LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ thời xa xưa, để phục vụ cho cuộc sống của mình, con người đã
không ngừng nghiên cứu và sáng chế ra những công cụ, vật dụng mới. Sáng
chế là giải pháp kĩ thuật mới và sáng tạo nhằm giải quyết một vấn đề xác định
bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Sáng chế là một tài sản vô hình, là
đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp. Cùng với sự phát triển của khoa học
kĩ thuật hiện đại, ngày càng có nhiều sáng chế được tạo ra dẫn đến nhu cầu tất
yếu về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế. Sáng chế được bảo
hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền. Trong những năm gần đây, bằng độc
quyền sáng chế được xem là một trong những tiêu chí để đánh giá thực lực và
sức mạnh của một quốc gia. Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
sáng chế sẽ đảm bảo quyền và lợi ích của người sáng tạo với thành quả lao
động của mình, khuyến khích việc sáng chế ra công nghệ mới, đóng góp vào
sự phát triển kinh tế xã hội đất nước. Đặc biệt trong thời đại toàn cầu hóa,
việc đẩy mạnh hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói chung và
quyền sở hữu công nghiệp với sáng chế nói riêng đã trở thành một vấn đề
thách thức, một yêu cầu bắt buộc.
Hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế tại Việt
Nam trong mấy năm trở lại đây đã có những bước chuyển biến khả quan,
song vẫn tồn tại nhiều bất cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật,
trong hoạt động thực thi bảo hộ, và đặc biệt là vẫn chưa đẩy lùi được tình
trạng xâm phạm quyền. Chính vì vậy, việc tìm ra nguyên nhân của những hạn
chế đó và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với sáng chế là hết sức cần thiết. Xuất phát từ thực tế này, em đã
1
quyết định chọn đề tài “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
tại Việt Nam: thực trạng và giải pháp” cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: làm sáng tỏ về mặt lý luận vấn đề bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, đánh giá thực trạng bảo hộ sáng chế tại
nghệ, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội đất nước trong thời kì hội nhập.
6. Bố cục của khoá luận
Nội dung của khoá luận bao gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với sáng chế
Chương II: Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng
chế tại Việt Nam
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với sáng chế tại Việt Nam
Do hiểu biết còn nhiều hạn chế nên khoá luận sẽ không tránh khỏi
những thiếu sót nhất định. Em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của
các thầy cô, các bạn sinh viên và tất cả những ai quan tâm đến lĩnh vực sở
hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ sáng chế nói riêng.
Qua đây, em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới
ThS. Lê Thị Thu Hà, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt
quá trình hoàn thành khoá luận này.
Hà Nội, tháng 11/2007
Sinh viên thực hiện
Ngô Thị Minh Thu
3
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HỘ QUYỀN
SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ
I. KHÁI QUÁT VỀ SÁNG CHẾ VÀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ
1. Một số khái niệm
1.1. Sáng chế
Theo từ điển tiếng Việt, sáng chế là nghĩ và chế tạo ra cái trước đó
chưa từng có. Đây cũng là cách hiểu cơ bản và thông thường của hầu hết tất
cả mọi người về sáng chế. Ví dụ: James Watts sáng chế ra động cơ hơi nước,
như sau: “Sáng chế là giải pháp kĩ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình
nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự
nhiên”
2
[6]. Trong khái niệm này, giải pháp kĩ thuật là tập hợp cần và đủ các
thông tin về cách thức kĩ thuật và phương tiện kĩ thuật nhằm giải quyết một
nhiệm vụ (một vấn đề) xác định. Giải pháp kĩ thuật có thể là:
- Sản phẩm dưới dạng vật thể (dụng cụ, máy móc, thiết bị, linh kiện,
mạch điện...), sản phẩm dưới dạng chất thể (vật liệu, chất liệu, thực phẩm,
dược phẩm...) hoặc sản phẩm dưới dạng vật liệu sinh học (gen, thực vật/động
vật biến đổi gen...).
- Quy trình (quy trình công nghệ; phương pháp chẩn đoán, dự báo,
kiểm tra, xử lý...).
Trên thực tế, rất khó có thể định nghĩa chính xác về sáng chế, chính vì
vậy mà luật pháp của nghiều nước không trực tiếp định nghĩa sáng chế. Tuy
nhiên, sáng chế được hiểu chung là một ý tưởng của tác giả sáng chế cho
1
Luật sáng chế Nhật Bản, Điều 2
2
Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Điều 4, Khoản 12
5
phép giải quyết trên thực tế một vấn đề cụ thể trong lĩnh vực kĩ thuật. Sáng
chế thường liên quan đến sản phẩm (cơ cấu, chất) và quy trình (phương
pháp).
Bản chất của sáng chế là một giải pháp kĩ thuật, vì vậy nếu đơn thuần
chỉ là một phát minh, sáng kiến hay một lý thuyết khoa học thì không thể coi
đó là sáng chế. Tuy nhiên, vì một số điểm tương đồng mà sáng chế thường dễ
bị nhầm với phát minh hay sáng kiến. Nhưng trên thực tế, đây là những khái
niệm hoàn toàn khác nhau.
Phát minh là việc tìm ra những gì tồn tại trong tự nhiên hoặc xã hội,
dựa trên cơ sở của trí tưởng tượng. Tạo ra sáng chế không đồng nghĩa với
việc phải có một nền tảng kiến thức sâu rộng, mà quan trọng là phải có sự
sáng tạo. Thực tế ở Việt Nam có rất nhiều nhà sáng chế không bằng cấp như
“lão nông” Nguyễn Văn Sành ở Hải Dương với chiếc máy cắt hành tự động
hay anh nông dân Nguyễn Đức Tâm ở Lâm Đồng sáng chế ra chiếc máy cắt
lúa cầm tay - một công cụ hữu hiệu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Nhưng
nếu chỉ có trí tưởng tượng thôi chưa đủ, mà điều quan trọng là phải phát hiện
ra nhu cầu. Bởi vì sáng tạo là để phục vụ cuộc sống. Chiếc máy cắt hành tự
động, máy cắt lúa cầm tay và rất nhiều sáng chế khác nữa đều được tạo ra
xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.
1.2. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
Sáng chế là một tài sản đặc biệt, đó là sản phẩm của sáng tạo, là kết quả
đầu tư nghiên cứu khoa học của tác giả sáng chế. Là một tài sản vô hình nên
không giống như những tài sản hữu hình khác, sáng chế rất dễ bị đánh cắp,
sao chép, bắt chước. Vì vậy, bảo hộ sáng chế là một yêu cầu tất yếu.
Sáng chế được bảo hộ bởi bằng độc quyền sáng chế, hay ở nhiều nước
còn gọi là patent. Patent được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trên cơ sở
7
đơn do người có sáng chế nộp cho cơ quan này nếu sáng chế được tạo ra đáp
ứng các yêu cầu quy định của pháp luật. Một khi patent đã được cấp, chủ sở
hữu patent đó sẽ có quyền gọi là quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế.
Theo đó, bất kỳ ai muốn khai thác sáng chế dù rằng người đó tạo ra sáng chế
này một cách độc lập, không sao chép hoặc không biết đến nó vẫn phải xin
phép người đã được cấp patent hay chủ patent. Nếu không, hành vi đó bị coi
là một hành vi vi phạm pháp luật. Gọi là bảo hộ vì người chủ patent được bảo
vệ chống lại việc khai thác sáng chế khi người đó chưa cho phép. Bản chất
của việc bảo hộ là để đổi lấy độc quyền. Chủ sở hữu patent có độc quyền khai
thác và sử dụng sáng chế, cho phép hoặc ngăn cấm ai khác sử dụng sáng chế
của mình, chuyển giao hoặc bán bằng độc quyền cho người khác. Ở Việt
Nam, sáng chế còn có thể được bảo hộ bởi bằng độc quyền giải pháp hữu ích.
Năm 1624, dưới triều đại Tudor, Nghị viện Anh đã thông qua Đạo luật
về độc quyền, theo đó mọi hình thức độc quyền bị xoá bỏ trừ độc quyền sáng
chế với điều kiện là sáng chế đó chỉ được bảo hộ trong khoảng thời gian tối
đa là 14 năm. Việc cấp một độc quyền sáng chế cho bất cứ ai là thực hiện
quyền công dân chứ không phải bổng lộc của Hoàng gia. Nguyên nhân ra đời
của Đạo luật này xuất phát từ việc ở Anh cuối thế kỉ 16, các thành viên của
Hoàng gia đã thu được một nguồn lợi rất lớn từ việc kinh doanh các độc
quyền sáng chế. Trước đó từ thế kỉ 14, Hoàng gia Anh đã bắt đầu mở rộng
phạm vi của hình thức “đặc ân” cho cả những thợ thủ công nước ngoài nhằm
thu hút kĩ thuật công nghệ từ những nước khác. Trong nỗ lực nhằm hạn chế
việc thu lợi quá mức từ kinh doanh độc quyền sáng chế của Hoàng gia, Nghị
viện Anh đã ban hành Đạo luật này. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy
định việc cấp một đặc quyền cho sáng chế trong một khoảng thời gian có giới
hạn.
9
Nửa sau thế kỉ 18 là thời hoàng kim của thương mại và công nghiệp đối
với nhiều nước. Đây cũng là thời kì của đổi mới khoa học và cách mạng chính
trị. Trong khoảng thời gian này, một số nước đã thiết lập hệ thống luật sáng
chế đầu tiên của mình, đó là Mĩ (1790), Pháp (1791), Bỉ (1854), Ý (1859),
Nga (1870), Đức (1877)..... Đến cuối thế kỉ 19, đã có 45 nước ban hành Luật
Sáng chế, và đến nay con số này đã lên tới 175 nước [20].
Mặc dù Luật Sáng chế đã được ban hành ở nhiều nước, nhưng người ta
bắt đầu nhận thấy yêu cầu về sự bảo hộ mang tính chất quốc tế đối với sáng
chế. Trong cuộc Triển lãm Sáng chế quốc tế tại Vienna năm 1873 do chính
phủ hai nước Áo và Hungary tổ chức, những người trưng bày nước ngoài đã
từ chối tham gia vì lo ngại rằng các ý tưởng của họ có thể bị đánh cắp và khai
thác thương mại ở những nước khác. Sự cố này dẫn đến việc ra đời Công ước
Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1883. Đây là điều ước quốc tế đầu
tiên ra đời nhằm mục đích giúp đỡ những người dân ở một nước nhận được
sự bảo hộ cho sáng tạo trí tuệ của họ, trong đó có sáng chế, ở những quốc gia
3
[4].
2.2. Hệ thống bảo hộ sáng chế ở Việt Nam
Hệ thống bảo hộ sáng chế ở Việt Nam chính thức đi vào hoạt động kể
từ năm 1981 với việc ban hành Nghị định 31/CP ngày 23/1/1981 về sáng kiến
cải tiến kỹ thuật - hợp lý hoá sản xuất và sáng chế. Phong trào sáng kiến, cải
tiến kĩ thuật ở nước ta đã phát triển khá mạnh mẽ từ những năm chiến tranh
chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm
đến công tác tổ chức và lãnh đạo phong trào này, tuy nhiên chỉ dừng lại ở
mức độ khuyến khích, khen thưởng những cá nhân và tập thể có thành tích
trong hoạt động sáng tạo, cải tiến kĩ thuật. Việc ban hành Nghị định 31/CP có
thể coi là mốc quan trọng mở đầu cho hoạt động bảo hộ sáng chế ở nước ta và
3
Hiệp định TRIPS, Điều 7
11
mở ra triển vọng cho việc thành lập một cơ quan Nhà nước thực hiện chức
năng xác lập quyền sở hữu công nghiệp và tổ chức chỉ đạo hoạt động sở hữu
công nghiệp - đó chính là Cục Sáng chế, tiền thân của Cục sở hữu trí tuệ sau
này. Ngày 11/04/1984, bằng độc quyền sáng chế đầu tiên ở Việt Nam đã được
cấp.
Chính sách đổi mới năm 1986 đã chuyển nền kinh tế nước ta từ cơ chế
kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Và theo đó là sự ra đời của
“Pháp lệnh về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp” do chủ tịch Hội đồng Nhà
nước công bố ngày 28/01/1989. Pháp lệnh này đã góp phần nâng cao hiệu quả
pháp lý của hệ thống pháp luật về sở hữu công nghiệp ở Việt Nam.
Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước, Việt Nam
cũng tích cực tham gia vào các điều ước quốc tế trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp. Năm 1993, Chính phủ Việt Nam phê chuẩn Hiệp ước hợp tác về sáng
chế PCT và Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hiệp ước này vào
ngày 10/3/1993. Đến năm 1995, Việt Nam đệ đơn xin gia nhập Tổ chức
sự đầu tư nghiên cứu, sáng tạo, thời gian công sức của nhà sáng chế. Trong
khi đó, các sáng chế lại rất dễ bị sao chép (làm đúng như vất gốc), dễ bị bắt
chước (làm theo kiểu của người khác) và đưa vào khai thác để sinh lời. Cùng
với sự phát triển của khoa học công nghệ thì việc sao chép, bắt chước đó càng
trở nên dễ dàng hơn. Một khi điều này xảy ra, sẽ gây tổn thất không chỉ cho
bản thân nhà sáng chế mà làm ảnh hưởng đến cả xã hội, vì nó sẽ không
khuyến khích nỗ lực sáng tạo của xã hội. Chính vì vậy, tăng cường bảo hộ
sáng chế sẽ ngăn chặn việc sử dụng các sản phẩm khoa học công nghệ một
cách bất hợp pháp, giúp chủ sở hữu có thể bảo vệ được thành quả sáng tạo
của mình và tiếp tục đầu tư phát triển tạo ra sáng chế mới.
13
Việc nghiên cứu sáng tạo ra một giải pháp kĩ thuật mới có độ rủi ro
cao. Người đầu tư công nghệ phải đầu tư một khoản kinh phí lớn cộng với
thời gian và công sức để tạo ra sáng chế nhưng khả năng thành công không
phải lúc nào cũng xảy ra. Và nếu thành công thì chắc chắn họ sẽ mong muốn
có thể thu hồi được vốn bỏ ra thông qua việc khai thác sản phẩm hay quy
trình của sáng chế đó. Nếu không có bảo hộ thì ai cũng có thể khai thác sáng
chế đó mà không phải hao phí cho việc đầu tư nghiên cứu. Bị đối thủ cạnh
tranh tước đoạt thành quả lao động và lợi nhuận, nhà sáng chế và người đầu
tư kinh phí sẽ không còn động lực để lặp lại quy trình sáng tạo, bởi vì họ phải
đầu tư lớn mà thành công lại nhỏ. Lúc này, bằng sáng chế chính là phương
tiện mang lại cho họ cơ hội có thu nhập để bù đắp chi phí phải bỏ ra trong quá
trình phát triển sáng chế thông qua việc bán sản phẩm có mang sáng chế. Hơn
nữa, nhà sáng chế còn có khả năng thu được lợi nhuận từ việc chuyển nhượng
bằng độc quyền sáng chế cho người khác. Những lợi ích đó sẽ giúp cho chủ
sở hữu yên tâm đầu tư, yên tâm sản xuất kinh doanh, và thúc đẩy họ đầu tư
một phần thu nhập cho việc nghiên cứu và phát triển, lặp lại quá trình sáng
tạo, tạo ra sáng chế mới.
Nhưng liệu có phải khi cấp bằng độc quyền sáng chế cho một người
nào đó trong thời hạn là 20 năm sẽ ngăn cản những người khác nghiên cứu
nghiệp đối với sáng chế góp phần vào việc chuyển giao công nghệ theo hai
cách chính.
Trước hết, hệ thống bảo hộ này cung cấp thông tin pháp lý và kỹ thuật
cho người cần công nghệ. Theo đó, người cần công nghệ có thể có được tên,
địa chỉ của người nộp đơn, chủ sở hữu và các tác giả sáng chế, có thông tin
15
công bố trong công báo do cơ quan có thẩm quyền ấn hành. Điều đó tạo điều
kiện thuận lợi cho người muốn nhận chuyển giao công nghệ trong giao dịch.
Như vậy, thông tin sáng chế đóng vai trò môi giới trong việc chuyển giao
công nghệ.
Thứ hai, hệ thống bảo hộ sáng chế tạo yếu tố tin tưởng cho việc chuyển
giao công nghệ bằng cách loại trừ yếu tố tiết lộ thông tin về công nghệ của
người chuyển giao vì sự bộc lộ thông tin đã được đổi lấy độc quyền công
nghệ. Mặt khác, nhờ thông tin về đối tượng đã được bảo hộ, người muốn nhận
chuyển giao đối tượng đó biết được bản chất đối tượng mà mình muốn có
cũng như giá trị của nó và trên cơ sở cân nhắc các yếu tố kinh tế, kỹ thuật của
mình để tiến hành đàm phán ký kết hợp đồng với chủ sở hữu.
Nhật Bản chính là một ví dụ điển hình của việc sử dụng hệ thống bằng
độc quyền sáng chế để thúc đẩy chuyển giao công nghệ và đầu tư. Khi phát
động vòng đàm phán Kenedy của GATT, Tổng thống Mỹ Kenedy chỉ coi
Nhật Bản như một nước đang phát triển, một sự khác biệt hoàn toàn so với
Nhật Bản ngày nay. Các nhà xây dựng chính sách của nước này đã dựa vào hệ
thống bằng độc quyền sáng chế để xúc tiến đầu tư nước ngoài và chuyển giao
công nghệ, góp phần phát triển nền kinh tế quốc dân, biến Nhật Bản từ một
nước đang phát triển trở thành một nước phát triển hàng nhất nhì trên thế giới.
Một ví dụ khác, Braxin và Ấn Độ, hai nước đã chứng kiến sự tăng trưởng
đáng kể và liên tục trong đầu tư trực tiếp nước ngoài sau khi họ tăng cường
luật về bằng độc quyền sáng chế đầu những năm 1990 [13].
3.4. Làm giàu tri thức công nghệ
Để được cấp bằng độc quyền sáng chế, tác giả phải bộc lộ công khai
của mỗi nước. Cũng chính vì những lợi ích bằng độc quyền sáng chế đem lại
mà tại Việt Nam trong những năm qua, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công
17
nghiệp đối với sáng chế đã trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu
của các doanh nghiệp và toàn xã hội. Vì vậy, việc xây dựng và củng cố hệ
thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói chung và đối với sáng chế nói
riêng là yêu cầu cấp bách trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa
đất nước.
II. NỘI DUNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI
SÁNG CHẾ
1. Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
1.1. Điều kiện bảo hộ đối với sáng chế
Không phải bất kì sáng chế nào cũng được bảo hộ, cũng được cấp bằng
độc quyền. Để được bảo hộ, sáng chế phải đáp ứng một số tiêu chuẩn nhất
định. Những tiêu chuẩn đó là tính mới, trình độ sáng tạo, khả năng áp dụng
công nghiệp, và quan trọng là sáng chế đó phải thuộc đối tượng được bảo hộ,
tức là không nằm trong những đối tượng bị loại trừ.
a) Có tính mới
Tính mới là một yêu cầu cơ bản, là điều kiện tiên quyết để xét cấp bằng
độc quyền sáng chế. Quy định tính mới đối với sáng chế là để tránh sự trùng
lặp, tiết kiệm chi phí cho xã hội.
Sáng chế được coi là có tính mới nếu chỉ có một số người có hạn được
biết và giữ bí mật về sáng chế đó, và trước ngày nộp đơn đăng kí sáng chế
hoặc trước ngày ưu tiên (khái niệm về ngày ưu tiên sẽ được đề cập ở phần
dưới), sáng chế đó không bị bộc lộ công khai dưới các hình thức sau:
- Sử dụng công khai như trình diễn, triển lãm, bán, trưng bày trước
công chúng hoặc việc sử dụng công cộng thực sự.
- Mô tả sáng chế đó trong một ấn phẩm hoặc xuất bản dưới hình thức
khác. Các xuất bản phẩm này phải được phát hành, công khai dưới bất kì hình
thức nào như chào bán hoặc lưu giữ tại thư viện công cộng; bao gồm cả bằng
nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định.
Một sáng chế nếu thuần tuý chỉ là lý thuyết mà không có khả năng áp
dụng cho các mục đích thực tế thì sẽ không được cấp bằng độc quyền. Nếu
sáng chế là một sản phẩm thì sản phẩm đó phải có khả năng được sản xuất,
nếu sáng chế đó là một quy trình thì quy trình đó phải có khả năng thực hiện;
hơn nữa, việc sản xuất và thực hiện đó có thể lặp đi lặp lại nhiều lần.
d) Không thuộc đối tượng loại trừ
Có những sáng chế đáp ứng cả ba điều kiện nêu trên là tính mới, trình
độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp nhưng vẫn không đủ tiêu chuẩn
để được bảo hộ. Đó là những sáng chế thuộc đối tượng loại trừ, bao gồm:
- Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học.
- Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động
trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy
tính.
- Cách thức thể hiện thông tin
- Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mĩ
- Giống thực vật, giống động vật
- Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học
mà không phải là quy trình vi sinh
- Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động
vật. Loại trừ đối tượng này ra khỏi phạm vi sáng chế được bảo hộ bởi vì việc
tìm ra phương pháp phòng và chữa bệnh có tầm quan trọng rất lớn đến lợi ích
cộng đồng, và không thể đưa ra để tư nhân hoá hoặc thương mại hoá được.
- Những sáng chế trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho
quốc phòng, an ninh. Quy định này nhằm mục đích “bảo vệ trật tự công cộng
và đạo đức xã hội, bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người cũng như các
20
sinh vật khác để tránh gây hại nghiêm trọng cho môi trường”
4
[4]. Điều này
của first-to-file là dễ xác định, vì ngày nộp đơn đã được ghi rõ trong đơn đăng
kí bảo hộ. Điều quan trọng là phải nộp đơn sớm và không cần biết ai là người
tạo ra sáng chế trước. Ở ví dụ trên, việc tìm ra ai là người đầu tiên sáng chế ra
máy điện thoại được Cục sáng chế New York xác định dựa trên nguyên tắc
first-to-file. Tuy nhiên hiện nay, Mỹ là một trong số ít nước trên thế giới
không áp dụng nguyên tắc first-to-file mà áp dụng first-to-invent. Nguyên tắc
first-to-invent có vẻ công bằng hơn đối với người đầu tiên tạo ra sáng chế,
nhưng thực tế lại rất khó xác định được thực sự đó có phải là người đầu tiên
không, những bằng chứng đưa ra nhiều khi chỉ mang tính chủ quan của tác
giả. Giữa Bell và Gray quả thực là khó có thể chứng minh được ai là người
sáng chế ra máy điện thoại trước. Trong tương lai, vì những hạn chế của first-
to-invent mà Mỹ chắc chắn sẽ chuyển sang áp dụng hình thức first-to-file.
b) Nguyên tắc ưu tiên
Theo Công ước Paris, bất kì người nào nộp đơn hợp lệ xin cấp patent
tại một nước thành viên của Liên minh sẽ được hưởng quyền ưu tiên khi nộp
đơn đăng kí cho chính sáng chế đó tại các nước thành viên khác. Quyền ưu
tiên đối với đơn đăng kí sáng chế có thời hạn là 12 tháng tính từ ngày ưu tiên.
Ngày ưu tiên được xác định là ngày nộp đơn của đơn đầu tiên.
Quyền ưu tiên đem lại rất nhiều thuận lợi cho người nộp đơn muốn
hưởng bảo hộ tại một hay nhiều nước. Những người khác nộp đơn cho sáng
chế đó sau ngày ưu tiên sẽ không được chấp nhận, còn những tài liệu kĩ thuật
nộp sau ngày ưu tiên cũng không làm mất tính mới hay trình độ sáng tạo của
sáng chế. Người nộp đơn không nhất thiết phải nộp đơn tại quốc gia mình và
tại các nước khác vào cùng một thời điểm, vì quyền ưu tiên trên cơ sở đơn
đầu tiên có thời hạn trong vòng 12 tháng. Trong khoảng thời gian này, họ có
thể tùy ý quyết định xem mình muốn hưởng sự bảo hộ tại quốc gia nào, có thể
22
sắp xếp các bước cần tiến hành để đảm bảo sự bảo hộ tại các quốc gia khác
nhau vì quyền lợi của bản thân.
1.3. Các hình thức nộp đơn
thuộc trách nhiệm của một cơ quan patent quốc gia nào đó do người nộp đơn
lựa chọn.
Hình thức nộp đơn theo PCT mang lại lợi ích cho cả người sử dụng và
các cơ quan patent. Đối với người sử dụng, việc có báo cáo tra cứu quốc tế và
báo cáo thẩm định sơ bộ quốc tế cho phép người nộp đơn cân nhắc kĩ xem có
nên tiếp tục theo đuổi việc nộp đơn ở những nước đã chỉ định hay không. Nếu
thấy rằng sáng chế của mình khó có khả năng được cấp patent thì sẽ không
vào giai đoạn quốc gia nữa. Bằng cách này, người nộp đơn có thể không phải
tốn tiền của và công sức cho việc nộp đơn ra nước ngoài một cách vô ích.
Hơn nữa, thời hạn để đi đến quyết định xem có nên nộp đơn ra nước ngoài
hay không ít nhất là 18 tháng sau khi kết thúc ngày cuối cùng của năm ưu
tiên, một khoảng thời gian khá dài để có thể cân nhắc quyết định chọn nước
nào để bảo hộ sáng chế. Đối với các cơ quan patent, việc xử lý đơn sẽ đơn
giản hơn vì ở giai đoạn quốc tế, đơn đã được thẩm định sơ bộ và tra cứu rồi.
Các cơ quan này có thể mong đợi số đơn nộp vào tăng một cách đáng kể nhờ
cơ chế chỉ định của PCT. Lấy ví dụ Việt Nam, theo thống kê của Cục Sở hữu
trí tuệ, từ năm 1993, sau khi Việt Nam tham gia Hiệp ước Hợp tác sáng chế
PCT, số lượng đơn đăng ký sáng chế của các chủ thể nước ngoài vào Việt
Nam đã liên tục tăng. Riêng năm 2004, số đơn PCT nộp vào Việt Nam đã lên
đến 1.110 đơn, gấp 6 lần tổng số đơn đăng ký sáng chế của năm 1993. Ngoài
ra, Việt Nam cũng đã nhận được một cơ sở dữ liệu đầy đủ về các sáng chế
liên quan đến PCT và cơ sở dữ liệu này góp phần quan trọng vào công tác xét
24
nghiệm các đơn đăng kí tại Cục Sở hữu trí tuệ, đồng thời là một nguồn thông
tin quý giá đối với các hoạt động nghiên cứu, triển khai tại Việt Nam [35].
Ở cả hai hình thức nộp đơn quốc gia và quốc tế, người nộp đơn có thể
trực tiếp nộp hoặc thông qua đại diện sở hữu trí tuệ. Đại diện sở hữu trí tuệ là
tổ chức đứng ra đại diện hoặc tư vấn cho người nộp đơn yêu cầu sáng chế về
các vấn đề liên quan đến xác lập và thực thi quyền.
Bảng 1.1: Các quốc gia đứng đầu trên thế giới về đăng ký sáng chế