MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu 2
CHƯƠNG I: NHỮNG NỘI DUNG MỚI CỦA LUẬT ĐẦU TƯ VÀ
LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2005
4
1. Mặt tích cực đã đạt được 4
2. Một số lo ngại đối với Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp năm 2005 5
3. Một số nội dung thay đổi căn bản của Luật đầu tư và Luật doanh
nghiệp năm 20005
6
CHƯƠNG II: LUẬT ĐẦU TƯ VÀ LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM
2005 VỚI VẤN ĐỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
8
1. Pháp luật doanh nghiệp và đầu tư với nguyên tắc đối xử quốc gia 8
2. Về các mô hình tổ chức kinh doanh 11
3. Quyền thành lập và góp vốn vào công ty của tổ chức 16
Kết luận 18
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Trước xu thế toàn cầu hoá, các nền kinh tế thế giới ngày càng xích lại
gần nhau hơn. Các quốc gia có điều kiện chính trị, điều kiện kinh tế, xã hội
khác nhau, có định hướng, chiến lược, mục tiêu phát triển khác nhau nhưng
đều hướng đến một mục tiêu chung là xây dựng một sân chơi chung không
chỉ mang tính chất khu vực mà còn mang tính chất toàn cầu. Xu thế hội nhập
kinh tế quốc tế khu vực và thế giới là một tất yếu khách quan. Không một
quốc gia nào trong quá trình phát triển lại có thể đứng ngoài xu thế chung đó.
Là một quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi, Việt Nam đang nỗ lực
khai thác và phát huy các nguồn lực trong nước, đồng thời tìm kiếm và tranh
thủ các nguồn lực bên ngoài bằng cách tích cực, chủ động hội nhập kinh tế
ngành sản xuất - dịch vụ, qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Luật
đầu tư và Luật doanh nghiệp có những điểm mới so với trước đây.
1. Mặt tích cực đã đạt được
Về môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh được cải thiện do thủ tục đầu tư sẽ đơn giản hơn
hiện nay vì phần lớn các dự án đầu tư sẽ thuộc loại dự án phổ thông. Theo đó
nhà đầu tư chỉ cần đăng ký đầu tư theo mẫu để được cấp Giấy chứng nhận
đăng ký đầu tư, chứ không phải lập dự án. Đặc biệt, các dự án phổ thông do
nhà đầu tư trong nước thực hiện không thuộc diện ưu đãi đầu tư có quy mô
vốn dưới 5 tỷ đồng chỉ cần đăng ký đầu tư, mà không cần phải có giấy chứng
nhận đăng ký đầu tư.
Tạo thêm công ăn việc là, giảm chi phí
Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp năm 2005 sẽ giúp tạo thêm nhiều việc
làm, giảm chi phí và tăng hiệu quả đầu tư dẫn đến giảm giá thành có lợi cho
người tiêu dùng, góp phần xoá đói giảm nghèo và giảm sự bất bình đẳng và
không đồng đều giữa các vùng.
Cơ sở cho nhận định trên, là do nhà đầu tư sẽ cắt giảm được nhiều chi
phí khi hai luật trên được áp dụng. Cụ thể, sẽ cắt giảm được chi phí về tư vấn
pháp lý, lập hồ sơ giải trình, chi phí đi lại lưu trú và nhêìu chi phí khác nhờ sự
rõ ràng và dễ hiểu hơn của hai luật mới.
4
Đối với tiến trình hội nhập quốc tế đang diễn ra nhanh chóng, luật mới
cũng sẽ giúp thực hiện tốt các cam kết hội nhập, áp dụng các nguyên tắc và
thông lệ tốt, cải thiện năng lực cạnh tranh giúp chuẩn bị sẵn sàng tham gia
WTO. Rõ ràng, khi nhà đầu tư nước ngoài và trong nước xích lại gần nhau
hơn trong việc áp dụng các luật liên quan, sự giao thoa trong cách làm và
hướng đi cũng sẽ xuất hiện, và về lâu về dài là có lợi cho doanh nghiệp Việt
Nam.
2. Một số lo ngại đối với Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp năm 2005
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến lo ngại đối với hai luật trên. Ông
− Sử đổi hệ thống ưu đãi đầu tư theo hướng đơn giản hoá thủ tục;
− Bổ sung các điều khoản bảo đảm đầu tư liên quan tới thương mại để phù
hợp với cam kết quốc tế. Dự thảo còn quy định bổ sung về quyền của nhà đầu
tư được bảo vệ trước những thay đổi pháp luật;
− Bổ sung quy định về đầu tư ra nước ngoài của DN Việt Nam;
− Đề cập đến cả đầu tư gián tiếp và trực tiếp để tăng cường đầu tư nước
ngoài;
− Quy định đầu tư từ nguồn vốn tư nhân và đầu tư từ nguồn vốn nhà nước;
− Phân biệt thủ tục đăng ký kinh doanh và thủ tục đầu tư: tạo điều kiện cho
nhà đầu tư thực hiện nhiều dự án khác nhau mà không cần phải thành lập
nhiều DN;
− Thống nhất quản lý nhà nước về đầu tư theo nguyên tắc: chỉ Chính phủ
mới được quyền ban hành, sửa đổi các lĩnh vực cấm và hạn chế đầu tư
Những thay đổi căn bản trong Luật doanh nghiệp năm 2005
6
− Luật áp dụng thống nhất cho 4 loại hình doanh nghiệp (đại bộ phận số
DN hiện nay) không phân biệt sở hữu.
− Đơn giản hoá thủ tục, giảm rào cản gia nhập thị trường, đặc biệt đối với
đầu tư nước ngoài:
− Những khống chế về mức sở hữu (30%) đối với đầu tư nước ngoài về cơ
bản xoá bỏ; trừ các ngành, nghề hạn chế kinh doanh;
− Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ có quyền tự chủ lựa chọn loại hình doanh
nghiệp để kinh doanh;
− Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có quyền tự chủ cao hơn trong thực
hiện kinh doanh, cơ cấu lại, mở rộng và đa dạng hoá ngành, nghề kinh doanh;
doanh nghiệp đa dự án sẽ thay thế doanh nghiệp đơn dự án như hiện nay.
− Khung quản trị sẽ thống nhất và áp dụng như nhau đối với doanh nghiệp
trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Bãi bỏ nguyên tắc nhất trí .
− Tăng thêm quy định yêu cầu công khai và minh bạch hoá, nhất là đối với
những người quản lý;
làm luật của những nền kinh tế đang phát triển hay đang chuyển đổi như Việt
Nam cũng là sự xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa đầu tư trong nước với đầu tư
nước ngoài, cải cách mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp nhà nước. Các nước tư
bản phát triển từ lâu đã xây dựng luật về chủ thể kinh doanh (law on business
entities) điều chỉnh các hình thức tổ chức kinh doanh (business form) chứ
không phải theo hình thức sở hữu như chúng ta đã từng có.
Nguyên tắc đối xử quốc gia đã được thể hiện khá rõ ràng trong Luật
Doanh nghiệp 2005, nhưng còn những điểm chưa hợp lý trong Luật Đầu tư
2005.
Về phạm vi áp dụng, Luật Doanh nghiệp 2005 áp dụng cho tất cả các loại
hình doanh nghiệp mà trước đây thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật khác
nhau. Luật Doanh nghiệp 2005 đã buộc các công ty nhà nước đang hoạt động
theo Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 phải chuyển đổi sang các mô hình
doanh nghiệp quy định trong Luật Doanh nghiệp 2005 dưới hình thức công ty
cổ phần hoặc công ty TNHH. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài)
thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng được chuyển hóa
theo mô hình công ty theo Luật Doanh nghiệp 2005. Bằng các quy định này,
Luật Doanh nghiệp 2005 đã thành công, ít nhất là trên phương diện lý thuyết,
trong việc tạo ra một mặt bằng pháp lý thống nhất, không có sự phân biệt đối
xử cho các mô hình tổ chức kinh doanh thuộc hình thức sở hữu khác nhau.
Doanh nghiệp thành lập bởi các nhà đầu tư nước ngoài hay nhà đầu tư trong
nước sẽ được điều chỉnh bằng các quy tắc pháp lý chung, bao gồm cả thủ tục
rút lui khỏi thị trường, cấu trúc quản trị công ty… theo các hình thức tổ chức
kinh doanh mà không phân biệt hình thức sở hữu vốn của nhà đầu tư.
Tuy nhiên, theo Luật Đầu tư 2005, các tổ chức, cá nhân nước ngoài lần
đầu tiên đầu tư vào Việt Nam để thành lập doanh nghiệp sẽ phải có dự án đầu
tư và làm thủ tục đăng ký hoặc thẩm tra đầu tư với hồ sơ phức tạp trong khi
các nhà đầu tư nội địa không phải làm việc này. Nói một cách khác, thủ tục
9
10
Theo Nghị định này, trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia có
quy định khác về hồ sơ, trình tự, thủ tục và điều kiện thành lập, đăng ký kinh
doanh, cơ cấu sở hữu và quyền tự chủ kinh doanh, thì áp dụng theo các quy
định của Điều ước quốc tế đó. Trong trường hợp này, nếu các cam kết song
phương có nội dung khác với cam kết đa phương thì áp dụng theo nội dung
cam kết thuận lợi hơn đối với doanh nghiệp và nhà đầu tư. Song, những quy
định này mang tính chất như những tuyên ngôn, mà thiếu tính áp dụng thực
tiễn trong bối cảnh các công chức đang làm việc trong các cơ quan công
quyền có liên quan không thể hiểu và biết rõ các cam kết song phương và đa
phương của Việt Nam trong việc áp dụng pháp luật khi mà chúng ta đã là
thành viên WTO hơn một năm nay. Không thể đẩy cái khó này cho các công
chức làm việc tại cơ quan đầu tư và đăng ký kinh doanh, cũng như các nhà
đầu tư để xác định xem họ cần phải được đối xử và áp dụng luật như thế nào.
Sự thiếu vắng các quy định chi tiết về vấn đề này có thể làm mệt mỏi các nhà
đầu tư nước ngoài trong việc đòi hỏi các giới chức Việt Nam áp dụng các cam
kết WTO, từ đó làm giảm uy tín và sức hấp dẫn của Việt Nam trong hội nhập
quốc tế. Vì thế, trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, Nhà nước cần phải
quy định, hướng dẫn rõ ràng về vần đề này.
2. Về các mô hình tổ chức kinh doanh
Cuộc cải cách pháp luật về chủ thể kinh doanh gần đây đã góp phần quan
trọng vào việc xây dựng các mô hình tổ chức kinh doanh có nhiều sự tương
đồng với pháp luật ở các nước phương tây. Nói một cách khái quát, trên thế
giới có bốn mô hình kinh doanh cơ bản, phổ biến nhất là cơ sở kinh doanh
một chủ (sole proprietorship hay sole trader), hợp danh (partnership), công ty
trách nhiệm hữu hạn (TNHH), và công ty cổ phần - mà từ đó có thể có các
hình thức mang tính lai tạp, pha trộn.
2.1. Cơ sở kinh doanh một chủ (sole proprietorship hay sole trader) là hình
thức kinh doanh mà người chủ cũng đồng thời là người quản lý - điều hành cơ
sở kinh doanh trên danh nghĩa của chính họ, không có sự phân tách về quyền
TNHH một thành viên của cá nhân với bất kỳ số vốn đăng ký nào, ví dụ chỉ
12
có 5 triệu đồng, và có thể có quy mô kinh doanh nhỏ hơn nhiều so với hộ kinh
doanh lớn mà chúng ta vẫn thấy ở các thành phố lớn. Trong khi DNTN và
nhiều hộ kinh doanh đều là cơ sở kinh doanh thuộc sở hữu của một cá nhân,
không có sự phân tách quyền sở hữu tài sản, nó không phải là pháp nhân, đều
chịu trách nhiệm vô hạn trong kinh doanh thì sự phân biệt hai hình thức kinh
doanh này trở nên không cần thiết. Trên thực tế, sự khác nhau về chế độ thuế
có lẽ là lý do cơ bản cho sự lựa chọn giữa hai loại chủ thể kinh doanh này.
Tuy nhiên, đối với các cơ sở kinh doanh nhỏ (kể cả công ty) thì sự đơn giản
hóa về chế độ kế toán, thống kê, giảm nghĩa vụ báo cáo cần được pháp luật
chấp nhận. Ví dụ ở Australia, các công ty TNHH loại nhỏ (small proprietary
company) được miễn trừ nhiều nghĩa vụ liên quan đến báo cáo, thống kê,
kiểm toán so với các công ty khác.
2.2. Ở nhiều nước, người ta phân biệt rõ ràng hợp danh (partnership) với công
ty (company, incorporation, hoặc corporation), và hợp danh không được xem
là một loại công ty. Còn chúng ta thì vẫn gọi nó là công ty. Song, cho dù gọi
nó thế nào, theo chúng tôi, cũng không quá quan trọng. Hợp danh được hiểu
là sự hợp tác kinh doanh chung giữa các nhà đầu tư nhằm mục đích lợi nhuận
trên cơ sở hợp đồng hợp danh (partnership agreement). ở rất nhiều nước, ví dụ
Mỹ, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc thì hợp danh có hai loại là hợp danh
thông thường (general partnership hay gòmei -kaisha ở Nhật Bản) và hợp
danh hữu hạn (limited partnership hay gòshi -kaisha ở Nhật Bản). Hợp danh
hữu hạn thường phải đăng ký kinh doanh, còn hợp danh thông thường thì có
thể không cần phải đăng ký (ví dụ các hợp danh ở Australia thường không cần
làm thủ tục thành lập). Hợp danh thông thường là hợp danh mà chỉ có một
loại thành viên (partners), tất cả đều chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ
của hợp danh, tất cả thành viên đều tham gia điều hành kinh doanh. Hợp danh
hữu hạn thì có hai loại thành viên: (1) các thành viên chỉ góp vốn để lấy lời và
chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp vào hợp danh,
luật băn khoăn. Khác với các loại hình công ty TNHH và cổ phần, quy định
về tài sản của công ty hợp danh theo Điều 132 Luật Doanh nghiệp 2005 đã
14
thể hiện sự cố gắng của các nhà làm luật, nhưng đó vẫn là sự cố gắng nửa vời,
nó chưa thể làm rõ tính độc lập về tài sản của hợp danh với tư cách là một
pháp nhân theo truyền thống luật dân sự Việt Nam. Theo Luật Doanh nghiệp
2005, công ty hợp danh là pháp nhân, có vốn điều lệ và các thành viên hợp
danh phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của công ty
bằng toàn bộ tài sản của mình, nếu tài sản của công ty không đủ để trang trải
số nợ của công ty. Quy định này không thống nhất với các quy định về pháp
nhân trong Điều 93 Bộ luật Dân sự 2005, mà ở đó thành viên của pháp nhân
không phải chịu trách nhiệm tài sản thay pháp nhân và pháp nhân phải tự chịu
trách nhiệm bằng tài sản của mình. Việc học tập mô hình công ty hợp danh là
pháp nhân theo pháp luật một vài tiểu bang ở Mỹ - nơi mà nhiều giáo sư luật
và thẩm phán Hoa Kỳ cũng không đồng tình - có lẽ là một sự lựa chọn thiếu
khôn ngoan trong bối cảnh truyền thống dân luật Việt Nam về pháp nhân theo
trường phái luật lục địa. Mô hình công ty hợp danh là pháp nhân với chế độ
trách nhiệm vô hạn của thành viên hợp danh có lẽ sẽ làm nhiều nhà đầu tư
nước ngoài thấy băn khoăn, bởi những khác biệt với hợp danh mà họ biết ở
đất nước của mình. Vì vậy, nếu thống kê về số lượng hay tỷ lệ công ty hợp
danh trong tổng số các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam, các nhà hoạch
định chính sách và các nhà làm luật sẽ thấy mô hình công ty hợp danh của
chúng ta kém hấp dẫn tới mức nào. Cho đến nay, các công ty hợp danh chỉ
chiếm khoảng 0,5% (năm phần ngàn) tổng số các công ty của Việt Nam, trong
khi đó ở Mỹ, năm 1999, có tới 1, 7 triệu công ty hợp danh so với 4, 6 triệu
công ty các loại.
2.3. Luật Doanh nghiệp 2005 thừa nhận công ty TNHH một thành viên của
một cá nhân, có tư cách pháp nhân và chế độ trách nhiệm hữu hạn sau nhiều
tranh cãi là một quyết định đúng đắn của các nhà làm luật Việt Nam, bởi lẽ
công ty TNHH của một cá nhân (one person/man company) đã được chấp
là một tổ chức kinh tế, vậy, nó có là chủ thể của quyền thành lập và góp vốn
vào công ty hay không. Câu trả lời thật đa dạng bởi sự thiếu chặt chẽ của pháp
luật thực định.
16
Trong Nghị định 139/2007/NĐ-CP, Chính phủ quy định rằng tổ chức có
tư cách pháp nhân mới có quyền thành lập và góp vốn vào công ty. Vậy, quy
định này có thu hẹp khái niệm hay không? Có làm hạn chế quyền thành lập,
góp vốn vào công ty theo Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Đầu tư 2005 hay
không cũng là một câu hỏi phải trả lời. Thứ nhất, trong khi Tòa án nhân dân
vẫn chưa có thẩm quyền giải thích chính thức các đạo luật, thì ủy ban thường
vụ Quốc hội, theo Hiến pháp, là cơ quan phải làm việc này chứ không phải
Chính phủ quy định bằng một Nghị định như thế. Thứ hai, chúng ta biết rằng,
mọi pháp nhân là tổ chức, nhưng có nhiều tổ chức không phải là pháp nhân.
Khái niệm pháp nhân hẹp hơn khái niệm tổ chức. Như vậy, Chính phủ đã thu
hẹp khái niệm và hạn chế quyền đầu tư thành lập, góp vốn vào công ty theo
như quy định tại Luật Đầu tư 2005 và Luật Doanh nghiệp 2005. Những việc
như vậy không thấy ở các nước phương tây phát triển và nguyên tắc một nhà
nước pháp quyền.
17
KẾT LUẬN
Là một quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi, Việt Nam đang nỗ lực
khai thác và phát huy các nguồn lực trong nước, đồng thời tìm kiếm và tranh
thủ các nguồn lực bên ngoài bằng cách tích cực, chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế , khuyến khích đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Việt Nam. Đây là một trong những chủ trương rất đúng đắn của
Đảng, Nhà nước, đưa nước ta từng bước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến
dần hơn với nhịp điệu của đời sống kinh tế thế giới, rút ngắn hơn quãng
đường hội nhập.
Để góp phần cho đổi mới và hội nhập, pháp luật doanh nghiệp và đầu tư
của Việt Nam trong công cuộc cải cách gần đây đã thể hiện nguyên tắc đối xử