Luận văn: Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014 - Pdf 30

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
LUẬN VĂN:
BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG QUAN HỆ NHÂN
THÂN GIỮA VỢ VÀ CHONG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
NĂM 2014
Hà Nội, năm 2014
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 được ban hành là cơ sở trong việc xây
dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn
mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy
truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Xuất phát từ mục đích của
việc xác lập quan hệ vợ chồng là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng,
tiến bộ, hạnh phúc và bên vững, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 khi điều
chỉnh các quan hệ giữa vợ và chồng đã dựa trên nguyên tắc tiến bộ, bình đẳng
điều đó được thể hiện rõ nét trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng.
Bảo vệ quyền của người người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và
chồng là một vấn đề rất cơ bản nhưng chưa được nghiên cứu một cách chuyên
sâu, thấu đáo đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay đang có những
chuyển biến phức tạp, quyền nhân thân của người phụ nữ trong quan hệ giữa vợ
và chồng đang ngày càng bị xâm phạm dưới nhiều hình thức và mức độ khác
nhau, chẳng hạn như nạn bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần…
Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng
không chỉ thể hiện ở việc ghi nhận những quyền nhân thân của họ trong pháp
luật mà phải đảm đảm cho những quyền đó được trở thành hiện thực trên thực
tế, điều đó đòi hỏi một cơ chế đồng bộ từ việc xây dựng pháp luật đến các biện
pháp thực hiện ở mọi cấp, mọi nghành. Chỉ khi nào bảo vệ tốt quyền của người
phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng thì việc đảm bảo bình đẳng
giới mới trở thành hiện thực.

đình năm 2014 trong đó có xem xét dưới góc độ bình đẳng giới. Từ đó, tìm ra
một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này và nâng
cao hơn nữa vấn đề bảo vệ quyền người phụ nữ trong quan hệ giữa vợ và chồng.
- Nhiệm vụ của luận văn
+ Tìm hiểu cơ sở lý luận về quyền của người phụ nữ và bảo vệ quyền của
người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng
+ Tìm hiểu thực trạng về vấn đề bảo vệ quyền của người phụ nữ trong
quan hệ nhân thân giữa vợ với chồng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
3
+ Đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện quy định của pháp
luật về bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ với
chồng.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Với đề tài “Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ
và chồng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014” tác giả tập trung nghiên
cứu, phân tích bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ với tư cách là người vợ trong
quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014. Vì vậy, quyền của người phụ nữ trong phạm vi này được nghiên
cứu với tư cách cách người phụ nữ là người vợ trong quan hệ hôn nhân hợp
pháp mà không nghiên cứu quyền của người phụ nữ với tư cách là người mẹ,
người chị trong gia đình, trong các mối quan hệ khác.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để đảm bảo quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và
chồng trong quá trình nghiên cứu luật văn đã sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu như sau:
- Phương pháp luận nghiên cứu luận văn là chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ
nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng của Đảng và
Nhà nước về pháp luật
- Luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích,
so sánh, thống kê, tổng hợp.

1.1.1. Quyền của người phụ nữ
Theo nghĩa thông thường thì quyền được hiểu là điều mà pháp luật hoặc
xã hội công nhận cho họ được hưởng, được làm, được đòi hỏi. Để tiếp cận khái
niệm về quyền của người phụ nữ chúng ta cần thiết nghiên cứu và tìm hiểu khái
niệm về quyền con người và khái niệm về bình đẳng giới.
1.1.1.1. Khái niệm về quyền con người
Quyền con người là một phạm trù đa diện, do đó đã có nhiều định nghĩa
khác nhau về quyền con người (theo một tài liệu của Liên hợp quốc, có đến gần
50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố) (19). Tuy nhiên, trong các
văn bản pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia, chưa có một định nghĩa
chính thức về quyền con người mà mỗi định nghĩa tiếp cận dưới những góc độ
nhất định và khác nhau.
Ở cấp độ quốc tế, theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc
thì “Quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu, có tác dụng bảo vệ
các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm
tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”
(20).
Ở Việt Nam, quyền con người được hiểu là “những nhu cầu, lợi ích tự
nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong
pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp luật quốc tế” (21)
Theo quan điểm của chúng tôi, quyền con người vừa mang quyền tự
nhiên vừa mang quyền pháp lý. Quyền con người là quyền tự nhiên được hiểu là
những quyền khi sinh ra họ đã có, mà người khác phải tôn trọng, “mọi người
sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm
6
được” (Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948). Quyền con người
là quyền pháp lý tức là quyền con người được pháp điển hóa, được ghi nhận
bằng pháp luật, được cộng đồng tôn trọng và bảo đảm thực hiện.
Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng
được xác định như là những chuẩn mực được thừa nhận, những chuẩn mực này

đặc điểm riêng của nữ giới, được điều chỉnh bởi các chính sách đối với phụ nữ
một cách hợp lý. Hay nói cách khác, bình đẳng giới là sự thừa nhận và thiết lập
các cơ hội ngang nhau đối với nữ và nam trong xã hội, có tính đến các đặc thù
về giới.
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý thì bình đẳng giới là một dạng của bình
đẳng xã hội nói chung, nó cũng cần có sự điều chỉnh của pháp luật, nhằm thiết
lập sự bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ. Theo Điều 5 khoản 3 Luật Bình đẳng
giới, bình đẳng giới được hiểu là “là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau,
được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của
cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển
đó”
Trên cơ sở khái niệm về quyền con người và bình đẳng giới chúng ta nhận
thấy rằng người phụ nữ có các quyền như nam giới và họ được hưởng tất cả
những quyền mà pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, dưới góc độ tiếp cận
đặc thù về giới của người phụ nữ đó là đặc điểm sinh học và truyền giống của
người phụ nữ khác đàn ông là phải thực hiện chức năng sinh nở, thực hiện chức
năng làm vợ, làm mẹ. Ngoài ra, về đặc điểm thể chất người phụ nữ thường có
sức khỏe và sự chịu đựng kém hơn đàn ông. Do vậy, với những đặc thù như vậy
quyền của người phụ nữ cần được thừa nhận và cần được đảm bảo với nội dung
của bình đẳng giới. Với mục tiêu “xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội
như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế- xã hội và phát triển nguồn
nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, cũng cố
quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
và gia đình” (Điều 4 Luật bình đẳng giới). Nội dung về quyền bình đẳng giới
của người phụ nữ bao gồm nhiều lĩnh vực như về kinh tế, tài chính, xã hội…
Tuy nhiên, nhìn nhận dưới khía cạnh quyền nhân thân của người phụ nữ trong
quan hệ giữa vợ và chồng thì quyền bình đẳng giới của người phụ nữ mang
những nội dung theo quy định tại Điều 18 Luật Bình đẳng giới năm 2006 như
sau:
“1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác

a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng,
nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;
9
b) Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo
vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này.
Ví dụ, trường hợp người chồng có hành vi đánh đập người vợ thường
xuyên, gây ảnh hưởng sức khỏe và tinh thần người vợ. Trong trường hợp này
người vợ có quyền yêu cầu Hội Phụ nữ can thiệp để đảm bảo quyền và lợi ích
của người mình.
Mặt khác, do phụ nữ là phái yếu nên bảo vệ quyền phụ nữ cần được xem
xét và ghi nhận dựa trên cơ sở của những yếu tố đặc thù về giới, nghĩa là pháp
luật phải ghi nhận quyền phụ nữ dựa trên cơ sở của vấn đề bình đẳng giới. Việc
bảo vệ quyền của người phụ nữ hiện nay đã được ghi nhận trong Hiến pháp và
các văn bản liên quan.
Nội dung bảo vệ quyền của người phụ nữ được thể hiện toàn diện trên
mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, lao động, việc làm, giáo dục, văn hóa, hôn nhân
- gia đình….được pháp luật ghi nhận và bảo hộ trong toàn bộ hệ thống pháp luật
Việt Nam. Trong Hiến pháp vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ luôn được thể hiện
nhất quán, quyền bình đẳng của phụ nữ ngày càng được quy định mở rộng và
hoàn thiện hơn qua các bản Hiến pháp. Quy định tại Hiến pháp về bảo vệ quyền
của người phụ nữ chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc ban hành một loạt
các văn bản pháp luật về quyền của người phụ nữ như Bộ luật dân sự, Bộ luật
hình sự, Bộ luật lao động, Luật hôn nhân và gia đình, Luật bình đẳng giới 2006,
Luật phòng chống bạo lực gia đình 2007…Các văn bản pháp luật quy định hệ
thống các quy phạm pháp luật về quyền của phụ nữ, các thể chế thực hiện các
quyền đó cũng như hệ thống các biện pháp chế tài xử lý các hành vi vi phạm
quyền của người phụ nữ.
Như vậy, bảo vệ quyền của người phụ nữ được hiểu là: hệ thống các biện
pháp, cách thức được pháp luật quy định nhằm bảo đảm việc thực thi đầy đủ,
có hiệu quả các quyền con người của phụ nữ trên thực tế cũng như xử lý kịp

Ví dụ: Quyền công bố, phổ biến tác phẩm của tác giả, khi tác giả chết thì
quyền này có thể chuyển giao cho chủ thể khác hay các quyền khác về tinh thần
của tác giả đối với tác phẩm như quyền được tôn trọng tác phẩm.
11
Hoặc các quyền nhân thân gắn liền với tài sản có thể được phép chuyển
giao
Thứ hai: Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản
Nếu như nhắc đến quyền tài sản thì chúng ta sẽ nghĩ ngay đến tính chất
tài sản, nó được xác định bằng một giá trị vật chất nhất định, theo nguyên tắc
đền bù ngang giá nhưng khi nhắc đến quyền nhân thân là chúng ta sẽ nhắc đến
tính chất phi tài sản. Vì, xét về bản chất thì quyền nhân thân không bao giờ là
tài sản, chỉ có quyền nhân thân gắn với tài sản hoặc không gắn với tài sản và đối
tượng nó là những giá trị tinh thần – là các giá trị phi tài sản. Do đó, quyền nhân
thân và tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương, không thể trao đổi
ngang giá. Từ đó quyết định việc: Quyền nhân thân không thể bị định đoạt hay
đem ra chuyển nhượng cho người khác.
Ví dụ: Một chủ nợ không thể kê biên quyền nhân thân của con nợ vì quan hệ nhân
thân không thể cụ thể hóa thành tài sản, tiền tệ là điều không thể.
Thứ ba: Hành vi xâm phạm quyền nhân thân không nhất thiết phải gây ra thiệt hại
Một hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân thì có thể gây ra thiệt hại
hoặc không gây ra thiệt hại. Điều đó có nghĩa là thiệt hại không phải căn cứ bắt
buộc để xác định trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi xâm phạm. Trên thực
tế, ngay cả trong trường hợp bị xâm phạm quyền nhân thân không những là
không gây thiệt hại gì cho người bị xâm phạm mà thậm chí còn có lợi cho họ.
Nhưng về nguyên tắc nếu không có sự đồng ý của cá nhân đó thì đều coi là
hành vi vi phạm.
Ví dụ: Một nhiếp ảnh gia sử dụng một bức ảnh một cô nữ sinh trong tà áo dài
truyền thống để dự thi triển lãm ảnh quốc tế mà không có sự đồng ý của cô gái. Trong
trường hợp nhiếp ảnh gia đó được giải thưởng, cô giái đó sẽ được nhiều người biết đến và
ngưỡng mộ với vẻ đẹp á đông của mình. Xong hành vi sử dụng hình ảnh mà chưa xin phép

Sự kiện kết hôn làm phát sinh quan hệ phát luật giữa vợ và chồng. Nội
dung của quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ về
nhân thân và tài sản, trong đó quyền và nghĩa vụ về nhân thân đóng vai trò quan
trọng trong đời sống vợ chồng, là cơ sở đảm bảo cho gia đình thực hiện tốt chức
năng xã hội.
Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng
là một nội dung quan trọng tạo cơ sở để thực hiện quyền bình đẳng giữa vợ và
chồng.
13
Từ khái niệm bảo vệ quyền của người phụ nữ ta có thể hiểu bảo vệ quyền
của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng là : Việc pháp luật
ghi nhận quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân với người chồng và
bảo đảm cho các quyền này được thực hiện đầy đủ trong thực tế cũng như xử lý
mọi hành vi vi phạm quyền nhân thân của người phụ nữ trong quan hệ hôn nhân.
Theo đó, các quyền nhân thân của người phụ nữ cần được bảo vệ như quyền
được yêu thương, chăm sóc; quyền thực hiện chính sách dân số; quyền đại diện;
quyền được lựa chọn nơi cư trú…
Từ khái niệm trên đây rút ra được một số đặc điểm, tính chất của các quyền nhân
thân của người phụ nữ đó là:
- Về đặc điểm quyền nhân thân của người phụ nữ mang đặc điểm là không thể
chuyển giao cho người khác. Đặc điểm trên xuất phát từ những đặc trưng của
quyền nhân thân. Theo đó, quyền nhân thân của người phụ nữ không thể chuyển
giao cho người khác. Các quyền nhân thân giữa vợ và chồng như quyền yêu
thương, chung thủy; quyền thực hiện kế hoạch hóa gia đình….là những quyền
gắn liền với quan hệ vợ chồng được phát sinh trên cơ sở hôn nhân hợp pháp, liên
quan đến lợi ích tinh thần của vợ chồng nên các quyền nhân thân trên không thể
chuyển giao cho người khác.
- Về tính chất quyền nhân thân của người phụ nữ mang tính chất phi tài sản
Dựa trên tính chất của quyền nhân thân nên các quyền nhân thân của người phụ
nữ mang tính chất phi tài sản. Có nghĩa là, các quyền nhân thân này không định

chồng góp phần xóa bỏ tư tưởng gia trưởng - phong kiến, quyền áp đặt của
người chồng trong quan hệ nhân thân với người vợ. Trong quan hệ nhân thân
với người chồng, người vợ cần đảm bảo các quyền bình đẳng, dân chủ với
người chồng trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của gia đình.
- Bảo vệ quyền nhân thân của người phụ nữ là cơ sở cho việc phòng chống
bạo lực gia đình cũng như để đảm bảo bình đẳng về giới thực chất giữa vợ và
chồng trên thực tế.
- Bảo vệ quyền nhân thân của người phụ nữ có tác động to lớn trong việc
nâng cao vị thế, vai trò của người vợ trong gia đình và xã hội.
Ví dụ, Người phụ nữ sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận với tri thức, khoa học,
được mở rộng tầm hiểu biết, góp phần sức lực và trí tuệ để làm giàu nhiều hơn
cho gia đình và xã hội.
15
- Ý nghĩa quan trọng của việc bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan
hệ nhân thân của vợ và chồng thể hiện ở việc xử lý kịp thời các hành vi vi phạm
quyền nhân thân của người vợ, qua đó có thể khắc phục thiệt hại đối với người
phụ nữ và răn đe đối với những cá nhân liên quan nhằm đảm bảo lợi ích chính
đáng quyền nhân thân của người vợ trên thực tế.
- Mặt khác, việc pháp luật công nhận và bảo vệ quyền của người phụ nữ về
nhân thân đảm bảo sự tương đồng hài hòa với pháp luật quốc tế và xu hướng
tiến bộ của nhân loại trong việc bảo đảm quyền của người phụ nữ. Điều đó phù
hợp với những cam kết của Việt Nam với các điều ước quốc tế ký kết như:
Công ước ILO, Công ước CEDAW…
1.2. Sự phát triển của quy định về quyền của người phụ nữ và bảo vệ
quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng ở Việt
Nam
1.2.1. Quyền của phụ nữ trong pháp luật Việt Nam trước cách mạng Tháng
Tám năm 1945
Là một yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, pháp luật không chỉ chịu chi
phối của cơ sở hạ tầng sinh ra nó, mà bên cạnh đó pháp luật còn chịu ảnh hưởng

cạnh đó cũng có những nét riêng ít nhiều bảo vệ quyền nhân thân của người phụ
nữ như “Phàm người chồng bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại (vợ được trình lên
quan sở tại và xã quan làm chứng) thì mất vợ. Nếu vợ đã có con thì cho hạn 1
năm. Vì việc quan phải đi xa không theo luật này” (Điều 308 Bộ Luật Hồng
Đức). Ngoài ra, Bộ Luật Hồng Đức cũng quy định xử nặng đối với trường hợp
xâm phạm thân thể của người phụ nữ. Điều 404 nếu “người chồng đánh vợ bị
thương thì xử như tội đánh người bị thương nhưng nhẹ hơn 3 bậc” hay trong
Điều 309 buộc người chồng phải tôn trọng thứ bậc của người vợ trong gia đình
“Ai lấy nàng hầu lên làm vợ thì xử tội phạt, vì quá say đắm nàng hầu mà thờ ơ
với vợ thì xử tội biếm”. Sau này, nhà làm luật triều Nguyễn soạn trong Hội điển
điều tương tự: “Phàm kẻ nào đem vợ cả làm vợ lẽ phải phạt 100 trượng. Vợ cả
còn sống mà đem vợ lẽ làm vợ cả, phải phạt 90 trượng”. Quy định này thể hiện
nét nhân văn sâu sắc của Bộ Luật Hồng Đức trong việc bảo vệ người phụ nữ.
* Quyền nhân thân của người vợ xét trong mối quan hệ với các con.
17
Theo lễ giáo phong kiến thì người chồng là người chủ gia đình (người gia
trưởng) và trong mối quan hệ với các con về thực chất người chồng chiếm ưu
thế hơn người vợ, mọi quyết định trong gia đình đều trên cơ sở ý kiến của người
gia trưởng (người chồng, người cha trong gia đình). Vì thế, về cơ bản pháp luật
vẫn thể hiện sự phân biệt đối xử đối với người phụ nữ sinh ra là để làm “việc
nhà” và phải có nghĩa vụ nuôi dạy con cái, và dường như nghĩa vụ nuôi dạy con
cái chỉ là nghĩa vụ từ phía của người phụ nữ. Chính vì thế, trong mối quan hệ
đối với các con, quyền của người phụ nữ được thể hiện trong trường hợp khi ly
hôn, con cái thường thuộc về chồng, nhưng nếu muốn giữ con, người vợ có
quyền đòi chia một nữ số con. Quy định này góp phần đảm bảo cho người phụ
nữ được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, được thực hiện chức năng cao cả
của mình.
* Quyền xin ly hôn của vợ, chồng.
Có thể nói, các quy định của pháp luật phong kiến liên quan đến quyền ly
hôn của vợ chồng phần nào bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong trường

quyền của người phụ nữ đó là việc ghi nhận các duyên cớ mà theo đó người vợ
có thể xin ly hôn người chồng, đem đến cho người phụ nữ sự bình đẳng nhất
định so với người chồng
+ Chồng không làm những nghĩa vụ đã cam kết khi kết hôn là phải nuôi dưỡng
con tùy theo kế sinh nhai;
+ Chồng bỏ nhà đi quá hai năm không có lý do chính đáng và không lo liệu
việc nuôi nấng con cái;
+ Không có lý do chính đáng mà chồng đuổi vợ con ra khỏi nhà ( Đ118 Bộ luật
Trung Kì 1936)
Xét ở một khía cạnh nhất định, những quy định này bắt đầu thể hiện việc
“cởi trói” cho người phụ nữ, đặc biệt là trong các quy định về duyên cớ ly hôn,
lỗi của phía người chồng đều là những căn cứ để một trong hai bên được ly hôn.
Tuy nhiên, dưới ảnh dưởng của các quy định này đã bị hạn chế nhiều về
cơ bản chế độ đa thê vẫn được thừa nhận. Người đàn ông vẫn là “người nắm
quyền hành xử”, người phụ nữ trong gia đình vẫn chỉ là cái bóng của người
chồng.
19
1.2.2. Quyền phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam từ
cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay
1.2.2.1. Quyền phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình giai đoạn từ
1945 đến 1954.
Cách mạng Tháng tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa ra đời, chấm dứt sự tồn tại của Nhà nước phong kiến thực dân. Ngày
9/11/1946, bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta được thông qua. Hiến pháp
1946 khẳng định vị thế của một Nhà nước độc lập với bạn bè quốc tế. Bản Hiến
pháp này đã mở ra một thời kì mới cho người phụ nữ được bình đẳng trước
pháp luật, Điều 9 Hiến pháp quy định “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi
phương diện”. Tuy nhiên, vào thời điểm này chúng ta chưa xây dựng được một
văn bản pháp luật hôn nhân và gia đình hoàn chỉnh, thể chế hóa một cách đầy
đủ và toàn diện nội dung về bảo đảm quyền bình đẳng của người phụ nữ. Trong

“ưu tiên” cho người phụ nữ trên cơ sở xem xét những đặc thù về giới: Điều 5
quy định “Nếu người vợ có thai thì vợ hay chồng có thể xin toà hoãn đến sau kỳ
sinh nở mới xử việc ly hôn”. Từ quy định trên cho thấy, người phụ nữ xin hoãn
ly thân khi đang mang thai và được chấp nhận lại là điều kiện tốt để bảo vệ bà
mẹ và thai nhi.
Như vậy, mặc dù chưa thực sự đầy đủ song ở giai đoạn này pháp luật của
nhà nước Việt Nam đã dành cho người phụ nữ một sự quan tâm đặc biệt ấy
chính là việc bảo vệ quyền phụ nữ nói chung và bảo vệ quyền nhân thân của
người phụ nữ nói riêng bằng pháp luật. Đây là những bước đột phá quan trọng
của cuộc cách mạng, làm thay đổi địa vị của người phụ nữ đặt họ vào vị trí
ngang hàng với người đàn ông, người chồng. Các quy phạm pháp luật này đã đi
sâu vào thực tế cuộc sống, người phụ nữ đã khẳng định mình trong các phong
trào đấu tranh của dân tộc, người phụ nữ tiên phong trong việc xây dựng nếp
sống mới, tham gia lao động, sản xuất và các công việc khác trong xã hội. Đây
chính là chỗ đứng bình đẳng của người phụ nữ trong cuộc sống.
1.2.2.2. Quyền phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam giai
đoạn từ 1954 đến 1975
21
Năm 1954, sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, miền Bắc hoàn toàn
độc lập còn miền Nam tạm thời nằm dưới ách cai trị của đế quốc Mỹ và bè lũ
tay sai. Miền Bắc cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là thực hiện
cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam
tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, đấu tranh thống nhất nước nhà.
Ở miền Bắc, năm 1957, cuộc cải cách ruộng đất đã căn bản hoàn thành,
quan hệ sản xuất phong kiến - cơ sở của chế độ hôn nhân và gia đình phong
kiến đã bị xóa bỏ. Bước đầu, Nhà nước ta đã tiến hành xây dựng cơ sở vật chất
của chế độ xã hội chủ nghĩa, xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Phương
thức sản xuất xã hội chủ nghĩa dần dần được xác lập, không chỉ là tiền đề cho
chúng ta xây dựng hệ thống pháp luật mới mà còn tạo cơ sở vững chắc để quy
định bình đẳng nam nữ được đi vào thực tế. Hiến pháp 1959 được ban hành và

mới yên, đất nước mới thanh bình.
Ở miền Nam, sau năm 1954, đế quốc Mỹ đã thay chân thực dân Pháp
thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, tiến hành cuộc chiến tranh xâm
lược kiểu mới. Chính quyền Sài Gòn đã xây dựng một hệ thống pháp luật riêng
để cũng cố và duy trì địa vị thống trị. Các văn bản điều chỉnh vấn đề HN&GĐ
như : Luật Gia đình ngày 02 tháng 01 năm 1959 của chính quyền Ngô Đình
Diệm; Sắc lệnh số 15/64 ngày 23 tháng 7 năm 1964 của chính quyền Nguyễn
Khánh; Bộ Dân luật ngày 20 tháng 12 năm 1972 của chính quyền Nguyễn Văn
Thiệu. Nhìn chung, các văn bản pháp luật này vẫn bảo vệ quyền gia trưởng,
phân biệt đối xử, bất bình đẳng giới giữa vợ và chồng nhưng ta có thể thấy được
những điểm tiến bộ trong việc bảo vệ quyền phụ nữ trong quan hệ nhân thân
giữa vợ và chồng trong hệ thống các văn bản trên như sau:
+ Luật gia đình ngày 2/1/1959 (Luật số 1- 59) của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Luật số 1-59 ban hành ngày 02 tháng 01 năm 1959 gồm 135 điều quy
định về hôn nhân và gia đình. Đây là lần đầu tiên trong nền pháp chế thành văn
Việt Nam về hôn nhân bãi bỏ chế độ một chồng nhiều vợ “Chế độ đa thê từ nay
bị bãi bỏ hẳn” . Quy định thể hiện sự tiến bộ đáng kể trong việc đảm bảo chế độ
hôn nhân một vợ một chồng. Ngoài ra, các quy định xử phạt hình sự đối với
hành vi ruồng bỏ như hành vi ruồng bỏ vợ hay chồng (không lý do chính đáng
mà không chịu nhận người chồng hay vợ tại chỗ ở hôn nhân), có thể bị phạt tiền
hay phạt giam tới 1 năm. Quy định trên phần nào hạn chế hành vi xúc phạm,
ruồng bỏ từ phía người chồng đối với người vợ trong đời sống hôn nhân gia
đình.
+ Sắc lệnh số 15/64 ngày 23/7/1964 về giá thú, tử hệ và tài sản công cộng của
chính quyền Nguyễn Khánh
Những quy định về các trường hợp được ly hôn trong sắc lệnh số 15/64
của chính quyền Nguyễn Khánh đó là: Vì sự ngoại tình của người phối ngẫu; Vì
23
sự phối ngẫu bị kết án trọng hình về thường tội; Sự ngược đãi, bạo hành hay
ngục mạ, có tính chất thâm từ và thường xuyên làm cho vợ chồng không thể

1. Vì sự ngoại tình của người phối ngẫu;
2. Vì người phối ngẫu bị kết án trọng hình về thường tội;
3. Vì sự ngược đãi, bạo hành hay nhục mạ, có tính chất thậm từ và tái diễn
khiến vợ chồng không thể ăn ở với nhau nữa.
Ngoài ra, vợ chồng còn có thể xin thuận tình ly hôn nếu hôn thú được lập
trên hai năm hoặc không quá hai mươi năm. Khi xin thuận tình ly hôn, các
đương sự vẫn phải theo đúng thủ tục quy định ở các điều 171 và kế tiếp. Các
đương sự có thể thỏa hiệp trước bằng văn thư đệ trình tòa về các vấn đề con
cái và tài sản hôn nhân. Tuy nhiên, về các vấn đề này, tòa có quyền thẩm
định.”
Tóm lại, thực tế có thể thấy rằng trong giai đoạn lịch sử từ 1954 đến 1975
thì những quy định pháp luật hôn nhân gia đình về quyền của người phụ nữ
trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng của hai miền Bắc, Nam đều mang
những điểm tiến bộ là đã bãi bỏ chế độ đa thê, xây dựng chế độ hôn nhân một
vợ, một chồng…Tuy nhiên, xét trong hoàn cảnh miền Bắc hoàn toàn độc lập
còn miền Nam tạm thời nằm dưới ách cai trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai
nên quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trong
giai đoạn này tại miền Nam thì quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân
thân chưa thực sự được giài phóng.
1.2.2.3. Quyền phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam giai
đoạn từ 1975 đến nay
* Quyền phụ nữ trong Luật HN&GĐ năm 1986
Năm 1980, sau 5 năm đất nước thống nhất, Hiến pháp năm 1980 được
ban hành, đánh dấu một bước phát triển mới của Nhà nước Việt Nam. Hiến
pháp 1980 có quy định mới trong việc xây dựng các nguyên tắc của chế độ hôn
nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa, chẳng hạn như “Phụ nữ và nam giới có
quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình.
Nhà nước và xã hội chăm lo nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ
thuật và nghề nghiệp của phụ nữ, không ngừng phát huy vai trò của phụ nữ
trong xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status