Đánh giá của bản thân về pháp luật lao động Việt Nam đối với vấn đề này - Pdf 28

Bài tập cá nhân tuần 2 – môn Luật lao động Khoa pháp luật kinh tế
BÀI LÀM
NSDLĐ và NLĐ đều có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong những
trường hợp luật định. Tuy nhiên, trường hợp NSDLĐ và NLĐ đơn phương chấm dứt
HĐLĐ trái pháp luật sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lí theo quy định của pháp luật
lao động. Sau đây, em xin trình bày hậu quả pháp lí của trường hợp đơn phương
chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật đối với NSDLĐ và NLĐ. Và em xin đưa ra một số
nhận xét, đánh giá của bản thân về pháp luật lao động Việt Nam đối với vấn đề này.
1. NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật:
1.1. Hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật của NSDLĐ:
NSDLĐ sẽ bị coi là chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật khi đơn phương chấm dứt
HĐLĐ với NLĐ không có căn cứ pháp luật hoặc không tuân thủ các quy định về thủ
tục hoặc vi phạm các quy định về những trường hợp không được chấm dứt hợp
đồng. (tức là không tuân theo quy định tại: khoản 1, khoản 2 Điều 17; Điều 31; Điều
38; Điều 39, Điều 111; khoản 1 Điều 85; Điều 86; Điều 87; khoản 4 Điều 155
BLLĐ).
1.2. Hậu quả pháp lí đối với NSDLĐ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái
pháp luật:
- NSDLĐ vi phạm những quy định về lý do chấm dứt HĐLĐ, hoặc không làm
đúng thủ tục luật định (như bàn bạc, nhất trí với Công Đoàn…): Trường hợp này
NSDLĐ phải nhận NLĐ trở lại làm công việc theo HĐLĐ đã ký và bồi thường một
khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) trong những ngày
NLĐ không được làm việc cộng với ít nhất hai tháng tiền lương và phụ cấp lương
(nếu có). Trường NLĐ không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền được bồi
thường quy định tại đoạn 1 khoản này, NLĐ còn được trợ cấp theo quy định tại
khoản 1 Điều 42 của BLLĐ.
1
(trợ cấp thôi việc được tính theo quy định tại Nghị định
số 114/2002/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương
2

báo trước. (căn cứ vào các quy định của pháp luật và tuỳ thuộc vào hình thức của
hợp đồng lao động).
2.2. Hậu quả pháp lí đối với NLĐ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái
pháp luật:
- Thứ nhất, trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật thì
không được trợ cấp thôi việc. NLĐ phải bồi thường cho NSDLĐ nửa tháng tiền
lương và phụ cấp lương (nếu có).
7
- Thứ hai, nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước, NLĐ phải bồi thường
một khoản tiền tương ứng với tiền lương của NLĐ trong những ngày không báo
trước.
8
(tính bằng số ngày vi phạm nhân với số tiền lương ngày)
- Thứ ba, “phải bồi thường chi phí đào tạo theo quy định tại khoản 4 Điều 32
Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2001 của Chính phủ quy định
3
Đoạn 3 Khoản 1 Điều 41 BLLĐ 1994 (sửa đổi, bổ sung 2002, 2006, 2007)
4
Khoản 4 Điều 41 BLLĐ 1994 (sửa đổi, bổ sung 2002, 2006, 2007)
5
Luận văn Thạc sỹ luật học. Đề tài: “vấn đề bồi thường thiệt hại theo luật lao động Việt Nam”. Nguyễn Ngọc Lan.
Trường Đại học Luật Hà Nội. Hà Nội – 2005.
6
Đoạn 1 Điều 43 BLLĐ 1994 (sửa đổi, bổ sung 2002, 2006, 2007)
7
Khoản 2 Điều 41 BLLĐ 1994 (sửa đổi, bổ sung 2002, 2006, 2007)
8
Khoản 4 Điều 41 BLLĐ 1994 (sửa đổi, bổ sung 2002, 2006, 2007)
Nguyễn Thị Thảo – KT32F037
2

9
Điều 13 Nghị định 44/2003/NĐ - CP ngày 9/5/2003 hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về HĐLĐ.
10
Đoạn 1 Điều 43 BLLĐ 1994 (sửa đổi, bổ sung 2002, 2006, 2007)
11
Nguyễn Hữu Chí, “Chấm dứt HĐLĐ”. Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 9/2002.
Nguyễn Thị Thảo – KT32F037
3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status