ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT TRONG LUẬT LAO
ĐỘNG VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG
HƯỚNG HOÀN THIỆN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG VÀ
TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT 10
1.1. Khái niệm kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất. 10
1.1.1. Khái niệm kỷ luật lao động 10
1. 1. 2. Khái niệm trách nhiệm vật chất 14
1.2. Sự cần thiết quy định trách nhiệm vật chất trong luật lao động 23
1.2.1. Đảm bảo và củng cố mối quan hệ hài hòa, ổn định của các bên
trong quan hệ lao động 23
1.2.2. Đảm bảo lợi ích hợp pháp, chính đáng của các bên tham gia quan
hệ lao động 25
1.3. Điều chỉnh pháp luật về trách nhiệm vật chất trong quan hệ lao
động 26
1.3.1. Phạm vi, đối tượng điều chỉnh 26
1.3.2. Căn cứ áp dụng trách nhiệm vật chất 27
1.3.3. Xác định mức bồi thường và cách thức thực hiện bồi thường 31
1.3.4. Trình tự, thủ tục áp dụng trách nhiệm vật chất 36
1.3.5. Giải quyết tranh chấp 38
CHƯƠNG 2. TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT THEO PHÁP LUẬT
LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 40
2.1. Lược sử hình thành và phát triển quy định pháp luật lao động về
trách nhiệm vật chất ở Việt Nam 40
3
2.2. Thực trạng quy định pháp luật về trách nhiệm vật chất 44
2.2.1. Căn cứ áp dụng trách nhiệm vật chất 45
2.2.2. Xác định mức bồi thường và cách thức thực hiện bồi thường 50
2.2.3. Trình tự, thủ tục và thời hiệu áp dụng trách nhiệm vật chất 57
2.2.4. Giải quyết tranh chấp 65
CHƯƠNG 3. HOÀN THIỆN TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT TRONG
tế của Đảng ta là: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh
tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát
triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo
định hướng xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, Đảng ta cũng khẳng định chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 là chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp [13].
Kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất là một trong những vấn đề
thực tiễn gắn liền với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để
thực hiện được quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải có những
người lao động có tác phong công nghiệp. Không thể sử dụng người lao động
vô kỷ luật, vô tổ chức, không có tác phong công nghiệp để thực hiện và sử
dụng công nghệ hiện đại. Do đó, tác phong công nghiệp là một yêu cầu tất
yếu đối với người lao động trong xã hội công nghệ hiện đại. Nó đồng thời còn
được xem như là một trong những nhân tố quan trọng góp phần đem lại thắng
lợi của công cuộc xây dựng đất nước. Để có được tác phong công nghiệp,
việc tuân thủ kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất của người lao động giữ
một vai trò quan trọng. Chính việc chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về
kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất sẽ tạo và rèn luyện cho người lao
5
động có được tác phong làm việc công nghiệp. Các quy định về thời gian làm
việc, các quy tắc và trật tự trong quá trình làm việc sẽ dần buộc người lao
động tuân thủ đúng kỷ luật lao động, tạo cho họ thói quen chấp hành kỷ luật.
Trên cơ sở đó, người lao động sẽ làm tốt nhiệm vụ được giao.
Vấn đề thiệt hại trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học luật lao
động nói riêng là một vấn đề hết sức nhạy cảm vì nó liên quan trực tiếp đến
những lợi ích vật chất thiết thân của các bên. Trong chế độ trách nhiệm bồi
thường của luật lao động thì trách nhiệm vật chất là một nội dung tương đối
quan trọng. Đây là trách nhiệm của người lao động phải bồi thường thiệt hại
xuất phát từ tính cấp thiết phải làm rõ các quy định của pháp luật về trách
nhiệm vật chất; với mong muốn tìm hiểu, phân tích nguyên nhân thực trạng
và góp ý làm hoàn thiện hơn pháp luật về trách nhiệm vật chất; tôi mạnh dạn
chọn đề tài “Trách nhiệm vật chất trong luật Lao động Việt Nam - thực trạng
và phương hướng hoàn thiện” làm đề tài cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Các công trình nghiên cứu về các chế định của pháp luật lao động Việt
Nam như hợp đồng lao động, tranh chấp lao động, giải quyết tranh chấp lao
động, đình công, tiền lương đã được thực hiện khá nhiều. Tuy nhiên, nghiên
cứu sâu vấn đề về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất lại không nhiều.
Vấn đề về trách nhiệm kỷ luật lao động đã được quan tâm hơn song vấn đề về
trách nhiệm vật chất lại chưa được quan tâm đúng mức.
Giáo trình Luật Lao động của một số trường đại học có viết về trách
nhiệm vật chất như giáo trình Luật lao động của Trường Đại học Luật Hà Nội
năm 2009; giáo trình Luật lao động Việt Nam của trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn năm 1995; giáo trình luật Luật lao động của Đại học Huế (hệ từ
xa) năm 2003. Song, với tư cách là một nội dung trong chế định về kỷ luật lao
7
động thì trách nhiệm vật chất mới chủ yếu được đề cập đến với những vấn đề cơ
bản nhất về khái niệm và nội dung theo quy định của pháp luật hiện hành.
Một số bài viết mang tính chất nghiên cứu trao đổi và các luận văn thạc
sỹ, các luận án tiến sỹ, tuy có đề cập đến trách nhiệm vật chất nhưng lại
thường gắn với trách nhiệm kỷ luật lao động như “Pháp luật về kỷ luật lao
động ở Việt Nam – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” luận án Tiến sỹ
của Trần Thị Thúy Lâm, “Chế độ kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất
trong luật lao động Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” luận văn
thạc sỹ của Đỗ Thị Dung, “Một số vấn đề cơ về kỷ luật lao động trong Bộ luật
Lao động” của Nguyễn Hữu Chí đăng trên tạp chí luật học số 2/1998, “Khái
niệm và bản chất pháp lý của kỷ luật lao động” của Trần Thị Thúy Lâm đăng
chúng một cách phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài trước hết tập trung nghiên cứu làm rõ
mặt lý luận cũng như các quy định của pháp luật lao động về trách nhiệm vật
chất, đồng thời cũng đi sâu tìm hiểu tình hình thực trạng của việc áp dụng
trách nhiệm vật chất ở các doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, đưa ra đánh giá về
thực trạng áp dụng và phương hướng hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu, lý giải và bình luận các quy định của trách nhiệm
vật chất, chúng tôi có nghiên cứu, tham khảo, tìm hiểu quy định của pháp luật
một số nước trên thế giới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Cũng như nhiều khoa học pháp lý khác, trong quá trình tìm hiểu và
nghiên cứu đề tài, luận văn sử dụng phương pháp biện chứng duy vật của chủ
nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như quan điểm đường lối
chính sách của Đảng và Nhà nước về quan hệ lao động trong cơ chế thị
trường nói chung và trách nhiệm vật chất nói riêng làm cơ sở phương pháp
9
luận cho việc tìm hiểu nghiên cứu đánh giá vấn đề theo một quan điểm đúng
đắn, biện chứng và khoa học. Trong từng nội dung cụ thể, luận văn sử dụng
các phương pháp khác nhau một cách có hệ thống và nhất quán nhằm làm
sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu như sử dụng phương pháp thống kê, phân tích,
tổng hợp, điều tra, khảo sát Luận văn cũng sử dụng phương pháp phân tích,
so sánh các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia
điển hình, thu thập kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia trong việc quy
định và áp dụng các vấn đề liên quan đến trách nhiệm vật chất. Từ đó, rút ra
những ưu điểm trong pháp luật quốc tế và một số nước điển hình; xem xét
tính phù hợp với điều kiện của Việt Nam để hướng tới hoàn thiện các quy
định của pháp luật Việt Nam trong việc quy định các vấn đề liên quan đến
trách nhiệm vật chất.
5. Kết cấu của luận văn.
đó luôn được duy trì ở trạng thái cân bằng, ổn định. “Nhờ có kỷ luật nên hoạt
động của con người mang tính chất nề nếp, hướng tới mục tiêu rõ rệt. Điều đó
đảm bảo sự hoạt động bình thường của các tổ chức xã hội” [21]. Kỷ luật trong
xã hội được xây dựng trên những chuẩn mực đạo đức của xã hội hiện hành,
và được thể hiện dưới hình thức là các quy định của pháp luật, quy định của
các tổ chức, hương ước, tập quán Kỷ luật tồn tại ở các dạng như: kỷ luật lao
động, kỷ luật của các tổ chức Đảng, đoàn thể Trong quan hệ lao động, kỷ
luật lao động được coi là tổng thể những quy định có tính chất bắt buộc đối
với các thành viên tham gia quá trình lao động.
Tính chất của kỷ luật lao động do quan hệ sản xuất thống trị trong xã
hội mà trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định. Mỗi khi
phương thức sản xuất xã hội thay đổi thì bản chất và hình thức kỷ luật cũng
11
thay đổi. Dưới chế độ cộng sản nguyên thủy, tự giác và bình đẳng là những
nguyên tắc ứng xử trong quan hệ lao động cũng như phân phối sản phẩm.
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, chủ nô có quyền lực vô hạn đối với nô lệ
và gia đình họ. Bản thân người nô lệ cũng như mọi thành quả lao động của họ
làm ra đều thuộc sở hữu của chủ nô. Kỷ luật lao động được đặc trưng bằng
chế độ lao động cưỡng bức và bóc lột tàn nhẫn của chủ nô đối với nô lệ.
Trong xã hội phong kiến, địa chủ chiếm giữ hầu hết đất đai, người nông
dân không có đất, phải làm công cho địa chủ và bị bóc lột thậm tệ bằng hình
thức địa tô và bằng các hình thức lao dịch khác. “Kỷ luật lao động do địa chủ
đặt ra rất tàn bạo, dựa vào roi vọt, kỷ luật mang tính chất nhục mạ và bạo
ngược, vô lý nhất, trắng trợn nhất và thô bạo nhất đối với con người” [35].
Trong xã hội tư bản, giai cấp tư sản chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu
của xã hội. Người công nhân không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động
của mình, phải làm thuê. “Giai cấp tư sản dùng thủ đoạn cưỡng bức về kinh tế,
đó là dùng tiền lương để cưỡng bức. Mất việc, không lương, người công nhân
sẽ lâm vào tình cảnh không nhà, đói rét. Kỷ luật lao động trong xã hội tư bản là
Trong một doanh nghiệp, kỷ luật lao động là “việc tuân theo thời gian,
công nghệ và điều hành sản xuất kinh doanh thể hiện trong nội quy lao động”
(Điều 82 Bộ luật Lao động). Kỷ luật lao động tập trung vào duy trì trật tự, nề
nếp trong lao động của doanh nghiệp, bao gồm những vấn đề cơ bản sau: thời
gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi; trật tự trong doanh nghiệp; an toàn lao
động, vệ sinh nơi làm việc; bảo vệ tài sản, bí mật công nghệ, kinh doanh của
đơn vị; hành vi vi phạm kỷ luật lao động; hình thức xử lý kỷ luật lao động và
trách nhiệm vật chất. Như vậy, trong doanh nghiệp, người sử dụng lao động
căn cứ vào các quy định của pháp luật lao động xây dựng nên những khuôn
13
mẫu buộc người lao động phải tuân theo. Khi người lao động không tuân thủ
những khuôn khổ đó, họ phải chịu những hậu quả pháp lý nhất định.
Để làm rõ hơn về kỷ luật lao động, chúng ta hãy phân biệt kỷ luật lao
động trong doanh nghiệp với kỷ luật hành chính áp dụng cho cán bộ, công
chức trong các cơ quan nhà nước (kỷ luật hành chính). Sự khác biệt thể hiện ở
các điểm sau:
Thứ nhất, kỷ luật lao động được áp dụng cho người lao động tham gia
vào quan hệ lao động làm công ăn lương. Quan hệ này được xác lập với
người lao động theo hợp đồng lao động. Kỷ luật hành chính được áp dụng cho
cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước. Những người này được tuyển
dụng chủ yếu bằng hình thức thi tuyển vào biên chế.
Thứ hai, kỷ luật lao động chỉ được áp dụng khi người lao động thực
hiện các quyền và nghĩa vụ lao động trong thời gian làm việc tại doanh
nghiệp hoặc theo yêu cầu của người sử dụng lao động. Trong khi đó, kỷ luật
hành chính được áp dụng trong một không gian và thời gian không hạn chế.
Cho dù người cán bộ công chức thực hiện hành vi vi phạm đạo đức, danh dự
nghề nghiệp ngoài phạm vi cơ quan nhà nước, ngoài giờ làm việc, ở địa
phương này hay bất cứ địa điểm nào khác, thì họ cũng sẽ bị xử lý kỷ luật.
Thứ ba, người lao động trong quan hệ lao động chịu trách nhiệm trước
Như vậy, trách nhiệm vật chất trong quan hệ lao động là loại trách
nhiệm pháp lý do người sử dụng lao động áp dụng với người lao động bằng
cách bắt buộc người lao động phải bồi thường những thiệt hại về tài sản do
hành vi vi phạm kỷ luật lao động của họ gây ra.
Trách nhiệm vật chất áp dụng đối với người lao động trong quan hệ lao
động là một loại trách nhiệm pháp lý được quy định trong luật lao động. Quy
15
định về trách nhiệm vật chất trong luật lao động là thể chế hóa quy định của
Hiến pháp về quyền sở hữu về vốn và tài sản trong doanh nghiệp. Điều 22
Hiến pháp nước ta đã quy định: “Các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi
thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, vốn và tài sản hợp pháp
được Nhà nước bảo hộ” và Điều 58 quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền sở
hữu hợp pháp của công dân”.
Việc buộc người lao động bồi thường những thiệt hại về tài sản do hành
vi vi phạm kỷ luật lao động không chỉ nhằm bảo đảm quyền sở hữu của người
sử dụng lao động mà còn góp phần vào việc đảm bảo và tăng cường kỷ luật
trong các đơn vị sử dụng lao động. Đồng thời, nó còn nâng cao ý thức của
người lao động trong việc chấp hành kỷ luật, buộc người lao động phải tuân
thủ các quy định về kỷ luật lao động mà người sử dụng lao động đã đặt ra.
Tuy nhiên, bồi thường thiệt hại theo trách nhiệm vật chất hầu như lại
chỉ được quy định trong hệ thống pháp luật các nước xã hội chủ nghĩa (cũ).
Còn đa số các nước khác, đặc biệt những nước có nền kinh tế thị trường phát
triển lại không có quy định riêng về loại trách nhiệm pháp lý này. Lý do cơ
bản để pháp luật các nước không có quy định riêng về trách nhiệm này trong
luật lao động, bởi họ cho rằng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong luật lao
động cũng chính là bồi thường thiệt hại về tài sản. Người lao động nếu đã gây
thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động (dù đó là hành vi vi phạm kỷ
luật lao động hay không vi phạm kỷ luật lao động) thì cũng đều có trách
nhiệm phải bồi thường và vấn đề bồi thường đã được quy định trong luật dân
Thứ tư, tài sản bị thiệt hại thuộc quyền quản lý, sử dụng, bảo quản, lưu
giữ hoặc chế biến của người lao động dựa trên chức năng, nhiệm vụ của
người lao động hoặc hợp đồng trách nhiệm.
17
Sự phát sinh trách nhiệm vật chất có ảnh hưởng, liên quan trực tiếp đến
đời sống người lao động cũng như vấn đề tổ chức lao động sản xuất của các
đơn vị sử dụng lao động. Do vậy, để áp dụng trách nhiệm vật chất đúng đắn
và hiệu quả, cần phải có những căn cứ cụ thể.
c. Phân biệt trách nhiệm vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại
trong luật lao động
Trong các quy định của luật lao động, chúng ta gặp khá nhiều các quy
định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các bên trong quan hệ lao động.
Trách nhiệm bồi thường chủ yếu tập trung vào ba nội dung là: trách nhiệm
bồi thường do vi phạm hợp đồng; trách nhiệm bồi thường tính mạng sức
khỏe; trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong luật lao động là loại bồi thường
phát sinh khi một trong các bên chủ thể gây thiệt hại cho bên kia trong quá
trình thực hiện các quyền và nghĩa vụ lao động, được các quy phạm pháp luật
lao động điều chỉnh. Khi một bên trong quan hệ lao động mà có hành vi gây
thiệt hại cho phía bên kia, thì việc bồi thường thiệt hại có thể được đặt ra phù
hợp với các quy định của pháp luật.
Như vậy, trách nhiệm vật chất quy định trong chế độ kỷ luật và trách
nhiệm vật chất được phân biệt với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ở những
điểm sau:
Về phạm vi áp dụng: Trách nhiệm vật chất chỉ là một nội dung trong
trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản của trách nhiệm bồi thường thiệt
hại trong luật lao động. Trách nhiệm vật chất chỉ được áp dụng trong trường
hợp người lao động vi phạm kỷ luật lao động được quy định trong nội quy lao
động hoặc vi phạm sự quản lý điều hành của người sử dụng lao động, còn
19
Về đối tượng và phạm vi áp dụng: Trách nhiệm vật chất trong luật lao
động chỉ áp dụng đối với người lao động làm công ăn lương theo hợp đồng
lao động trong doanh nghiệp có hành vi vi phạm kỷ luật lao động gây thiệt hại
về tài sản cho người sử dụng lao động. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
luật dân sự được áp dụng đối với hành vi gây thiệt hại đến những lợi ích được
pháp luật bảo vệ. Những tổn hại này có thể là những tổn hại về vật chất và tổn
hại về tinh thần. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo luật dân sự có trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự và trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Về căn cứ áp dụng: Hành vi vi phạm trong trách nhiệm vật chất chỉ
giới hạn trong quan hệ lao động. Tức là người lao động chỉ khi nào đang thực
hiện các quyền và nghĩa vụ lao động theo hợp đồng lao động mà có hành vi vi
phạm nội quy lao động gây thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động thì
mới phải chịu trách nhiệm vật chất. Những hành vi gây thiệt hại về tài sản cho
người sử dụng lao động ngoài phạm vi quan hệ lao động, ngoài thực hiện
nghĩa vụ lao động thì không thuộc phạm vi áp dụng trách nhiệm vật chất. Bồi
thường thiệt hại theo quy định của luật dân sự được xác định trong trường hợp
có các hành vi vi phạm hợp đồng dân sự, hay một số trường hợp bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng cụ thể do Bộ luật dân sự quy định. Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại trong luật dân sự được áp dụng có cả lỗi vô ý và cố ý.
Nguyên tắc bồi thường: Trong trách nhiệm vật chất, việc bồi thường
được thực hiện theo nguyên tắc: chỉ bồi thường thiệt hại trực tiếp về tài sản,
một số trường hợp chỉ bồi thường một phần thiệt hại, việc bồi thường thực
hiện theo cách trừ dần vào lương. Trong khi đó, bồi thường thiệt hại theo quy
định của luật dân sự là bồi thường toàn bộ, kịp thời nhằm khôi phục tình trạng
ban đầu trước khi xảy ra thiệt hại. Việc bồi thường được áp dụng với cả thiệt
20
nghĩa vụ theo hợp đồng.
Về thiệt hại vật chất, thì trong trách nhiệm vật chất, tài sản bị thiệt hại
phải thuộc quyền quản lý sử dụng, lưu trữ của người lao động, còn trách
nhiệm tài sản trong quan hệ hợp đồng kinh tế, tài sản bị thiệt hại có thể của
một hoặc hai bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng kinh tế.
Trong áp dụng trách nhiệm vật chất, chỉ khi nào người lao động có lỗi
trong hành vi gây thiệt hại tài sản mới phải bồi thường. Người sử dụng lao
động phải chứng minh được lỗi của người lao động. Lỗi để áp dụng trách
nhiệm tài sản trong quan hệ hợp đồng kinh tế là lỗi suy đoán, nghĩa là, khi
một bên không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ hợp đồng thì đương
nhiên bị coi là có lỗi. Chỉ trong trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp
luật thì bên vi phạm được xét giảm, miễn trách nhiệm tài sản.
Về nguyên tắc bồi thường: Trách nhiệm vật chất trong luật lao động
được áp dụng theo nguyên tắc bồi thường những thiệt hại trực tiếp, bồi
thường từng phần. Còn trong trách nhiệm tài sản, bên vi phạm bồi thường
không chỉ những thiệt hại trực tiếp mà cả những thiệt hại gián tiếp, bao gồm
giá trị số tài sản mất mát, hư hỏng kể cả tiền lãi phải trả cho ngân hàng hoặc
cả các khoản thu nhập trực tiếp và thực tế không thu được do vi phạm hợp
đồng với đầy đủ chứng cứ rõ ràng, hợp lệ; số chi phí để ngăn chặn và hạn chế
thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra.
g. Phân biệt trách nhiệm vật chất trong luật lao động và trách nhiệm bồi
thường thiệt hại khi đình công bất hợp pháp gây thiệt hại cho người sử dụng
lao động
Trong thực tế, nhiều cuộc đình công không những diễn ra bất hợp pháp
mà còn gây thiệt hại cho người sử dụng lao động. Vì vậy, để giảm thiểu
những thiệt hại này và bảo vệ lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động,
22
pháp luật đã có những quy định về bồi thường thiệt hại khi đình công bất hợp
pháp gây thiệt hại cho người sử dụng lao động. Như vậy, cả trách nhiệm vật
bảo hiểm xã hội và. Tuy nhiên, nếu tổ chức công đoàn phải bồi thường thì
nguồn chi phí được lấy từ quỹ công đoàn.
Tóm lại, cùng là nghĩa vụ bồi thường cho người lao động người sử
dụng lao động nên các quy định về mức bồi và cách thức thực hiện bồi
thường của hai loại trách nhiệm là tương đối giống nhau, chỉ có điểm khác là
bồi thường khi đình công trái pháp luật còn có có những quy định về trách
nhiệm của tổ chức.
1.2. Sự cần thiết quy định trách nhiệm vật chất trong luật lao động
Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và quy định về
trách nhiệm vật chất trong luật lao động nói riêng đã trải qua chặng đường dài
phát triển cùng với lịch sử phát triển của đất nước. Điều này đã góp phần làm
minh thị hơn những quy định của pháp luật, đề cao ý thức trách nhiệm của
mỗi cá nhân và các tổ chức trước Nhà nước, trước xã hội về những thiệt hại
trái pháp luật và cũng là căn cứ chặt chẽ để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
bên bị xâm phạm một cách có hiệu quả nhất. Quy định về trách nhiệm vật
chất không những đảm bảo và củng cố được mối quan hệ hòa hòa và ổn định
của các bên mà nó còn góp phần trong việc đảm bảo lợi ích hợp pháp, chính
đáng của các bên trong quan hệ lao động.
1.2.1. Đảm bảo và củng cố mối quan hệ hài hòa, ổn định của các bên trong
quan hệ lao động
Mỗi chủ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội đều xác lập những
quyền và nghĩa vụ cụ thể với nhau, việc thực hiện nghĩa vụ của chủ thể này là
điều kiện để đảm bảo quyền của chủ thể khác. Nếu chủ thể có nghĩa vụ không
thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình sẽ xâm hại quyền lợi của các để giữ
24
mối quan hệ của các bên được ổn định, hài hòa, đòi hỏi mỗi bên phải thực
hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của mình, tôn trọng quyền và lợi ích hợp
pháp của nhau. Tuy nhiên, không phải lúc nào kỷ luật lao động cũng được tôn
trọng mà nguyên nhân chủ yếu là do ý thức tham gia quan hệ của các bên còn