hơn.
18
Mặc dù tôi có tối đa 39 hàng hóa cho mỗi nước, nhưng một số hàng hóa bị bỏ qua do số quan sát quá
nhỏ, từ 17 trở xuống.
19
Như đã trình bày trong mục 3a, kết quả của kiểm định F cho thấy rằng, giả thuyết Ho: hệ số


chung cho tất cả các nước nhập khẩu – không thể bị bác bỏ trong hầu hết các trường hợp. Do đó, tôi
trình bày kết quả ước lượng cho hệ số

chung.
20
Bảng 3
Tổng hợp kết quả từ hai phƣơng trình

Nước

29
Thái Lan
Bác bỏ β=0
2
6

Chấp nhận β=0
38
38
Việt Nam
Bác bỏ β=0
6
9

Chấp nhận β=0
28
28 các nước ASEAN là các nước nhỏ giao dịch trên thị trường thế giới hội nhập và giá
xuất khẩu được định theo thị trường thế giới.
Để xem xét mô hình nào chính xác hơn, tôi tiếp tục tiến hành giai đoạn hai của
phân tích bằng cách ước lượng phương trình (2). Kết quả ở cột ngoài cùng bên phải của
Bảng 3 cho thấy, giả thuyết Ho:

21
dẫn truyền tỷ giá theo ý nghĩa truyền thống Kreinin là không thực sự xảy ra song
phương đối với hầu hết các mặt hàng xuất khẩu trong khu vực ASEAN. Bây giờ, tôi
chuyển sang giải thích kết quả này một cách rộng hơn trong bối cảnh hội nhập tiền tệ ở
ASEAN.
4. Giải thích và những gợi ý về vấn đề hội nhập tiền tệ ở ASEAN
Kết quả ước lượng được tóm tắt ở Bảng 3 đem lại cho chúng ta một câu đố. Khi
chúng ta giả định thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, phương trình (1) cho kết quả
sự truyền dẫn hoàn toàn, trong khi phương trình (2) cho kết quả là không có sự truyền
dẫn. Nếu chúng ta giả định thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thì

=0 sẽ biểu thị rằng
không có mối tương quan nào giữa giá xuất khẩu và tỷ giá song phương, bởi vì hàng
hóa xuất khẩu được giao thương trong một thị trường thế giới hội nhập và giá cả thì
được định hoặc lập hóa đơn theo một đồng tiền quốc tế lớn. Cần phải lưu ý rằng,
Parsley (2004) sử dụng hồi quy “Knetter” và tìm thấy rằng trong 29 hàng hóa xuất khẩu
từ Hồng Kông chỉ có 5 hàng hóa là có thể bác bỏ giả thuyết Ho: sự dẫn truyền hoàn
toàn. Điều này có nghĩa là, ông ấy tìm thấy sự dẫn truyền hoàn toàn trong hầu hết các
trường hợp và cho rằng đó là do thị trường thiếu phân khúc và Hồng Kong được xem là
một nước nhỏ.
21
Tác giả nhận xét rằng, điều này khá trái với nhận thức thông thường, vì
một nước nhỏ ít nhất sẽ bị các đối tác lớn tạo áp lực hấp thụ một phần cú sốc tỷ giá.
Tương tự, các nước lớn sẽ dễ dàng chuyển các cú sốc tỷ giá cho các đối tác thương mại
(dẫn truyền hoàn toàn). Và như đã thảo luận cho tới nay, tuy nhiên, rất có khả năng việc
phân tích sự dẫn truyền hoặc PTM bằng mô hình Knetter sẽ che giấu hành vi định giá
của nước nhỏ. Điều này cần được nghiên cứu thực nghiệm sâu hơn.
Xem xét về cách lấy mẫu loại hàng hóa, gần một nửa các loại hàng hóa là sản
phẩm điện, điện tử - những sản phẩm này rất phức tạp và khác biệt so với nhiên liệu
khoáng sản, gỗ, cao su…(xem phần phụ lục, Bảng A2). Tuy nhiên, những sản phẩm

2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
Đôla Mỹ
93.0
94.1
93.9
94.1
93.4
93.9
93.7
92.6
Đôla Sin
1.9
1.5
1.5
1.6
1.4
1.4
1.2
1.4
Yên Nhật
1.6
1.3
1.2
1.2


Nguồn: Ngân hàng Indonesia
Bảng 4 trình bày cơ cấu xuất khẩu của Indonesia theo tiền tệ. Điều ngạc nhiên là
đồng Đôla Mỹ thống trị trong xuất khẩu của Indonesia (hơn 90%). Điều này có nghĩa
là, đồng Đôla Mỹ được sử dụng rộng rãi trong xuất khẩu của Indonesia đối với Mỹ và
những thị trường ngoài Mỹ (bao gồm cả nội bộ châu Á). Bảng 5 trình bày cơ cấu xuất
khẩu của Thái Lan phân theo đồng tiền và khu vực. Nhìn vào bảng ta có thể thấy, đồng
Đôla Mỹ chiếm phần trăm rất lớn, thậm chí là khi xuất khẩu đến những nước phát triển
ngoài Mỹ, như là Nhật và EU. Theo đó, những kết quả của chúng ta về sự truyền dẫn
của tỷ giá (=giao thương trong một thị trường hội nhập) cũng phản ánh sự thống trị của
Bảng 5
Cơ cấu xuất khẩu của Thái Lan phân theo đồng tiền và khu vực %
Thế giới
81.7
80.1

6.4
5.7

6.8
8.6

5.1
5.6
NAFTA
96.3
92.8

0.8
1.2

2.5
5.4

0.4
0.6
Japan
59.7
59.4


2.9
2.9
Nguồn: Ngân hàng Thái Lan n.a. (not available): không có dữ liệu

tế vĩ mô mở kiểu mới, Otani (2002) cho rằng, tác động truyền dẫn quốc tế của chính
sách tiền tệ trong và ngoài nước là phụ thuộc vào hành vi định giá của doanh nghiệp, ví
dụ là định giá theo tiền trong nước hoặc tiền của nước lớn, Khi nghiên cứu tác động
truyền dẫn với các nước ASEAN hoặc giữa các nước ASEAN với nhau nói riêng và các
nước nhỏ nói chung, chúng ta cần phải đưa “định giá theo đồng Đôla Mỹ” vào mô hình.
Thứ hai, với thực tế là các nước ASEAN sử dụng đồng Đôla Mỹ khá lớn trong thương
mại quốc tế, những cú sốc kinh tế Mỹ sẽ truyền dẫn tới ASEAN, nhưng không có chiều
ngược lại. Cụ thể là, khi tỷ giá giữa ASEAN và Mỹ thay đổi do chính sách tiền tệ trong
khu vực, các doanh nghiệp ASEAN chỉ chuyển một phần những biến động tỷ giá này
vào giá xuất khẩu sang thị trường Mỹ (PTM). Do đó, giá nhập khẩu ở Mỹ sẽ không bị
tác động nhiều và cầu ở thị trường Mỹ cũng không bị biến động dưới ảnh hưởng của sự
24
thay đổi chính sách tiền tệ ở ASEAN. Tuy nhiên, những nhà xuất khẩu Mỹ sẽ chuyển
phần lớn biến động tỷ giá vào giá xuất khẩu, do đó nền kinh tế ASEAN bị tác động
mạnh bởi chính sách tiền tệ của Mỹ. Thứ ba, chỉ cần đồng Đôla Mỹ thống trị trong giao
thương ở ASEAN, nếu các quốc gia ASEAN-5 ổn định đồng tiền của họ theo đồng
Đôla Mỹ thì sẽ đem lại nhiều thuận lợi, bởi vì xuất khẩu của họ hướng đến những quốc
gia Đông Á khác và Mỹ khoảng 50% hoặc nhiều hơn. Tuy nhiên, khi các nước Đông Á
xuất khẩu sản phẩm vủa họ ngoài khu vực, sự giảm giá của đông tiền Đông Á theo
đồng Đôla Mỹ sẽ không nhất thiết dẫn đến mức giá thấp hơn ở thị trường nhập khẩu
hoặc cải thiện cán cân thương mại. Điều này là do, tiền tệ của nước nhập khẩu có thể
dao động tự do theo đồng Đôla Mỹ. Thứ tư, việc hội nhập tiền tệ có thể dẫn đến giảm
sự dẫn truyền. Đây là những khía cạnh cần được xem xét trong bất kì nghiên cứu về hội
nhập tiền tệ ở ASEAN.
5. Kết luận:
Như trong nghiên cứu này và nhiều nghiên cứu gần đây, sự dẫn truyền tỉ giá khá
ít phổ biến và có thể được xem hầu như không tồn tại ở một số nước ở ASEAN. Đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status