Một số vấn đề về quyền của người phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam - Pdf 26

MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU………………………………………..………………….1
B. NỘI DUNG………………………………………………………………1
I. Lí luận chung……………………………………………………………1
1. Khái niệm về quyền con người…………………………………………..1
2. Khái quát chung về quyền của người phụ nữ trong pháp luật
phong kiến………………………………………………………………………2
II. Quyền của người phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam…….3
1. Nội dung những quyền của người phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt
Nam…………………………………………………………………………….3
1.1 Quyền của người phụ nữ trong Bộ Luật Hồng
Đức……………………..3
1.2 Quyền của người phụ nữ trong Bộ Luật Gia
Long………………………5
2. Đánh giá những quy định về quyên của người phụ nữ trong pháp luật
phong kiên Việt Nam…………………………………………………………10
2.1 Pháp luật phong kiến Việt Nam đã bước đầu ghi nhận và bảo vệ quyền lợi
của người phụ nữ ……………………………………………………………...10
2.2 Tuy nhiên những quy định về quyền lợi của người phụ nữ trong pháp luật
phong kiến Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế…………………………………12
2.2.1 Pháp luật phong kiến vẫn thừa nhận sự bất bình đẳng giữa nam giới và
phụ
nữ………………………………………………………………………………12
2.2.2 Nhiều quyền lợi của người phụ nữ trong pháp luật phong kiến vẫn chưa
được quy định thích đáng………………………………………………………14
C. KẾT LUẬN…………………………………………………………….15
1
A.LỜI MỞ ĐẦU
Trong xã hội loài người vẫn tồn tại ba hình thức bất bình đẳng chủ yếu mà
Mác và Ăng- ghen đã từng xác định, đó là bất bình đẳng về chủng tộc, giai cấp
và giới. Xét riêng về bất bình đẳng giới, ở hầu hết các xã hội trên thế giới, sự

thương nhất, cần phải được quan tâm, bảo vệ một cách đặc biệt.
2. Khái quát chung về quyền lợi của người phụ nữ trong pháp luật phong
kiến Việt Nam.
Là một yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc, pháp luật không chỉ chịu ảnh
hưởng bởi cơ sở hạ tầng, mà bên cạnh đó pháp luật còn chịu sự chi phối của các
yếu tố tâm lí, xã hội, phong tục tập quán, truyền thống…
Pháp luật Việt Nam cũng chịu sự phản ánh rõ nét của quy luật này. Bởi
vậy qua mỗi thời kì phát triển của xã hội pháp luật Việt Nam đều mang những
nét sắc thái riêng khi đề cập đến vấn đề bình đẳng nam nữ. Song điểm chung nó
vẫn thể hiện những điểm độc đáo mang đậm nét Việt Nam.
Trong chế độ phong kiến, pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề bởi
tư tưởng Nho giáo, nên địa vị của người phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào nam
giới. Sự bất bình đẳng được thể hiện trước tiên chính là sự phân biệt đối xử giữa
con trai và con gái trong gia đình. Với quan niệm cần phải có con trai để nối dõi
tông đường nên xã hội phong kiến cho rằng “ nhất nam viết hữu, thập nữ viết
vô”. Quan điểm này chính là khởi điểm cho sự bất bình đẳng mà phụ nữ ở chế
độ phong kiến phải gánh chịu. Tư tưởng đó là tư tưởng chủ đạo, căn bản của xã
hội phong kiến. Nguyên tắc bất bình đẳng nam nữ đã trở thành tư tưởng chỉ đạo
trong cả hai văn bản pháp luật được đánh giá là thành tựu lập pháp của Nhà
3
nước phong kiến Việt Nam là Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long. Bộ luật
Hồng Đức được ban hành dưới thời Lê – thế kỉ XV. Đây có thể coi là thời kì
hưng thịnh nhất của phong kiến Việt Nam nói chung và của nhà Lê nói riêng.
Bởi vậy Bộ luật Hồng Đức cũng thể hiện nhiều điểm khá tiến bộ trong việc bảo
vệ quyền phụ nữ. Còn Bộ luật Gia Long quy được ban hành sau nhưng bộ luật
này không kế thừa được những điểm tiến bộ của Bộ luật Hồng Đức mà về mặt
nội dung dường như sao chép luật Đại Thanh. Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy
là, mặc dù trong cả hai bộ luật này đã có những quy định tiến bộ về việc xác lập
vị thế tương đối bình đẳng giữa vợ và chồng nhưng các quy phạm ghi nhận
quyền phụ nữ còn tương đối ít, và đặc biệt là đều được ghi nhận trên nguyên tắc

vợ, chồng tạo nên trong thời kỳ hôn nhân. Khi người chồng chết, người vợ được
xếp vào hàng thừa kế thứ nhất và có quyền giữ nguyên quyền sở hữu cá nhân đối
với tài sản riêng của mình và 1/2 số tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn
nhân. (Quyền được sở hữu tài sản riêng, quyền đồng sở hữu đối với tài sản
chung của hai vợ chồng).
- Trong gia đình, quyền được chia gia tài của con gái cũng ngang bằng với
con trai (Điều 388); Không có con trai cũng không có nghĩa là không có người
thừa tự, vì Điều 391 quy định: trong trường hợp gia đình không có con trai thì
con gái cũng có quyền thừa kế hương hoả.
- Trong một số trường hợp cụ thể, quyền lợi của người phụ nữ cũng được
ưu tiên bảo vệ như: khi đã đính hôn nhưng người con trai chẳng may bị ác tật,
phạm tội hay phá sản thì người con gái vẫn có quyền khước từ trả lại đồ sính lễ,
người con trai không có quyền đòi lại của; cưỡng ép phụ nữ kết hôn cũng là có
tội (điều 320); đặc biệt bộ luật quy định xử rất nặng đối với tội xâm phạm thân
thể tiết hạnh của người phụ nữ như kẻ nào “hiếp dâm” thì xử lưu hay chết phải
nộp tiền tạ tội hơn một bậc đối với tiền tạ tội gian dâm thường, Nếu gây thương
tích cho người đàn bà thì xử nặng hơn một bậc đánh người bị thương, Nếu làm
chết người đàn bà thì điền sản kẻ phạm tội phải giao cho nhà người bị chết (điều
403); “gian dâm với con gái nhỏ 12 tuổi trở xuống, dù nó thuận tình thì vẫn xử
5
như tội hiếp dâm” (điều 404). Phụ nữ đang mà phạm tội thì cũng được giảm nhẹ
hơn so với nam giới (điểu 429).
Có thể nhận thấy rằng Bộ luật Hồng Đức được đánh giá là một trong
những bộ luật có nhiều tiến bộ về người phụ nữ so với các bộ luật khác trong
cùng giai đoạn. Nhìn một cách tổng thể thì người phụ nữ vẫn đứng ở thế yếu và
nấp sau “cái bóng” của người nam giới. Trong nhiều điều luật thì người phụ nữ
vẫn chịu nhiều thiệt thòi so với nam giới như bộ luật vẫn thừa nhận chế độ đa
thê,…Tuy nhiên, điều phải nhấn mạnh ở đâychính là những điểm sáng về quyền
của người phụ nữ trong một số vấn đề của gia đình, về việc sở hữu và phân chia
tài sản. Điều này cho thấy rằng ngay cả trong giai đoạn xã hội phong kiến Nho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status