An toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ trong pháp luật lao động việt nam - Pdf 95

An toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ
trong pháp luật lao động Việt Nam

Lê Thị Phương Thúy

Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Công Trứ
Năm bảo vệ: 2008

Abstract: Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh
lao động, sự cần thiết của việc ban hành các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao
động đối với lao động nữ. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về an
toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ và việc thực thi pháp luật trên thực tế trong
các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam. Đánh giá kết quả, những bất cập và nguyên nhân
của những bất cập, tồn tại. Đề xuất một số yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật
về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ; sửa đổi, bổ sung một số quy định an
toàn, vệ sinh lao động cho lao động nữ. Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật; nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn; tăng cường công tác quản lý,
thanh tra, xử phạt, nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật an toàn, vệ sinh lao động
đối với lao động nữ.

Keywords: An toàn lao động; Lao động nữ; Luật lao động; Pháp luật Việt Nam; Vệ sinh
lao động Content
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã mở ra một giai đoạn mới cho sự phát
triển kinh tế của Việt Nam. §-ờng lối đổi mới đúng đắn của Đảng thÓ hiÖn trước hết ở sự quan

ng. Cựng vi quan nim sai lch v Gii, nhng khú khn ny ó lm cho lao ng n tr
thnh i tng d b tn thng hn trong quan h lao ng, c bit l i tng lao ng n
ang chim s ụng trong lc lng lao ng trong cỏc doanh nghip cỏc loi - ni m vic ỏp
dng phỏp lut ATVSL cũn nhiu bt cp v tn ti.
2. Lch s nghiờn cu vn
Qua thc t tỡm hiu, hc viờn thy ó xut hin mt s bi bỏo, cụng trỡnh nghiờn cu cú
cp ti mt s khớa cnh ca vn an ton, v sinh lao ng i vi ngi lao ng núi
chung, vi mt s lng hn ch.
Tuy nhiờn, cha cú mt cụng trỡnh khoa hc no trc tip i sõu vo tỡm hiu vn an
ton, v sinh lao ng i vi lao ng n cng nh t ú cú nhng kin ngh xỏc ỏng nhm
nõng cao vic bo v ngy cng tt hn quyn li ca i tng lao ng ny. Lun vn i vo
tỡm hiu, tng hp mt vn mi vi nhiu úng gúp cho vic nghiờn cu, xõy dng v ban
hnh phỏp lut liờn quan ti lao ng n trong ch nh an ton, v sinh lao ng.

3. Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn muốn làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao
động cũng như sự cần thiết của việc ban hành các quy định về an toàn, vệ sinh đối với lao động
nữ. Trên cơ sở đó, luận văn đi sâu phân tích các quy định về an toàn, vệ sinh lao động và thực tế
thực hiện đối với lao động nữ trong các doanh nghiệp ở Việt Nam, có tham khảo kinh nghiệm
điều chỉnh pháp luật quốc tế của các nước trong lĩnh vực này.
Dựa vào những kết quả đó, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
vệ sinh, an toàn lao động và nâng cao hiệu quả áp dụng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận văn phải làm rõ những nhiệm vụ cụ thể
sau:
Thứ nhất: Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh
lao động cũng như sự cần thiết của việc ban hành các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh đối
với lao động nữ.

Chương III.
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật an toàn,
vệ sinh đối với lao động nữ ở Việt Nam.

CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH
LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM

1.1 Khái quát chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động
1.1.1 Khái niệm pháp luật an toàn, vệ sinh lao động
An toàn, vệ sinh lao động là tổng hợp các biện pháp được tiến hành nhằm thiết lập điều
kiện làm việc tốt nhất cho người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng bị tai nạn lao
động hoặc giảm thiểu tỷ lệ người bị mắc bệnh nghề nghiệp trong môi trường làm việc
Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có thể được đề cập trong các văn bản pháp luật
về an toàn, vệ sinh lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Ngoài ra, trong các
văn bản nội bộ của công ty như thoả ước, nội quy lao động hay quy chế an toàn, vệ sinh lao động
của công ty, cũng có các quy định về an toàn vệ sinh lao động.
Xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảo vệ sức khỏe của người lao động nên
việc thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có tính bắt buộc cao đối với các đơn vị
sử dụng lao động, với các chủ thể tham gia quan hệ lao động. việc thực hiện các quy định này có
tính chất bắt buộc chặt chẽ nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất những nguy cơ rủi ro xảy ra, gây
ảnh hưởng đến tính mạng và sức khoẻ của người lao động

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
pháp luật an toàn, vệ sinh lao động có những điểm đặc thù khác với các chế định pháp
luật khác. Cụ thể là:
- Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất khoa học kỹ thuật rõ nét.
- Để đảm bảo hiệu quả áp dụng pháp luật, các quy định về an toàn, vệ sinh lao động
mang tính chất bắt buộc cao.
- Các quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất xã hội rộng rãi.

cũng khác
- Lao động nữ có vị thế kinh tế xã hội kém hơn so với lao động nam, đặc biệt là ở những
quốc gia phương Đông như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam. Điều này bởi chi phối sâu sắc bởi ý
thức hệ trọng nam khinh nữ đã có từ ngàn đời nay của các quốc gia này. Phụ nữ có vị trí yếu thế,
thiệt thòi hơn trong xã hội, họ mất đi các quyền tham gia, quyền quyết định các vấn đề liên quan
đến bản thân, con cái và gia đình của họ; cơ hội học tập, phát triển và thụ hưởng vật chất bị hạn
chế làm cho phụ nữ thiếu các điều kiện cần thiết để phát triển.
- Lao động nữ có ít cơ hội để làm việc và cơ hội thăng tiến của lao động nữ cũng thấp
hơn rất nhiều so với lao động nam: lao động nữ luôn phải chịu vị trí thấp, yếu thế hơn trong xã
hội, lao động thời gian dài hơn với những công việc giản đơn hơn và thu nhập thấp hơn.
- Lao động nữ ngoài công việc mà họ đang tham gia với tư cách là người lao động thuần
tuý còn phải thực hiện những thiên chức của người phụ nữ trong gia đình.

1.2.2. Sự cần thiết khách quan phải có các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối
với lao động nữ
- Xu thế phát triển nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Việt Nam là một trong số
ít quốc gia trên thế giới đi đầu trong việc thể chế hoá và đưa vào cuộc sống nguyên tắc nam nữ
bình đẳng trong công tước quốc tế về bình đẳng giới CEDAW.
- Tạo điều kiện cho phụ nữ thêm cơ hội và điều kiện tiến bộ, phát triển và thụ hưởng bình
đẳng với nam giới.
- Vai trò thực tế của các quy định này trong việc bảo vệ sức khoẻ, tính mạng, đảm bảo
thiên chức của người phụ nữ trong gia đình sau khi hết thời gian làm việc.
- Góp phần nâng cao nhận thức và thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam, giúp lao động
nữ ngày càng tự tin, hòa mình vào cộng đồng và phát huy hết tài năng, sức sáng tạo trong lao
động.
- Góp phần tạo nên tính đầy đủ, toàn diện và thống nhất trong pháp luật Việt Nam nói
chung và pháp luật lao động nói riêng.
Như vậy, các quy định ưu tiên cho lao động nữ không phải chỉ vì lợi ích riêng của đối
tượng lao động này mà còn vì lợi ích của xã hội, của quốc gia.


đối với nhà xưởng, máy móc, nguyên vật liệu, tổ chức sản xuất
- Các đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm lập báo cáo khả thi về an toàn, vệ sinh lao
động khi xây dựng, cải tạo môi trường lao động.
- Quy định cụ thể về điều kiện lao động khi sử dụng lao động nữ. Doanh nghiệp phải có
khoản chi phí thích hợp vào mục đích mua sắm trang thiết bị bảo hộ lao động, cải tạo nhà xưởng,
xây dựng nhà tắm, nhà vệ sinh nữ, xây dựng, sửa chữa mua sắm tài sản mau hỏng cho nhà trẻ,
lớp mẫu giáo (nếu có) của doanh nghiệp để tạo điều kiện cho lao động nữ làm việc tại đây yên
tâm làm việc.
Tuy nhiên, trên thực tế thực hiện, những quy định mang tính chất bảo vệ và ưu tiên trên
cũng phần nào cản trở quá trình tham gia vào thị trường lao động của lao động nữ.

2.1.2. Các quy định về an toàn nghề nghiệp và bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ
- Pháp luật lao động dành quyền ưu tiên cho lao động nữ, dành cho đối tượng lao động
này những quyền ưu đãi riêng biệt mà đối tượng lao động khác không có.
- Pháp luật lao động xác định rõ các công việc, ngành nghề không được sử dụng hoặc hạn
chế sử dụng lao động nữ nhằm bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ.
- Người sử dụng lao động có trách nhiệm trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho lao
động nữ như găng tay cách điện, ủng cách điện, mặt nạ phòng độc, dây an toàn, phao an toàn,
sào cách điện Người sử dụng lao động cùng người lao động kiểm tra để bảo đảm tiêu chuẩn
chất lượng trước khi cấp phát, đồng thời định kỳ kiểm tra trong quá trình sử dụng và mã số theo
dõi.
Các quy định về trang bị phương tiện kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động nằm rải rác trong
một số văn bản cấp ngành hoặc cơ sở và mang tính chung chung, chưa có quy định cụ thể về
hình thức, chất lượng… của phương tiện cung cấp, cũng như chưa đưa ra yêu cầu mức độ bắt
buộc thực hiện.

2.1.3. Các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi hợp lý để bảo vệ sức khoẻ
của lao động nữ
Pháp luật lao động có những quy định riêng về thời giờ làm việc của lao động nữ trong
các trường hợp đặc biệt nhằm giúp họ thực hiện đầy đủ chức năng của người phụ nữ trong gia

cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định thương tật;
2) Được nhận đủ tiền lương trong thời gian điều trị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề
nghiệp, tiền lương của lao động nữ trong trường hợp này được tính theo mức tiền lương
đóng bảo hiểm xã hội của tháng trước khi bị tai nạn lao động;
3) Sau khi điều trị thương tật ổn định người bị tai nạn lao động được giới thiệu đi giám
định khả năng lao động tại hội đồng giám định y khoa theo Quyết định của Bộ Y tế. Căn cứ
vào kết quả giám định sức khoẻ, người bị tai nạn lao động được hưởng trợ cấp của bảo
hiểm xã hội một lần từ 4 đến 12 tháng lương tối thiểu nếu mức suy giảm khả năng lao động
từ 5 → 30% hoặc được hưởng trợ cấp hàng tháng với mức từ 0,4 đến 1,6 tháng tiền lương
tối thiểu nếu mức suy giảm khả năng lao động từ 31 → 100%;
4) Được phụ cấp phục vụ 80% mức tiền lương tối thiểu nếu mức suy giảm khả năng lao
động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống, mù hai mắt, cụt hai chi, tâm thần nặng;
5) Được trang cấp phương tiện trợ giúp cho sinh hoạt phù hợp với tổn thất chức năng do
tai nạn gây ra với niên hạn sử dụng của từng loại được quy định theo Thông tư số 06 của
Bộ Lao động - Thường binh và Xã hội ngày 4/4/1995;
6) Người lao động chết khi bị tai nạn lao động (kể cả chết trong thời gian điều trị lần đầu)
thì gia đình được trợ cấp một lần bằng 24 tháng tiền lương tối thiểu và được hưởng chế độ
tử tuất.

2.1.6. Quy định về thanh tra và xử lý các trường hợp vi phạm quy định về an toàn, vệ
sinh đối với lao động nữ
Nhà nước ta còn quy định rất chặt chẽ công tác quản lý, thanh tra, xử phạt về an toàn, vệ
sinh lao động.
Tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động sẽ bị phạt
tiền, câm shoatj động, còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như
buộc khắc phục, sửa chữa đối với các máy, thiết bị không bảo đảm các tiêu chuẩn về an toàn lao
động và vệ sinh lao động; buộc kiểm định và đăng ký các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có
yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động và vệ sinh lao động.
Tuy nhiên, để các quy phạm pháp luật đi vào thực tế cuộc sống đòi hỏi phải có sự đầu tư
về vật chất và đồng lòng của tất cả các bên liên quan trong quan hệ lao động, đặc biệt là sự cam

tình trạng tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp xảy ra đối với người lao động, đặc biệt là lao
động nữ ngày càng nhiều.
Mặc dù có rất nhiều hạn chế như vậy, nhưng trong những năm gần đây, chất lượng và
trình độ của người sử dụng lao động và người lao động đã phần nào được cải thiện cùng với sự
phát triển đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học, giáo dục. Trong tình hình đó, vấn đề bảo
đảm an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp có nhiều điểm đáng chú ý.

2.2.3 Thực tiễn áp dụng các quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với lao
động nữ
Nhìn chung, vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ liên quan tới lĩnh vực
thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đang ngày càng thực hiện theo hướng tuân thủ các quy định
của pháp luật.
Mặc dù vậy, tình trạng vi phạm các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao
động nữ trong lĩnh vực thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong các doanh nghiệp cũng đang
có xu hướng tăng lên.
.
2.2.4. Tình hình thực hiện các quy định về thai sản đối với lao động nữ
Nhìn chung, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đã có những chính sách đối
với lao động nữ trong thời kỳ thai sản tuân thủ quy định của pháp luật, như tạo điều kiện để lao
động đi khám thai theo chế độ, điều chuyển lao động nữ làm công việc khác nhẹ hơn khi họ có
thai đến tháng thứ 7…
Tuy vậy, vẫn có nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài Nhà nước vẫn có
hiệ tượng vi phạm những quy định này.
Hậu quả của những yếu kém trong việc thực hiện công tác đảm bảo an toàn, vệ sinh lao
động trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước đó không chỉ hiện tượng tai nạn lao động diễn ra
thường xuyên với những thiệt hại nghiêm trọng về người và của, mà nó còn làm suy giảm
nghiêm trọng sức khoẻ của lao động nữ làm việc trong các doanh này, từ đó, gây nguy hại đến cả
những thế hệ do có sự liên quan chặt chẽ giữa sức khoẻ lao động với sức khoẻ sinh sản của bộ
phận lao động đặc biệt này.


nhiều chuyển biến tích cực trong những năm gần đây, nhưng khi xem xét đến đến việc việc thực
hiện cụ thể trong các doanh nghiệp và công tác quản lý nhà nước, có thể thấy công tác đảm bảo
an toàn, vệ sinh lao động đó còn một số điểm tồn tại rõ nét.

Hạn chế của các quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động:
- Chưa được xây dựng theo cơ chế hài hoà lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội, lợi ích của các
bên tham gia quan hệ lao động nên các quy định này đều có đặc điểm là tính khả thi và tác dụng
rất hạn chế
- Nguyên nhân:
+Chính sách với lao động nữ trong Bộ luật Lao động hiện nay dường như là chính sách
về nguồn nhân lực của Nhà nước nhiều hơn là chính sách về việc làm cho người lao động.
+ Các quy định của pháp luật lao động về vấn đề này chưa kết hợp hài hoà lợi ích kinh tế
với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
+ Các chế độ ưu đãi với với doanh nghiệp có sử dụng nhiều lao động nữ còn mang nặng
cơ chế xin – cho, thủ tục hành chính phức tạp, làm nản lòng và gây tâm lý ức chế với các doanh
nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài Nhà nước.
+ Các quy định ưu tiên đối với lao động nữ chưa đặt trong tổng thể các giải pháp kinh tế
– xã hội khác.

Hạn chế về thực tế thực hiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động:
- Tình trạng vi phạm các tiêu chuẩn, quy định về an toàn, vệ sinh lao động trong cấp, các
ngành, ở các doanh nghiệp, ở người sử dụng và lao động và người lao động vẫn diễn ra thường
xuyên và rất phổ biến, với một tỷ lệ khá cao.
- Việc đầu tư cải thiện điều kiện làm việc, việc thực hiện các biện pháp phòng chống tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, phòng chống cháy nổ còn chưa được quan tâm.
- Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về an toàn, vệ sinh lao động chưa được tiến
hành một cách toàn diện và chưa có hiệu quả.
- Khả năng kiểm soát, giám sát công tác an toàn, vệ sinh lao động của các cơ quan chức
năng Nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế.
- Nguyên nhân nảy sinh tình trạng trên xuất hiện từ nhiều phía:

phần đáng kể vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
- Sự phát triển không cân xứng về số lượng, chất lượng của lực lượng lao động nữ so với
yêu cầu của nền sản xuất hiện đại trong quá trình hội nhập
3.1.1 Về mặt chủ quan
- Phải xây dựng các quy định pháp luật theo hướng hoàn thiện các quy định về an toàn,
vệ sinh lao động đối với lao động nữ.
- Cần thể hiện được chính sách ưu tiên của Đảng, Nhà Nước ta với lao động nữ, thể chế
hóa chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, Nhà Nước đối với lao động nữ thành những quy
định của pháp luật chuyên ngành.
3.1.2 Về mặt khách quan
- Cần phải đáp ứng được các yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa
phát triển đất nước.
- Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế quan trọng về bảo vệ phụ nữ nói chung,
lao động nữ nói riêng, về an toàn, vệ sinh lao động, do vậy, các quy định pháp luật trong lĩnh vực
này cũng cần được sửa đổi nhằm phù hợp, cụ thể hóa các cam kết quốc tế của Việt Nam.

3.3. Sửa đổi, bổ sung một số quy định an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ
- Sửa đổi về điều kiện làm việc:
- Sửa đổi về thời giời làm việc
- Sửa đổi về chế độ thai sản:
- Sửa đổi về đào tạo nghề:
- Xây dựng và bổ sung một số tiêu chuẩn an toàn vệ sinh lao động
- Sửa đổi về nguyên tắc, cơ chế thanh tra, xử phạt vi phạm trong lĩnh vực an toàn, vệ
sinh lao động đối với lao động nữ:
- Xây dựng hệ thống quy định, chính sách cụ thể về đầu tư nguồn lực
- Tạo cơ chế, chính sách để tổ chức công đoàn có điều kiện chi trả toàn bộ lương cho
cán bộ làm công tác công đoàn tại các doanh nghiệp.

3.4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối
với lao động nữ

góp phần ổn định chất lượng lao động nữ cũng như giúp đối tượng lao động đặc biệt này thực
hiện được đồng thời vai trò trong gia đình và nhiệm vụ ngoài xã hội. Tuy nhiên, tình trạng vi
phạm các quy định của pháp luật lao động về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ cũng xảy ra
ngày càng phổ biến và có xu hướng gia tăng, gây ảnh hưởng không nhỏ tới xã hội. Điều này đòi
hỏi các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này cần phải tích cực tăng cường công tác kiểm
tra, thanh tra, xử lý các vụ việc vi phạm nhằm xử phạt các đối tượng có hành vi vi phạm quy
định của pháp luật, răn đe, ngăn ngừa các hành vi vi phạm trong tương lai.
Với mong muốn hệ thống các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao
động nữ ngày càng được hoàn thiện hơn nữa, luận văn đã đề xuất một số điểm cần sửa đổi nhằm
phù hợp với tình hình mới, các cam kết quốc tế, đảm bảo sự bình đẳng giới giữa lao động nữ và
lao động nam. Đáng chú ý là đề xuất về sửa đổi bản danh mục các công việc cấm lao động nữ,
về đào tạo nghề cho lao động nữ, về thanh tra, xử phạt trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động
đối với lao động nữ.
Chính vì vậy, luận văn cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật trong thực tiễn, như kiến nghị về đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật, về tổ chức hoạt động của công đoàn và nâng cao năng lực hoạt động quản lý, thanh tra
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc áp dụng pháp luật chỉ thực sự có hiệu quả khi kết hợp
hài hòa, đồng bộ các công tác kể trên cùng với tinh thần trách nhiệm của người sử dụng lao
động, người lao động, của toàn xã hội.
Tin tưởng rằng, cùng với việc hoàn thiện các quy định pháp luật, việc áp dụng pháp luật
sẽ thực sự đạt hiệu quả cao, góp phần nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế, cải thiện điều
kiện làm việc cho lao động nói chung và lao động nữ nói riêng.

References
I. CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ, VĂN BẢN PHÁP LUẬT:

1. Bộ Chính trị (2007), Nghị quyết số 11 – NQ/TW: “Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, ngày 27/4/2007.
2. Bộ LĐ -TB & XH - Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (1998), Thông tư
liên tịch số 03/1998 TTLT- BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ban hành ngày 26/3/1998 hướng

14. Chính phủ (2002), Nghị định số 110/2002/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật lao động sửa đổi về an toàn lao động, vệ sinh lao động, Hà Nội.
15. Chính phủ (2004), Nghị định số 113/2004/NĐ-CP ngày 16/04/2004 quy định xử phạt
hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động, Hà Nội.
16. Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam (1947), Sắc lệnh số 29/SL – Sắc lệnh lao
động.
17. Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc (1976), Tuyên bố về việc xóa bỏ phân biệt đối xử với
phụ nữ (1976) công bố theo Nghị quyết 2263 (XXII) Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ngày
7/11/1976.

18. Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc (1979), Công ước CEDAW (1979) – Công ước về
xoá bỏ tất vả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ. (www.unifem-eseasia.org).
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX –
NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội.
20. Hội đồng Nhà nước (1991), Pháp lệnh Bảo hộ lao động 1991, Hà Nội.
21. Hội đồng Nhà nước (1996), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động,
NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội.
22. ILO (1994), Công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội Hà Nội.
23. Quốc hội (2000), Bộ luật Lao động động nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1994, NXB Tài chính, Hà Nội.
24. Quốc hội (2004), Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa
đổi), NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
25. Quốc hội (2007), Bộ luật Lao động nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đã
được sửa đổi, bổ sung năm 2006), NXB Tài chính, Hà Nội.
26. Quốc hội (2007), Luật bình đẳng Giới, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội.
27. Thủ tướng Chính phủ (1998), Chỉ thị số 13/CT-TTg, ngày 26/3/1998, về việc tăng
cường chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong tình hình xã hội mới, Hà
Nội.
28. Thủ tướng Chính phủ (2004), Chỉ thị 20/2004/CT-TTg, ngày 8/6/2004 – Chỉ thị về việc

(2003), Các mục tiêu phát triển của Việt Nam, NXB Thống kê, Hà Nội .
42. Dự án VIE 01/015/01 “Giới trong chính sách công”; Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của
phụ nữ Việt Nam (2004), Hướng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định và thực thi chính
sách – Hướng tới bình đẳng giới ở Việt Nam thông qua chính sách quốc gia có trách nhiệm
giới, Hà Nội.
43. Dự án VIE/99/MO1/NET (2001), Tài liệu Tập huấn về Bình đẳng giới trong công việc
ở Việt Nam, ILO – Chính phủ Hà Lan và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Hà Nội.
44. Trần Hàn Giang (cb) (2001), Nữ công nhân trong khu vực công nghiệp ngoài quốc
doanh và dịch vụ trợ giúp pháp lý ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
45. Vũ Thu Giang, Trần Thị Thu (1999), Lao động nữ trong khu vực phi chính thức ở Hà
Nội: thực trạng và sự lựa chọn, NXB Thống Kê, Hà Nội.
46. Học viện Hành chính Quốc gia, Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người, 1998 (1999),
Các văn kiện quốc tế về quyền con người, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
47. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế Thuỵ Điển (1999),
Một số luật và Công ước Quốc tế liên quan đến quyền Phụ nữ và Trẻ em, NXB Phụ nữ, Hà
Nội.
48. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Báo Nhân dân; Bộ Khoa học và Cộng nghệ; Liên hiệp
các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (2003), Phụ nữ Việt Nam với kinh tế tri thức - Kỷ
yếu Hội thảo khoa học, Hà Nội.
49. ILO ( 2006), Báo cáo đánh giá giữa kỳ Dự án Tăng cường năng lực an toàn và Vệ sinh
lao động trong nông nghiệp tại Việt Nam, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội.
50. ILO( 2004), Bình đẳng giới và Việc làm đàng hoàng – Các điển hình tại nơi làm việc,
Văn phòng Bình đẳng Giới.
51. ILO Việt Nam – MOLISA Việt Nam (2003), Bình đẳng trong lao động và Bảo trợ Xã
hội cho Phụ nữ và Nam giới ở khu vực kinh tế Chính thức và Không chính thức: Những
phát hiện phục vụ xây dựng chính sách, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội .
52. Đỗ Năng Khánh (2000), Thất nghiệp và việc xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Chuyên ngành Luật
Kinh tế 1997 – 2000, Trường Đại học Luật Hà Nội
53. MOLISA – ILO (2000), Việc làm và bảo đảm xã hội tốt hơn cho lao động nữ trong quá

66. Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam (2000), Phân tích thực trạng và
các khuyến nghị chính sách nhằm tăng cường tiến bộ của phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng
giới ở Việt Nam
67. Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam (2000), Khuôn khổ hội nhập phụ
nữ trong APEC, NXB Phụ nữ, Hà Nội.
68. Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam (1997), Việt Nam với các vấn đề
của hội nghị Bắc Kinh, Hội nghị thế giới lần thứ IV, Bắc Kinh – Trung Quốc: “Hành động
vì Bình đẳng – Phát triển – Hoà bình”.
69. Uỷ ban Vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam (2001), Văn kiện của khoá họp đặc biệt lần
thứ 23 của Đại hội đồng: “Phụ nữ năm 2000 Bình đẳng giới, phát triển và hoá bình cho thế
kỷ XXI” và thành tựu của các quốc gia trên thế giới, Hà Nội 9/2001.
70. Uỷ ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc
(UNDP), Đại Sứ quán Vương quốc Hà Lan (2005), Một số vấn đề nổi lên trong quá trình
tham gia hội nhập kinh tế ở Việt Nam – Tóm tắt quá trình nghiên cứu thực tiễn và nghiên
cứu thứ cấp do Công ty tư vấn kinh tế Mê Công thực hiện trong khuôn khổ dự án VIE
01/015/01 “Giới trong chính sách công”, Hà Nội.
71. Văn phòng Lao động Quốc tế tại Giơnevơ (1998), Tiêu chuẩn lao động quốc tế về lao
động nữ: Bộ tài liệu tập huấn, Tập 1 – 2 .
72. Viện Công nhân Công đoàn Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam (1997), Những tác
động của chính sách kinh tế đối với điều kiện lao động và xã hội của lao động nữ và những
cơ sở để đại diện cho quyền lợi của người lao động, Hà Nội.
73. Viện Chủ nghĩa Xã hội Khoa học, Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác- Lênin và Tư
tưởng Hồ Chí Minh (1993), Một số vấn đề về Chính sách xã hội ở nước ta hiện nay, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
74. Viện Nghiên cứu Quyền con người (2008), Bình luận và khuyến nghị chung của các uỷ
ban Công ước thuộc Liên Hợp Quốc về quyền con người, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội.
75. Viện Khoa học Lao động & Xã hội (2007), Chuyên đề Lao động nữ và Giới, số 11: Lao
động nữ Việt Nam 2000-2005 hiện trạng và xu hướng (Chuyên đề chúc mừng 29 năm Viện
Khoa học Lao động & Xã hội), tháng 3 năm 2007.
76. Viện Khoa học Lao động và Các vấn đề Xã hội - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội

91. Phạm Công Trứ (1998), “Một số vấn đề lý luận về quan hệ lao động và sự điều chỉnh
pháp luật quan hệ lao động, - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (6/1998) trang 15 - 24 .
92. Nguyễn Tiến Tùng (Thanh tra Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội): “Tình hình tai
nạn lao động năm 2006 và những giải pháp phòng ngừa” , http://www.molisa.gov.vn ngày
22/7/2007.
93. Phạm Thanh Vân, “Thực trạng thi hành chính sách pháp luật đối với lao động nữ trong
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật ( 4/2002), trang 57 –
64.

94. http://irv.moi.gov.vn
95. http://www.antoanlaodong.gov.vn
96. http://www.dddn.com.vn
97. http://www.gso.gov.vn
98. http://www.hca.org.vn
99. http://www.moc.gov.vn
100. http://www.mof.gov.vn http://www.molisa.gov.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status