Bảo vệ quyền của người khuyết tật trong pháp luật lao động Việt Nam – Thực trạng và giải pháp - Pdf 28


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

H TH LAN BảO Vệ QUYềN CủA NGƯờI KHUYếT TậT
TRONG PHáP LUậT LAO ĐộNG VIệT NAM -
THựC TRạNG Và GIảI PHáP

LUN VN THC S LUT HC H NI - 2014

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT


trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn
học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN
Hà Thị Lan

MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT
TẬT VÀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT 6
1.1. Nhận thức chung về quyền của người khuyết tật 6
1.1.1. Quan niệm về quyền của người khuyết tật 6

2.3.2. Hạn chế 69
2.3.3. Nguyên nhân 73
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG TRONG VIỆC BẢO VỆ
QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT 76
3.1. Yêu cầu đặt ra cần phải nâng cao hiệu quả pháp luật lao động
trong việc bảo vệ quyền của người khuyết tật 76
3.1.1. Về mặt khách quan 76
3.1.2. Về mặt chủ quan 77
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật lao động
trong việc bảo vệ quyền của người khuyết tật 78
3.3. Một số kiến nghị cụ thể 80
3.3.1. Về các quy định của pháp luật lao động 80
3.3.2. Về tổ chức thực hiện 97
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BLLĐ: Bộ luật lao động
ILO: Tổ chức lao động quốc tế
NKT: Người khuyết tật
NLĐ: Người lao động
NSDLĐ: Người sử dụng lao động
TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh
UN: Liên hợp quốc


người năm 1948, Công ước của Liên hợp quốc về Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội
năm 1966, Công ước của Liên hợp quốc về Quyền dân sự và chính trị năm 1966,
Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật… tạo cơ sở
pháp lý cho việc bảo đảm các quyền bình đẳng của người khuyết tật như mọi cá
nhân khác trong xã hội. 2
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam,
đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại Thế giới (WTO), yêu cầu về
nguồn nhân lực trong đó có vấn đề bảo vệ quyền của người lao động nói chung và
người khuyết tật nói riêng ngày càng trở nên cấp thiết. Dạy nghề, tạo điều kiện việc
làm và bảo đảm các quyền của người khuyết tật trong quá trình tham gia lao động là
một trong những chính sách quan trọng mà Đảng và Nhà nước luôn chú ý. Bộ luật
lao động 2012 dành chương XI để quy định về một số loại lao động đặc biệt, trong
đó người lao động khuyết tật được quy định tại mục 4; Luật người khuyết tật 2010
dành Chương V để quy định về việc làm cho người khuyết tật; Chương VII Luật
dạy nghề 2006 quy định về dạy nghề cho người tàn tật, khuyết tật… Các quy định
này là sự kế thừa và phát huy các quy định về quyền của người khuyết tật trong các
văn bản pháp luật trước đó, về cơ bản đã tạo điều kiện cho người khuyết tật tham
gia vào các quan hệ lao động một cách công bằng và bình đẳng. Tuy nhiên các
quyền của người khuyết tật vẫn chưa được quy định đầy đủ và chi tiết trong pháp
luật lao động cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành, bên cạnh đó các chính sách
và pháp luật chưa được thi hành có hiệu quả trên thực tế, người khuyết tật vẫn gặp
nhiều khó khăn trong quá trình tìm việc làm và đảm bảo thu nhập. Tình trạng sử
dụng người khuyết tật vào làm việc bị vi phạm các quyền về nhân thân, về thời giờ
làm việc, thời giờ nghỉ ngơi… còn xảy ra khá phổ biến. Hơn nữa công tác quản lý
nhà nước, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm cũng như tuyên truyền, giáo dục ý
thức của cộng đồng về vấn đề người khuyết tật còn buông lỏng và chưa triệt để. Vì
những lý do đó, tôi lựa chọn để tài “Bảo vệ quyền của người khuyết tật trong pháp

- Báo cáo đánh giá thực hiện các điều khoản của Luật lao động về lao động
là người khuyết tật và Pháp lệnh về người khuyết tật của Nguyễn Thị Diệu Hồng,
tháng 7 năm 2002;
- Báo cáo đánh giá đào tạo nghề phù hợp cho thanh thiếu niên khuyết tật của
Tổ chức Thế giới Quan tâm vì Phát triển tại Hà Nội, Việt Nam tháng 1 năm 2005;
- Báo cáo khảo sát về Đào tạo Nghề và Việc làm cho người khuyết tật tại
Việt Nam của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tháng 8 năm 2008;
- Báo cáo thực hiện các chính sách trợ giúp người khuyết tật trong dạy nghề,
việc làm năm 2008 của Cục Việc làm – Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội;
- Báo cáo tình hình thực hiện các chính sách trợ giúp phụ nữ khuyết tật năm
2008 của TW Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam; 4
- Báo cáo người khuyết tật ở Việt Nam: Một số kết quả chủ yếu từ Tổng điều
tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009 của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA);
- Bài viết “Nhìn lại 5 năm thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật” của Đàm
Hữu Đắc trên tạp chí Lao động và Xã hội số 213 năm 2003;
- Bài viết “Để nâng cao khả năng thực hiện pháp luật về việc làm và dạy
nghề đối với người tàn tật” của Nguyễn Đức Hoán trên Tạp chí Lao động và Xã hội
số 308 năm 2007;
- Bài viết “Những vấn đề đặt ra trong thực hiện dịch vụ xã hội đối với người
khuyết tật và một số khuyến nghị” của Lý Hoàng Mai trên tạp chí Lao động và Xã
hội số 370 năm 2009…
Tất cả những công trình trên chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu và phân tích một
số khía cạnh quyền của người khuyết tật trong các lĩnh vực khác nhau mà chưa khái
quát toàn bộ nội dung quyền của người khuyết tật trong pháp luật lao động một cách
đầy đủ, thêm nữa mới chỉ dừng lại ở quyền mà chưa nghiên cứu các nội dung của
bảo vệ quyền của người khuyết tật trong hệ thống pháp luật lao động Việt Nam. Với
việc lựa chọn đề tài “Bảo vệ quyền của người khuyết tật trong pháp luật lao động

ra các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật lao động trong
việc bảo vệ quyền của người khuyết tật.
6. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cụ thể là, phương pháp duy vật biện chứng
và phương pháp duy vật lịch sử. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp
tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, phương pháp quan sát… làm cơ sở cho việc
nghiên cứu.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về quyền của người khuyết tật và bảo vệ quyền
của người khuyết tật.
Chương 2: Thực trạng bảo vệ quyền của người khuyết tật trong pháp luật lao
động Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật
lao động trong việc bảo vệ quyền của người khuyết tật. 6
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT
VÀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.1. Nhận thức chung về quyền của người khuyết tật
1.1.1. Quan niệm về quyền của người khuyết tật
Người khuyết tật là nhóm người dễ bị tổn thương, là một bộ phận dân cư và
tồn tại khách quan trong lịch sử loài người. Ngân hàng thế giới ước tính có khoảng
10% dân số thế giới (khoảng 650 triệu người) phải sống chung với những khuyết tật
và có sự khác nhau giữa các vùng, các nước và chủ yếu tập trung ở các nước kém

nghiệp và việc làm của người khuyết tật năm 1983 quy định: “Người khuyết tật dùng để
chỉ người mà khả năng tìm thấy một việc làm phù hợp, gắn bó lâu dài với công việc đó
cũng như triển vọng thăng tiến về nghề nghiệp đều bị giảm sút đáng kể do một sự khiếm
khuyết về thể chất hoặc tâm thần được công nhận rõ ràng”[80, Điều 1, Khoản 1].
Khái niệm người khuyết tật theo quan điểm của Tổ chức quốc tế người
khuyết tật (DPI, 1982): Người khuyết tật trở thành khuyết tật là do thiếu cơ hội để
tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành viên khác. Do
vậy, khuyết tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính
năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó người khuyết tật sống [92, tr.5].
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 1999, người khuyết tật
là người bị suy giảm chức năng ở ba mức độ là: khiếm khuyết (impairment), khuyết
tật (disability) và tàn tật (handicap). Trong đó, khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc
không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc sinh lý. Khuyết tật
chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết. Còn tàn
tật đề cập tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động
của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ [91].
Theo Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA - Americans
with Disabilities Act of 1990) định nghĩa người khuyết tật là người có sự suy yếu về
thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan
trọng trong cuộc sống. Những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: Khiếm khuyết về
vận động; Khiếm khuyết về thị giác, Khiếm khuyết về nói và nghe, Chậm phát triển
tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, Các bệnh lây và
không lây như Bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, bệnh lao
và bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc không có triệu chứng) [74]. 8
Hay Luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ người khuyết
tật năm 1990 ghi nhận:
Người khuyết tật là một trong những người bị bất thường, mất mát

quyền cơ bản của một con người nhưng do bị khiếm khuyết về mặt thể chất hay tâm
thần nên họ có một số các quyền đặc thù theo luật định. Quan niệm về quyền của
người khuyết tật có sự thay đổi cách tiếp cận trong pháp luật quốc tế cũng như pháp
luật quốc gia. Ngay từ khi ban hành những văn bản pháp lý đầu tiên, Liên hợp quốc
(UN) luôn khẳng định sự thiết yếu của việc tôn trọng và thực hiện các quyền và tự
do cơ bản của tất cả mọi người và không phân biệt thành phần, giới tính, tôn giáo
hay tín ngưỡng [33, Điều 1]… Các quyền của người khuyết tật được đặt trên cơ sở
các quy định phổ quát đó.
Trong những năm 1940 và 1950, UN mới chỉ tập trung vào việc thúc đẩy các
quyền của người khuyết tật về thể chất thông qua các phương pháp tiếp cận an sinh
xã hội [115]. Hiến chương và các công ước về quyền con người được các nước phê
chuẩn từ giữa những năm 1940 cho đến cuối những năm 1960 (ví dụ Tuyên ngôn
Quốc tế của Liên Hợp Quốc về nhân quyền năm 1948, Công ước của Liên Hợp
Quốc về Quyền Kinh tế, Văn hóa, Xã hội năm 1966, và Công ước của Liên Hợp
Quốc về Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966…) chưa có các quy định riêng đề
cập đến người khuyết tật. Tuy nhiên, Tuyên ngôn quốc tế của Liên hợp quốc về
nhân quyền năm 1948 đã khẳng định: “Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và
bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi con người đều được tạo hóa ban cho lý trí
và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu” [34, Điều 1]. Tuyên
ngôn này cũng liệt kê tất cả các quyền mà con người được hưởng bao gồm các
quyền trong các lĩnh vực dân sự, chính trị; quyền kinh tế, văn hóa và xã hội.Theo
quy định này thì người khuyết tật cũng phải được hưởng những quyền lợi cơ bản
mà mọi người trong xã hội được hưởng. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, người
khuyết tật vẫn phải đối mặt với nhiều bất lợi, tình trạng họ bị tách biệt khỏi xã hội,
cũng như tình trạng họ bị phân biệt đối xử mới được nhận thức rõ ràng hơn và đã
được nêu thành một vấn đề về quyền của người khuyết tật. Việc dần thay đổi từ
cách tiếp cận phúc lợi xã hội sang cách tiếp cận dựa vào quyền con người được thể
hiện thông qua việc đề cập một cách cụ thể về người khuyết tật trong các Hiến
điều kiện an ninh kinh tế và cơ hội bình đẳng”… [81, tr.3]. 11
Năm 1944, với bản khuyến nghị đầu liên quan đến các dịch vụ việc làm, bao
gồm cả đào tạo nghề và định hướng việc làm (Khuyến nghị Số 71, 1944 về Việc
làm), ILO đã dành một phần đáng kể (phần X, từ đoạn 39 đến đoạn 44) để trình bày
về vấn đề việc làm của người khuyết tật. ILO có đề xuất rằng, bất kỳ khi nào có thể,
người khuyết tật cần được đào tạo cùng với những người khác, được làm việc trong
cùng điều kiện và được trả cùng mức lương; đồng thời cần tiếp tục việc đào tạo cho
đến khi người khuyết tật có đủ khả năng kiếm được việc làm trong lĩnh vực hoặc
các ngành nghề mà họ đã được đào tạo. ILO kêu gọi sự bình đẳng về cơ hội nghề
nghiệp cho người lao động khuyết tật và khuyến khích áp dụng các chính sách việc
làm ưu tiên nhằm tăng cường việc làm cho người khuyết tật nặng [91].
Năm 1983, một năm sau khi thực thi Chương trình hành động toàn cầu liên
quan đến người khuyết tật và hai năm sau Năm quốc tế về Người khuyết tật, ILO đã
thông qua Công ước số 159 và Khuyến nghị số 168 về Tái thích ứng nghề nghiệp và
việc làm của người khuyết tật. Công ước số 159 yêu cầu các nước đã phê chuẩn
công ước này phải xây dựng các chính sách quốc gia dựa trên nguyên tắc cơ hội
bình đẳng giữa người lao động khuyết tật và người lao động nói chung, tôn trọng sự
bình đẳng về cơ hội và đối xử bình đẳng giữa người khuyết tật nam và nữ, đồng thời
thực thi các biện pháp tích cực nhằm thực hiện hiệu quả các nguyên tắc này. Việc
đề cao sự tham gia toàn diện của người khuyết tật được thể hiện thông qua khái
niệm về phục hồi chức năng gắn với việc làm: “Giúp người khuyết tật tìm được việc
phù hợp, được duy trì và thăng tiến trong công việc đó và qua đó được hòa nhập
hoặc tái hòa nhập xã hội tốt hơn” [80, Điều 1-2].
Như vậy có thể thấy quan niệm về quyền của người khuyết tật trong pháp
luật quốc tế có sự thay đổi qua các thời kì khác nhau nhưng xu hướng chung là dịch
chuyển hướng tiếp cận quyền của người khuyết tật từ nhân đạo chuyển sang nhân
quyền. Theo đó, người khuyết tật cũng có cơ hội bình đẳng và được hưởng các

quốc tế về nhân quyền của Liên hợp quốc có khẳng định:
Việc thừa nhận nhân phẩm vốn có, các quyền bình đẳng và không
thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự
do, công bằng và hòa bình trên thế giới và Nhân quyền phải được pháp
luật bảo vệ để mỗi người không buộc phải nổi loạn như là biện pháp cuối
cùng để chống lại chế độ cường quyền và áp bức [34]. 13
Việc thừa nhận người khuyết tật như là một chủ thể của các quyền, có khả
năng tự nuôi sống bản thân và làm chủ cuộc sống của mình giúp cho mỗi quốc gia
giảm bớt được gánh nặng về phúc lợi xã hội cho người khuyết tật vì lý do phụ thuộc
và không sinh lợi. Từ đó, thúc đẩy sự phát triển của bản thân người khuyết tật nói
riêng cũng như xã hội nói chung.
Thứ hai, quyền của người khuyết tật là cơ sở và nền tảng cho việc thể chế hóa
thành các chính sách và quy định của pháp luật để bảo vệ và phát huy tối đa mọi
nguồn lực xã hội. Luật pháp quốc tế và quốc gia đã và đang thông qua hoặc điều
chỉnh để đảm bảo các quyền của người khuyết tật. Người khuyết tật do đó được đảm
bảo có cơ hội đồng đều thông qua việc xóa bỏ tất cả các trở ngại, định kiến của xã hội
về mặt thể chất, tài chính, xã hội hoặc tâm lý mà đã loại trừ hoặc hạn chế sự tham gia
hoàn toàn của họ vào đời sống xã hội, đồng thời có cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích
chính đáng khi chúng bị xâm phạm trên phạm vi toàn cầu. Nhiệm vụ nội luật hóa các
quy định của pháp luật quốc tế trong pháp luật quốc gia được quy định trong Công
ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2006: “Nghĩa vụ chung: Các quốc
gia thành viên cam kết đảm bảo và thúc đẩy sự hiện thực hóa đầy đủ tất cả các
quyền và tự do cơ bản của toàn bộ những người khuyết tật mà không có bất cứ sự
phân biệt đối xử nào dựa trên cơ sở khuyết tật…” [96, Điều 4].
Thứ ba, việc thừa nhận quyền của người khuyết tật là phù hợp với xu thế
chung của quốc tế. Trong xu thế hội nhập, vấn đề quyền của người khuyết tật không
còn là vấn đề của một người, một cộng đồng, một quốc gia mà trở thành mối quan

do biểu đạt chính kiến và tiếp cận thông tin; quyền được bảo vệ không bị tra tấn, bị
đối xử, áp dụng các hình phạt tàn nhẫn; quyền không bị bóc lột, bạo hành và lạm
dụng; quyền được tham gia đời sống chính trị và cộng đồng; quyền tham gia các
hoạt động văn hóa, nghỉ ngơi, giải trí và thể thao; quyền hưởng các dịch vụ y tế,
quyền được hỗ trợ chức năng và phục hồi chức năng; quyền có mức sống thích đáng
và bảo trợ xã hội đầy đủ; quyền được tiếp cận giáo dục; quyền có cơ hội công việc
và việc làm. Theo đó, Công ước quy định:
Quốc gia thành viên công nhận rằng mọi người đều bình đẳng 15
trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ, quyền được hưởng
lợi ích của pháp luật một cách bình đẳng, không có sự phân biệt nào;
Quốc gia thành viên cấm phân biệt đối xử trên cơ sở sự khuyết tật và bảo
đảm cho người khuyết tật sự bảo vệ pháp lý hữu hiệu và bình đẳng chống
lại sự phân biệt đối xử trên bất kỳ cơ sở nào [38, Điều 5-1, 5-2].
Do vậy, người khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền lợi như mọi thành
viên khác trong xã hội và ngay cả những người khuyết tật cũng được hưởng các
quyền lợi bình đẳng như nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vì lý do
khuyết tật của họ. Trách nhiệm của các quốc gia thành viên Công ước là phải thể
chế hóa, nội luật hóa các quy định của Công ước vào pháp luật quốc gia và thực thi
nghiêm chỉnh các quy định đó.
Bên cạnh các quyền lợi cơ bản nêu trên, do đặc thù là nhóm người chịu
nhiều thiệt thòi, dễ bị tổn thương và gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện các
quyền cơ bản của con người, cho nên quyền của người khuyết tật có những đặc
điểm riêng bao gồm:
Trong lĩnh vực dân sự, chính trị, người khuyết tật có các quyền dân sự, chính
trị với tư cách là một con người. Tuy nhiên đối với những người khuyết tật tâm thần
nặng, là những người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, mất năng lực hành
vi dân sự; những người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có năng lực hành vi

thực hiện đầy đủ các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa.
Trong lĩnh vực lao động, người khuyết tật cũng có các quyền cơ bản như
những lao động bình thường khác chẳng hạn như: quyền được đào tạo dạy nghề và
việc làm, quyền về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động, vệ sinh
lao động, quyền được hưởng trợ cấp xã hội và khiếu nại khi quyền lợi của mình bị
xâm phạm… Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966 quy
định về việc thừa nhận quyền mà mọi người được hưởng những điều kiện làm việc
công bằng và thuận lợi như sau:
Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận quyền của mọi
người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc
biệt đảm bảo:
a. Thù lao cho tất cả mọi người làm công tối thiểu phải đảm bảo: 17
(i) Tiền lương thoả đáng và tiền công bằng nhau cho những công
việc có giá trị như nhau, không có sự phân biệt đối xử nào; đặc biệt, phụ
nữ phải được đảm bảo những điều kiện làm việc không kém hơn đàn
ông, được trả công ngang nhau đối với những công việc giống nhau;
(ii) Một cuộc sống tương đối đầy đủ cho họ và gia đình họ phù
hợp với các quy định của Công ước này.
b) Những điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh;
c) Cơ hội ngang nhau cho mọi người trong việc được đề bạt lên chức
vụ thích hợp cao hơn, chỉ cần xét tới thâm niên và năng lực làm việc;
d) Sự nghỉ ngơi, thời gian rảnh rỗi, giới hạn hợp lý số giờ làm
việc, những ngày nghỉ thường kỳ được hưởng lương cũng như thù lao
cho những ngày nghỉ lễ [35, Điều 7].
Tuy nhiên, cũng do đặc điểm tâm sinh lý khác biệt, người khuyết tật được
pháp luật quy định được hưởng các quyền bình đẳng với những người khác về điều
kiện tuyển dụng, sự thuê mướn và tuyển dụng, tiếp tục được tuyển dụng kể cả trong

nên các em là đối tượng đặc biệt cần được ưu tiên. Do đó, trẻ em khuyết tật có các
quyền đặc thù như: quyền được nhận làm con nuôi, quyền được học tập bình
thường như mọi đứa trẻ khác và được chữa bệnh miễn phí… Công ước quốc tế về
quyền của người khuyết tật yêu cầu:
Các quốc gia thành viên bảo đảm rằng trẻ em khuyết tật có quyền
bày tỏ ý kiến một cách tự do về mọi vấn đề ảnh hưởng tới các em, ý kiến
của trẻ em phải được cân nhắc thích đáng phù hợp với độ tuổi và sự
trưởng thành của các em, trên cơ sở bình đẳng với các trẻ em khác, bảo
đảm cung cấp cho các em sự trợ giúp phù hợp với lứa tuổi và với tình
trạng khuyết tật để các em thực hiện quyền đó [38, Điều 7-3].
Dưới góc độ nguyên nhân gây ra khuyết tật, người khuyết tật đặc biệt như
những thương, bệnh binh, những người có công với đất nước nên họ có những
quyền được ưu tiên đặc biệt như: quyền được hưởng chế độ trợ cấp đặc biệt; quyền
được ưu tiên đặc biệt khi thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền học tập,
lao động và tìm kiếm việc làm…
Từ những đặc điểm riêng về quyền của người khuyết tật nêu trên cho thấy
trong quá trình hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật cần phải chú 19
trọng ghi nhận và có biện pháp đặc biệt để đảm bảo thực hiện các quyền đặc thù của
người khuyết tật nhằm hạn chế tiến tới xóa bỏ rào cản đối với người khuyết tật về
mặt xã hội. Nói cách khác, cơ hội tiếp cận và khả năng thụ hưởng quyền của người
khuyết tật nếu không được đảm bảo bằng cơ chế pháp lý sẽ dẫn đến tình trạng phụ
thuộc vào nhận thức của xã hội về vị thế và các quyền con người cơ bản của họ.
Thực tế cho thấy do nhận thức của xã hội còn hạn chế nên người khuyết tật vẫn phải
chịu sự kì thị và phân biệt đối xử. Họ bị ghẻ lạnh, bị coi là gánh nặng của gia đình
và xã hội. Những hạn chế này đã tạo ra rào cản đối với việc tiếp cận và hưởng thụ
quyền của người khuyết tật.
1.2. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền của người khuyết tật trong pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status