Hoạt động nghiên cứu marketing tại công ty Liên doanh Đức Việt TNHH – thực trạng và giải pháp - Pdf 76

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Công ty Liên doanh Đức Việt TNHH là công ty sản xuất và kinh doanh
các sản phẩm thực phẩm chế biến từ thịt lợn như xúc xích các loại, thịt xông
khói, giò, thịt heo an toàn… với hình thức sở hữu là liên doanh giữa Đức và Việt
Nam. Trong thời gian thực tập tại công ty, em đã quan sát và hiểu được cơ bản
những vấn đề tổng quan về công ty như lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức, chức
năng nhiệm vụ của công ty, thấy được tình hình thực hiện hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty nói chung và tình hình thực hiện các hoạt động
marketing nói riêng. Qua quá trình quan sát và tham gia làm việc với công ty em
cũng thấy được những điểm mạnh và những thiếu sót còn tồn tại trong hoạt động
của công ty nói chung và hoạt động marketing nói riêng. Trong các vấn đề nhận
thấy, em quan tâm nhiều nhất đến hoạt động nghiên cứu marketing tại công ty,
vì những lý do sau:
 Mức độ cạnh tranh trên thị trường thực phẩm chế biến ngày càng
gay gắt, nếu không nghiên cứu một cách đầy đủ về khách hàng, về đối thủ
cạnh tranh… thì khó có thể nâng cao năng lực cạnh tranh.
 Việc tìm kiếm thông tin thị trường chỉ được thực hiện bởi các nhân
viên kinh doanh, tính chủ quan, suy đoán rất cao, hơn nữa lại chỉ được
một vài thông tin sơ lược.
 Hoạt động nghiên cứu marketing được công ty tiến hành không
hiệu quả, chỉ thực hiện khi cần phát triển sản phẩm mới, hay tìm kiếm thị
trường mới, song thiếu tính chính xác và bài bản.
 Vai trò của việc tiến hành nghiên cứu định kỳ chưa được công ty
đánh giá cao
Do đó, đề tài mà chuyên đề này nghiên cứu sẽ là:
“Hoạt động nghiên cứu marketing tại công ty Liên doanh Đức Việt
TNHH – thực trạng và giải pháp”

có tên giao dịch là Công ty sản xuất, thương mại và dịch vụ Đức Việt. Tên giao
dịch quốc tế là Duc-Viet service trading and producing company limited.
Tháng 7 năm 2000, ông Mai Huy Tân – hiện là Tổng giám đốc công ty –
nhận được giấy phép đầu tư do sở Kế hoạch Đầu tư Hà Nội cấp, cho phép xây
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
dựng nhà máy để sản xuất ra xúc xích và các sản phẩm thịt. Một nhà xưởng nhỏ,
diện tích gần 200 m
2
đã được xây dựng ở địa bàn quận Thanh Xuân để sản xuất
xúc xích theo công nghệ Đức.
Ngày 7/9/2000, chiếc xúc xích đầu tiên được sản xuất theo công nghệ xúc
xích nổi tiếng của xứ Thueringen (Đức) ra lò, phục vụ cho những người Đức
đang sống ở Hà Nội, những người Hà Nội đã từng sống ở Đức và các khách
hàng trung lưu trở lên khác.
Tuy nhiên, suốt năm đầu, công ty bị thua lỗ do không cạnh tranh được
với xúc xích nhập ngoại mặc dù giá chỉ bằng 1/6 và các loại xúc xích nội địa
khác.
Chiến lược và kế hoạch kinh doanh thay đổi. Đến cuối năm 2001, đầu
năm 2002, doanh thu của công ty tăng 100%, đạt được điểm hòa vốn. Năng lực
và địa vị cạnh tranh của xúc xích Đức Việt được nâng lên đáng kể.
Công ty Liên doanh Đức Việt TNHH
Đến tháng 10 năm 2002, công ty Liên doanh Đức Việt TNHH chính thức
được thành lập theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Bên Việt Nam là Công ty sản xuất, thương mại và dịch vụ Đức Việt (Tên
giao dịch quốc tế: Duc – Viet servive, trading and producing company limited),
trụ sở tại 33 phố Huế, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Bên nước ngoài là công ty CBV
Michel Campioni Gmbh, trụ sở đặt tại Goethestrasse 65, 99096 Erfurt, Cộng hòa
Liên bang Đức. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập có tên gọi là:
CÔNG TY LIÊN DOANH ĐỨC VIỆT TNHH

vật chất này là nơi làm việc của khối kinh doanh của công ty
II. Lĩnh vực kinh doanh
Sản phẩm và khách hàng
Công ty Liên doanh Đức Việt TNHH hoạt động trong ngành thực phẩm,
cụ thể hơn, đó là sản xuất và kinh doanh thực phẩm chế biến và thịt heo an toàn.
Các dòng sản phẩm chủ yếu của Đức Việt như sau:
 Các sản phẩm chế biến:
 Các sản phẩm xúc xích: Xúc xích nướng, xúc xích
hong khói, xúc xích vườn bia, xúc xích thành Vienna, xúc xích
tỏi…
 Các sản phẩm thịt nguội: sườn hong khói, thăn lợn
hong khói, dọi quế hong khói, da bao, đùi hong khói…
 Các sản phẩm giò Việt Nam truyền thống : giò tai,
giò thủ, giò lụa, thịt nấu đông
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
 Các sản phẩm chế biến từ thịt lợn khác: pate gan,
jăm bông hấp, jăm bông giò, jăm bông đùi hong khói…
 Các gia vị: mù tạt cay, mù tạt mật ong, mù tạt tiêu
đen…
 Các sản phẩm tươi sống (thịt heo an toàn): thăn heo, thịt
ba rọi, thịt nạc vai, sườn non, thịt chân giò, đùi heo nguyên xương,
sườn cốtlết, tim heo, bầu dục heo, heo nguyên tảng…
Với những dòng sản phẩm đa dạng trên, khách hàng của công ty thuộc rất
nhiều nhóm khác nhau, bao gồm:
- Người tiêu dùng nội trợ
- Những người nước ngoài, người có thu nhập
khá trở lên
- Người uống bia
- Trẻ em

Khối kinh doanh
(Giám đốc KD)
GĐ KD)
Khối tài chính
(Giám đốc
TC)
Lò mổ
công
nghệ Đức
Nhà
máy chế
biến thịt
sạch
Phân
xưởng
pha lọc
Phân
xưởng
chế biến
Bộ phận
hành
chính
Phòng
kinh
doanh
Phòng
Marketin
g
Phòng
thịt

mọi trách nhiệm về hoạt động của doanh nghiệp trước pháp luật. Tổng giám đốc
là người quyết định đường lối kinh doanh và chỉ đạo thực hiện các hoạt động để
thực hiện đường lối đó.
Bên cạnh việc đại diện phần vốn góp 51% trong hội đồng thành viên, tổng
giám đốc Mai Huy Tân còn chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của công
ty trước hội đồng. Tổng giám đốc có mọi quyền quyết định về nhân sự, tổ chức,
quyết định cách thực thức hiện, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động và chịu trách
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhiệm báo cáo trước hội đồng thành viên về tình hình kinh doanh của doanh
nghiệp.
Phó tổng giám đốc
Công ty Đức Việt có 2 Phó tổng giám đốc: ông Micheal Campioni (người
Đức) và ông Hứa Xuân Sinh (người Việt Nam)
Phó tổng giám đốc là người trực tiếp hỗ trợ Tổng giám đốc thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của mình. Do tính chất là một công ty liên doanh, phong cách
làm việc giữa các quốc gia có sự khác nhau nên 2 Phó tổng giám đốc của công ty
Đức Việt có sự khác nhau về vai trò.
Phó tổng giám đốc người Đức – ông Michel Campioni – giữ vai trò chủ
yếu là giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh, tư vấn, góp ý về đường lối, giải
pháp kinh doanh cho Tổng giám đốc. Ông không can thiệp vào việc quản lý tổ
chức như vấn đề nhân sự, các hoạt động tác nghiệp…
Phó tổng giám đốc người Việt – ông Hứa Xuân Sinh – là người hỗ trợ trực
tiếp tổng giám đốc trong các hoạt động quản lý.. Phó tổng giám đốc có quyền
thay Tổng giám đốc (được ủy nhiệm khi vắng mặt) quyết định các vấn đề về
nhân sự, đường lối kinh doanh (trong phạm vi đã được hội đồng quản trị thông
qua) Các công việc của cả 3 khối sản xuất, kinh doanh và tài chính đều thông
qua sự giám sát, điều hành của phó tổng giám đốc, tuy nhiên, trên thực tế, hoạt
động chủ yếu của Phó tổng giám đốc Hứa Xuân Sinh là quản lý, giám sát hoạt
động của khối kinh doanh và tài chính.

Phòng tài chính – kế toán có nhiệm vụ ghi chép, theo dõi tình hình thực
hiện hoạt động kinh doanh thông qua các con số báo cáo; phân tích, đánh giá
hiệu quả tài chính của công ty trong từng thời kỳ, thực hiện các biện pháp khắc
phục những tồn tại, thiếu sót trong quản lý thu chi và sử dụng tài chính; kiểm
soát và thực hiện các kế hoạch thu chi…
Khối kinh doanh
Khối kinh doanh hiện đang đặt văn phòng ở số 14, ngõ 4, đường Kim
Đồng, Hà Nội, chịu trách nhiệm quản lý, điều hành là giám đốc kinh doanh.
Khối kinh doanh có 3 bộ phận (3 phòng) là: Bộ phận kinh doanh, bộ phận thịt
sạch và bộ phận Marketing.
Bộ phận kinh doanh chịu trách nhiệm chính về hoạt động kinh doanh của
công ty. Tuy nhiên, nhiệm vụ chính và chủ yếu của bộ phận kinh doanh là bán
hàng. Các nhân viên được phân chia chịu trách nhiệm quản lý các thị trường
khác nhau, vừa phân chia theo khu vực (thị trường ngoại tỉnh, thị trường Hà
Nội), vừa phân chia theo dòng sản phẩm (sản phẩm cắt lát, sản phẩm xúc xích
Đức truyền thống…). Nhiệm vụ chính của phòng kinh doanh là tìm kiếm khách
hàng, mở rộng thị trường, giao dịch với khách hàng, tổ chức bán hàng. Trên lý
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thuyết, phòng kinh doanh chịu trách nhiệm cả 2 nhóm sản phẩm là thực phẩm
chế biến và thịt heo an toàn, tuy nhiên, thực tế, do sản phẩm thịt heo an toàn mới
được phát triển và có những tính chất riêng nên phòng kinh doanh chủ yếu chỉ
chịu trách nhiệm kinh doanh sản phẩm thực phẩm chế biến, và chỉ hỗ trợ cho
việc kinh doanh thịt heo an toàn.
Bộ phận thịt sạch có vai trò tương đương với bộ phận kinh doanh, nhưng
chịu trách nhiệm về nhóm sản phẩm thịt heo an toàn. Tất cả các hoạt động liên
quan đến việc tiêu thụ sản phẩm thịt heo an toàn như tìm kiếm thị trường, duy trì
và mở rộng thị trường, các biện pháp, chiến lược kinh doanh… đều do bộ phận
thịt sạch quản lý, điều hành
Bộ phận Marketing thực hiện chức năng chủ yếu là truyền thông về công

toàn
Giết mổ
Làm sốc
Đưa lợn vào
kho lạnh
Pha lọc thịt
Đưa thịt vào
kho
Xông khói
hoặc hấp
Nhồi thịt
Làm nguội
và cắt rời
Xay trộn thịt
Vận chuyển
Lưu kho
thành phẩm
Đóng gói
Xuất bán
thịt sạch
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
 Lợn đạt tiêu chuẩn được đưa vào hành lang lạnh (70
0
C)
Giai đoạn 3: Pha lọc
 Lợn từ giai đoạn trên, sau khi đạt độ lạnh sẽ được đưa
vào kho lạnh pha lọc
 Thịt được pha lọc, tách thành các loại thịt và tách riêng
những phần không cần cho chế biến

hoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng tài chính của công ty nhằm đưa
ra ý kiến đề xuất biện pháp thực hiện hiệu quả hơn. Khối sản xuất và khối kinh
doanh dựa vào các kết quả phân tích đó để quản lý, điều hành hoạt động.
Trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh đó, Tổng giám đốc và 2 Phó
tổng giám đốc luôn quản lý, giám sát và điều hành mọi hoạt động sao cho đúng
với định hướng phát triển của công ty.
IV. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
Năng lực và điều kiện kinh doanh của công ty
Năng lực bản thân công ty
Khả năng tài chính
Công ty liên doanh Đức Việt TNHH được thành lập với vốn pháp định là
900.000 USD vào thời điểm tháng 10 năm 2002. Đến năm 2003, công ty đã đầu
tư xây dựng nhà máy với số vốn đầu tư cho cả 2 giai đoạn (xây dựng nhà máy và
đầu tư dây chuyền công nghệ) là hơn 4 triệu USD. Theo số liệu của phòng kế
toán năm 2005 tổng vốn đầu tư là trên 3 triệu Euro – tương đương với khoảng
4,5 triệu USD. Có thể nói con số trên 3 triệu Euro chưa phải là lớn lắm, song đối
với một công ty hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm, lại thành lập chưa lâu như
vậy thì đây là một con số đáng kể.
Sau đây là bảng cân đối kế toán của công ty năm 2004 và 2005:
Bảng 1: Bảng cân đối kế toán năm 2004 và 2005
Đơn vị tính: đồng
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Chênh lệch
(1) Số tiền (Đ)
(2)
% Số tiền (Đ)
(3)
% Số tiền (Đ)
(4)=(3)-(2)
%
(4):

1. Hàng mua đang đi
đường
0 0
2. Nguyên liệu, vật liệu 0 1.002.955.42
0
1.002.955.42
0
3. Công cụ, phụ tùng 6.600.000 64.182.748 57.582.748
4. Chi phí SXKD dở
dang
0 2.650.565 2.650.565
5. Thành phẩm tồn kho 0 191.347.908 191.347.908
6. Hàng tồn kho 0
IV. TSLĐ KHÁC 0 0 24.190.908 0,09 24.190.908
B. TSCĐ VÀ ĐTDH
12.591.783.65
5
85,9 22.568.411.9
53
84,6 9.976.628.29
8
79,2
I. TSCĐ 1.039.218.5
23
7,09 21.926.230.3
16
82,2 20.88701179
3
2009
1. Nguyên giá 1.039.218.5

I. Nợ Ngắn hạn 928.483.18
9
6,3 1.318.786.29
9
4.9 390.303.110 42,0
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
II. Nợ Dài hạn 8.998.234.0
66
61,4
11.973.631.143
45 2.975.397.07
7
33,1
III. Nợ khác 0 0 0
B. Nguồn vôn CSH 4.737.886.8
83
32,3
13.370.136.013
50,1 8.632.249.13
0
182,
2
I. Nguồn vốn quỹ 4.737.886.8
83
32,3
13.370.136.013
50,1 8.632.249.13
0
182,

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Năm 2005, tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong cơ cấu nguồn vốn đã tăng
lên đáng kể, chiếm 51,1%. Nợ phải trả chỉ còn chiếm 49,9%, trong đó 4,9%
là nợ ngắn hạn. Như vậy, tới năm 2005, công ty vẫn biết sử dụng nguồn vốn
bên ngoài song nguồn vốn của công ty đã được trang bị chủ yếu bằng vốn tự
có, do đó, tính ổn định và chủ động về tài chính đã cao hơn. Các khoản nợ
đều tăng về số tuyệt đối nhưng số tương đối lại giảm đi.
 Một vài hệ số thể hiện khả năng thanh toán:
 Hệ số khả năng thanh toán chung: ( Tổng tài sản/
Nợ phải trả)
Năm 2004 = 14.644.604.138/9.926.717.255 = 1,47527
Năm 2005 = 26.662.553.455/13.292.417.442 = 2,00585
 Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn: ( Tổng tài sản
ngắn hạn/Tổng nợ ngắn hạn)
Năm 2004 = 2.072.820.483/928.483.189 = 2,23248
Năm 2005 = 4.094.141.502/1.318.786.299 = 3,10448
 Hệ số thanh toán nhanh: ((Tổng tài sản ngắn hạn -
hàng tồn kho)/Nợ ngắn hạn)
Năm 2004 = (2.072.820.483-6.600.000)/ 928.483.189 = 2,22537
Năm 2005 = (4.094.141.502-1.261.136.641)/1.318.786.299 = 2,148191
 Hệ số thanh toán tức thời: ((Tiền + Đầu tư ngắn
hạn)/Nợ ngắn hạn)
Năm 2004 = (190.507.913+0)/928.483.189 = 0,205182
Năm 2005 = (786.980.288+24.190.908)/ 1.318.786.299 = 0,61589
Nhận xét: Các hệ số thể hiện khả năng thanh toán của công ty khá tốt, trừ
hệ số thanh toán tức thời còn chưa cao (< 0,8) và hầu hết đều tăng lên vào năm
2005. Điều này cho thấy khả năng thanh toán các khoản nợ của công ty tương
đối ổn định, trong dài hạn ít bị áp lực trả nợ gây rủi ro, tuy nhiên, nếu phải thanh
toán nợ tức thời thì công ty sẽ gặp khó khăn do tài sản là tiền không nhiều. Năm
2006, ước tính hệ số thanh toán tức thời sẽ tăng xấp xỉ 0,8

Việc thông tin liên lạc trong nội bộ được thực hiện chủ yếu qua điện thoại
và thư điện tử. Trước đây, việc quản lý, điều hành mọi hoạt động trong công ty
được ban lãnh đạo thực hiện trực tiếp, qua điện thoại và qua báo cáo bằng văn
bản. Từ tháng 1 năm 2007, công ty đã trang bị phần mềm quản lý bán hàng cho
tất cả các kho phân phối, do đó việc kiểm soát bán hàng đã trở nên thuận tiện và
nhanh chóng hơn rất nhiều. Dự kiến trong tương lai, công ty sẽ tiếp tục sử dụng
các phần mềm quản lý khác, như quản lý hành chính, quản lý tiền lương…
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ngoài việc đầu tư tài sản tại nhà máy và văn phòng, công ty còn đầu tư tủ
bày bán sản phẩm tại các cửa hàng bán thịt sạch, máy nướng cho giới thiệu sản
phẩm tại các quán bia, tủ chứa đồ để giới thiệu sản phẩm tại các cửa hàng, siêu
thị…
Mặc dù công ty thành lập chưa lâu so với những đối thủ khác, song cơ sở
vật chất của Đức Việt cũng đã được trang bị khá đầy đủ. Tuy đây chưa phải là
thế mạnh của công ty nhưng nó cũng đảm bảo điều kiện cần cho công ty đề tham
gia cạnh tranh trên thị trường, để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình.
Nguồn lao động
Hiện tại, công ty Đức Việt có khoảng 200 lao động, trong đó có 140 công
nhân sản xuất, còn lại là nhân viên của khối tài chính – kế toán và khối kinh
doanh.
a. Lao động tại nhà máy sản xuất
Tại nhà máy sản xuất, các công nhân được tuyển chọn đều là những người
có tay nghề cao, thành thạo với công việc. Hầu hết đã tốt nghiệp PTTH, một số
có trình độ Trung cấp, Cao đẳng và Đại học. Với mức lương bình quân
1.200.000 đồng/người/tháng, đây là lực lượng đã giúp cho hoạt động sản xuất
của công ty được duy trì và phát triển nhiều năm qua.
Bên cạnh lực lượng lao động là người Việt Nam, tại nhà máy còn có các
chuyên gia người Đức làm việc. Họ là những người phụ trách kỹ thuật cho dây

Phòng Thịt sạch: Có 3 nhân viên
 01 trưởng phòng
 01 Trợ lý
 01 nhân viên kế toán
Ngoài ra còn có 4 nhân viên hỗ trợ bán hàng tại các kho thuộc sự quản lý của
phòng thịt sạch
Phòng Marketing: hiện tại có 8 nhân viên
 01 trưởng phòng Marketing
 01 nhân viên phụ trách thiết kế marquette
 01 nhân viên phụ trách tiếp thị. Nhân viên này chịu trách
nhiệm quản lý một đội gồm 5 nhân viên Promoter
Các nhân viên của khối kinh doanh phần lớn đều có trình độ từ Trung cấp
trở lên, các nhân viên hỗ trợ bán hàng tại kho trình độ từ THPT trở lên. Thế
mạnh của lực lượng lao động ở đây là mặc dù tuổi trung bình còn trẻ, song khả
năng làm việc của họ rất tốt, nhanh nhẹn, linh hoạt và thành thạo với công việc.
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hầu hết các nhân viên làm việc tại công ty từ những năm đầu công ty mới thành
lập nên khả năng nắm bắt công việc rất tốt, họ chính là lực lượng đã giúp cho
việc kinh doanh của công ty phát triển qua mấy năm thành lập.
Tuy nhiên, nhân viên của khối kinh doanh có một vấn đề lớn mà nếu công
ty không giải quyết được triệt để thì sẽ khó phát huy hết khả năng của các nhân
viên, không khai thác được một cách hiệu quả nguồn nhân lực. Vấn đề có lẽ xuất
phát từ việc khối lượng công việc mà các nhân viên phải thực hiện là tương đối
nhiều, nhưng thù lao nhận được lại không tương xứng (lương bình quân của một
nhân viên là khoảng 1.100.000 đồng/tháng vào năm 2005). Vì lý do đó, các nhân
viên có hiện tượng không còn chuyên tâm vào công việc, không cống hiến hết
mình cho thành công của công ty. Hiện nay có đến 70% nhân viên của khối kinh
doanh đang làm thêm việc tại một công ty khác. Điều này không những làm
giảm hiệu quả công việc của họ tại công ty Đức Việt mà còn ảnh hưởng tới công

đốc.
Ngoài việc quản lý thông qua văn bản báo cáo, các cấp quản lý còn thường
xuyên kiểm tra và điều hành trực tiếp các hoạt động.
Hai tuần một lần, các khối đều có cuộc họp toàn bộ nhân viên, ban lãnh
đạo tập hợp ý kiến của mọi nhân viên đề tìm ra các vấn đề và đưa ra giải pháp.
Do đó, việc giám sát hoạt động được thực hiện rất tốt
Tuy nhiên, nhược điểm của bộ máy quản lý công ty Đức Việt là quản lý
nhân sự chưa tốt. Mặc dù có sự thân thiện giữa các cấp quản lý với nhân viên
song những nguyện vọng thực sự của các nhân viên vẫn chưa được đáp ứng, do
vậy động lực trong lao động bị giảm sút, đây là nguyên nhân dẫn tới việc họ làm
việc cho 2 công ty một lúc. Một số người quản lý cũng rơi vào tình trạng này.
Tóm lại, nguồn lực bên trong công ty Đức Việt khá vững mạnh, tuy nhiên
cũng chưa được khai thác hiệu quả. Nguồn lực nội bộ đã giúp cho công ty phát
triển tốt trong những năm qua, song nếu công ty không tập trung khai thác tốt
hơn, hiệu quả hơn, đặc biệt là nguồn nhân lực thì sự phát triển có thể sẽ không
bền vững, hoặc sẽ chậm lại trong thời gian tới.
Điều kiện môi trường
Môi trường vĩ mô
Các môi trường vĩ mô chủ yếu ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty là môi trường kinh tế, môi trường pháp luật và môi trường
công nghệ; bên cạnh đó, môi trường nhân khẩu học, môi trường tự nhiên và môi
trường văn hóa cúng có ảnh hưởng không nhỏ.
a. Môi trường kinh tế
Sản phẩm của công ty Đức Việt vốn là các sản phẩm cao cấp nên nó chỉ
phù hợp với những người tiêu dùng có thu nhập tương đối khá, vì thế, môi
trường kinh tế ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của toàn ngành nói chung
và công ty nói riêng.
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cách đây khoảng 10 đến 20 năm, khi nền kinh tế trong nước còn chưa

Những ảnh hưởng của môi trường luật pháp còn thể hiện ở những quy
định về bảo hộ thương hiệu, về đăng ký thương hiệu chuẩn và việc thực hiện
các chương trình marketing. Các pano, aphich quảng cáo, các sự kiện phải được
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tổ chức thực hiện theo quy định của pháp luật, các thông tin trên nhãn mác cũng
phải qua kiểm duyệt…
c. Môi trường công nghệ kỹ thuật
Trong thời đại công nghệ phát triển đến chóng mặt như hiện nay, yêu cầu
bắt buộc đặt ra cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp là phải theo kịp
tốc độ phát triển đó. Với một công ty chế biến thực phẩm như Đức Việt, vấn đề
công nghệ được coi như để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm. Hiện nay, nhà
máy sản xuất của công ty đang được trang bị dây chuyền công nghệ hiện đại, từ
lò mổ tới thiết bị pha lọc, chế biến. Tuy nhiên, công nghệ đó có thể nhanh chóng
bị lỗi thời, lạc hậu, vì vậy, quan tâm tới công nghệ mới là việc cần thiết. Hơn
nữa, những công nghệ, kỹ thuật mới sẽ gợi mở cho công ty những cơ hội về sản
phẩm mới, thị trường mới và có thể là hướng đi mới.
Bên cạnh đó, ảnh hưởng của môi trường công nghệ còn thể hiện ở hệ
thống thông tin liên lạc của công ty. Khi công nghệ viễn thông phát triển, việc
liên lạc bằng điện thoại, mạng điện tử, máy fax… làm tăng hiệu quả quá trình
thông tin lên rất nhiều. Tuy nhiên, với mức độ trang bị hiện tại cho thấy công ty
chưa khai thác hết những tiến bộ công nghệ phổ biến.
d. Những ảnh hưởng khác từ môi trường vĩ mô
Những vấn đề về dân số và con người như quy mô, mật độ dân số, phân bố
dân cư, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, kiểu hộ gia đình… là những vấn đề của
môi trường nhân khẩu học có ảnh hưởng quan trọng tới thị trường của công ty.
Những gia đình có con nhỏ, hay nghề nghiệp là cán bộ công chức, hay những
phụ nữ trung tuổi… là đối tượng quan tâm nghiên cứu của công ty.
Là doanh nghiệp thực hiện sản xuất, công ty Đức Việt không thể không
quan tâm đến môi trường tự nhiên. Các chất thải hóa học từ nhà máy phải được

không khí sôi động như toàn ngành thực phẩm chế biến nói chung. Các sản
phẩm thấy nhiều nhất trên thị trường là xúc xích, thịt nguội, đồ hộp, giò chả, …
Chỉ riêng xúc xích đã có đến mấy loại, với rất nhiều nhãn hiệu khác nhau, như
xúc xích ăn liền, xúc xích nướng, xúc xích khô, xúc xích tỏi… Người tiêu dùng
sử dụng nhiều các sản phẩm loại này vì nhu cầu về thức ăn có thịt trong bữa ăn
là không thể thiếu, những thực phẩm chế biến này vừa an toàn, lại tiết kiệm thời
gian, phong phú và cũng không quá đắt so với việc mua thịt sống về chế biến.
Theo ông Mai Huy Tân, hiện nay, mặt hàng xúc xích, thực phẩm chế biến từ thịt,
loại có thương hiệu phải đến hàng chục, loại không có thương hiệu phải đến
hàng nghìn. Các doanh nghiệp có tên tuổi lớn khác hiện nay là Vissan, Hiến
Thành, HaLongcanfoco, Seaspimex, Hapro… Mỗi hãng đều có thế mạnh riêng
cho mình, đặc biệt Vissan, Hiến Thành và HaLongcanfoco là những hãng đã có
mặt trên thị trường Việt Nam nhiều năm nay, thương hiệu đã có vị trí khá vững
chắc trong tâm trí người tiêu dùng. Các doanh nghiệp đều ra sức cạnh tranh với
nhau, từ chủng loại sản phẩm, hương vị, giá cả cho đến mẫu mã, phân phối…
25

Trích đoạn Lợi nhuận sau thuế 357.814 834.165 476.35
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status