LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy,
chính xác và trung thực. Những kết luận khoa
học của luận văn chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Minh Hiếu
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN
6
CÔNG TY
1.1.
Chứng khoán công ty
18
1.2.2.
Bản chất phát hành chứng khoán công ty
20
1.2.3.
Các hình thức phát hành chứng khoán công ty
21
1.2.4.
Bảo lãnh phát hành chứng khoán công ty
22
1.3.
Quy định về hoạt động phát hành chứng khoán công ty ở
một số nước trên thế giới
24
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ PHÁP LUẬT PHÁT HÀNH CHỨNG
30
Quản lý nhà nước đối với hoạt động phát hành chứng khoán
công ty
45
2.2.
Thực trạng hoạt động phát hành chứng khoán công ty
48
2.2.1.
Phát hành chứng khoán riêng lẻ
48
2.2.2
Chào bán chứng khoán ra công chúng
49
2.2.2.1. Khả năng tham gia của các tổ chức nước ngoài vào hoạt động
chứng khoán và phát hành chứng khoán công ty ở Việt Nam
49
Hoàn thiện một số nội dung cơ bản về pháp luật phát hành
chứng khoán công ty
78
3.2.2
Hoàn thiện văn bản pháp luật liên quan đến phát hành chứng
khoán công ty
87
KẾT LUẬN
93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
96
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Từ khi đi vào hoạt động đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã
khẳng định tính đúng đắn của đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước
trong việc phát triển thị trường và xem thị trường chứng khoán là kênh huy
động vốn quan trọng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. So
với lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán thế giới, thị trường chứng
doanh nghiệp Việt Nam còn lúng túng trong việc thực thi pháp luật về phát
hành chứng khoán và áp dụng có hiệu quả các quy định pháp lý để phục vụ
mục đích kinh doanh của công ty mình.
Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán cũng cần phải tạo tính thanh
khoản cao cho các loại chứng khoán được niêm yết, tạo điều kiện cho các mã
chứng khoán mới phát hành phát huy được tiềm năng của nó, tạo "sân chơi"
bình đẳng cho các nhà đầu tư và các công ty phát hành chứng khoán, hạn chế
và loại bỏ những hành vi vi phạm làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia. Điều này đòi hỏi, pháp luật về phát
hành chứng khoán phải không ngừng được hoàn thiện để tăng cường về số
lượng cũng như chất lượng chứng khoán phát hành đáp ứng lòng mong mỏi
của các tổ chức phát hành và những người tham gia trên thị trường chứng khoán.
Từ những lý do trên nên tôi đã chọn đề tài "Pháp luật về phát hành
chứng khoán công ty ở Việt Nam - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện"
làm luận văn tốt nghiệp của mình với mong muốn tìm hiểu thực tiễn và đóng
góp ý kiến để xây dựng và hoàn thiện hơn nữa các quy định về phát hành
chứng khoán công ty.
2. Tình hình nghiên cứu luận văn
Trước hết, cần nhận định rằng đề tài về "chứng khoán" nói chung và
"Phát hành chứng khoán" nói riêng là những đề tài rất mới trong điều kiện
nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế như hiện
nay. Luật Chứng khoán 2006 có hiệu lực được hơn 1 năm, do đó hệ thống các
2
văn bản dưới Luật về chứng khoán đang trong quá trình được hình thành,
những văn bản quy phạm pháp luật trước đó đã có nhiều thay đổi kể từ khi
ban hành Luật Chứng khoán 2006.
Trước kia đã có một số luận văn tốt nghiệp đề cập đến đề tài về chứng
hoàn thiện hệ thống pháp luật về phát hành chứng khoán công ty ở Việt Nam.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Trước hết, luận văn nêu và phân tích các khái niệm cơ bản về chứng
khoán, phát hành chứng khoán công ty, quy định về pháp luật phát hành
chứng khoán công ty... Trong phần này, xin đề cập và so sánh với các quy
định của pháp luật nước ngoài về phát hành chứng khoán công ty, đặc biệt là
chào bán chứng khoán ra công chúng.
- Phân tích thực trạng pháp luật phát hành chứng khoán công ty, trong
đó có đưa ra các số liệu, dữ liệu thực tiễn từ các nguồn khác nhau, các hành vi
vi phạm trong lĩnh vực này... Phần này chủ yếu tập trung vào những quy định
bất cập của pháp luật hiện hành khi áp dụng vào thực tiễn, có những phần mà
pháp luật chưa điều chỉnh tới và ảnh hưởng của nó đối với thị trường chứng
khoán như thế nào.
- Trên cơ sở thực tiễn pháp luật hiện hành về phát hành chứng khoán
công ty, đưa ra các giải pháp trước mắt và lâu dài đối với pháp luật phát hành
chứng khoán cũng như các quy định pháp luật có liên quan nhằm tạo ra một
hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán hiệu quả, khách
quan, đảm bảo sự công bằng, minh bạch của thị trường chứng khoán trong đó
có phát hành chứng khoán.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Như đã đề cập ở trên, Phát hành chứng khoán công ty gồm có hai loại
là chào bán chứng khoán ra công chúng và phát hành chứng khoán riêng lẻ.
Đối với chào bán chứng khoán ra công chúng, chúng ta đã có nhiều văn bản
pháp luật quy định về vấn đề này từ văn bản Luật như Luật Chứng khoán
2006 đến nghị định và thông tư hướng dẫn. Về phát hành chứng khoán riêng
4
lẻ, đến nay vẫn chưa có văn bản cụ thể nào quy định về loại phát hành này.
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG
VỀ PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN CÔNG TY
1.1. CHỨNG KHOÁN CÔNG TY
1.1.1. Khái niệm chứng khoán công ty
Lịch sử chứng khoán bắt nguồn từ năm 1453. Vào thời điểm này một
thương gia người Bỉ là Van De Buerzo đã có sáng kiến tổ chức một cái chợ
tại tư dinh của mình ở Bruges là nơi trao đổi các thương phiếu cho các thương
nhân cần vàng và tiền mặt trong các chuyến đi buôn của họ. Sau đó vào năm
1531 chợ này dời về Artwerpas và phát triển sôi động. Nhiều thương nhân từ
nhiều nước đã đến trao đổi các loại giấy tờ có giá. Đến năm 1531 đã triển khai
các nghiệp vụ trao đổi về chứng khoán là các khoản nợ của Chính phủ Hà
Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp và Anh tại Artwerpas. Đến cuối thế kỷ
XVI, Tây Ban Nha xâm chiếm và cướp đoạt Artwerpas thì thị trường chứng
khoán sụp đổ. Nhưng sau đó thì các thị trường chứng khoán Lion ra đời năm
1545, thị trường chứng khoán London ra đời năm 1566 và thị trường chứng
khoán Amsterdam ra đời năm 1608 mà ngày nay gọi là Stock Exchange. Đến
thế kỷ thứ XVIII thị trường chứng khoán Paris (Pháp), Berlin (Đức) và Viên
(Áo) mới ra đời. Đến giữa thế kỷ thứ XIX thì các thị trường chứng khoán ở
Châu Âu rất hưng thịnh. Vào thế kỷ XX thị trường chứng khoán New York
đóng vai trò quan trọng nhất, tiếp theo là các thị trường chứng khoán Tokyo,
rồi đến Paris và Frankfukt.
Khi thị trường mới bắt đầu hoạt động, các hợp đồng mua bán chỉ là
những mẫu giấy nhỏ (ngày nay vẫn còn dùng trên sàn) do các nhà môi giới
viết và các em nhỏ giúp việc chạy giao. Vào năm 1867, bộ máy ghi chứng
khoán (Stock tickers) được đưa vào hoạt động để ghi lại các diễn biến mua
bán. Hình ảnh quen thuộc ký hiệu các cổ phần, giá sau cùng, lên xuống và số
7
- Căn cứ vào lợi tức thu được từ chứng khoán: Chúng ta phân chia
thành chứng khoán có lợi tức cố định, chứng khoán không có lợi tức cố định
(lợi tức bất định).
- Căn cứ vào chủ thể phát hành chứng khoán: Chúng ta phân chia thành
chứng khoán chính phủ; chứng khoán của chính quyền địa phương; chứng
khoán công ty,....
Theo quy định của Luật Chứng khoán 2006 có hiệu lực ngày 01/1/2007,
thì chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người
sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành.
Khái niệm nêu trong Luật Chứng khoán 2006 là khá súc tích, khái
quát được đầy đủ bản chất của chứng khoán, giúp cho những người nghiên
cứu về chứng khoán hiểu và vận dụng trong thực tiễn phát hành chứng khoán
công ty.
1.1.2. Đặc điểm của chứng khoán công ty
Chứng khoán công ty là một loại chứng khoán vì thế nó mang đầy đủ
đặc điểm của chứng khoán nói chung giúp phân biệt nó với những giấy tờ có
giá khác trên thị trường tài chính, bên cạnh đó chứng khoán công ty còn có
những đặc trưng khác, nói lên bản chất của nó trong mọi hoạt động giao dịch
của thị trường. Trước hết, chứng khoán công ty có những đặc điểm chung của
chứng khoán đó là: tính thanh khoản, tính sinh lời và tính rủi ro:
- Đặc điểm nổi bật là tính thanh khoản cao. Nhờ có thị trường chứng
khoán mà các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành
tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh toán là
một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với nhà đầu tư. Đây là
yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. Thị trường chứng
khoán hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các
- Cuối cùng là tính rủi ro, có thể nói sự "hấp dẫn" của chứng khoán là
tính sinh lời và thanh khoản thì sự "e ngại" của các nhà đầu tư nằm ở đặc tính
này. Khi tham gia thị trường chứng khoán, khi trao đổi chứng khoán, các nhà
đầu tư luôn ý thức được tính rủi ro của chứng khoán. Nếu như lợi nhuận của
9
việc tham gia "chơi chứng khoán" mang lại cho nhà đầu tư bao nhiêu thì
"nguy cơ" nhà đầu tư bị mất khoản tiền tương đương (hoặc cao hơn) lợi nhuận
mà họ mong muốn nhận được là bấy nhiêu, tức là khi tham gia thị trường
chứng khoán, tham gia "chơi chứng khoán" thì nhà đầu tư luôn ý thực được
rằng lợi nhuận và rủi ro là tỷ lệ thuận với nhau (tức là khả năng sinh lợi càng
cao thì rủi ro càng lớn và ngược lại khả năng sinh lợi càng thấp thì rủi ro càng
ít). Có ba loại rủi ro trong chứng khoán là: Rủi ro không thanh toán tức là
nguy cơ mất một phần hoặc toàn bộ vốn đầu tư do phá sản của tổ chức phát
hành chứng khoán; Rủi ro thị trường là loại rủi ro bị chi phối bởi yếu tố giá cả
tác động đến, việc giá cả lên xuống của thị trường sẽ tạo nên rủi ro thị trường,
mà việc thay đổi giá cả là xuất phát từ sự kiện chính trị, thay đổi, ban hành
chính sách kinh tế; Rủi ro lạm phát là rủi ro bị ảnh hưởng bởi yếu tố lạm phát,
tức là nền kinh tế bị lạm phát và không thể kiểm soát nổi giá trị của đồng tiền,
rủi ro lạm phát có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến chứng khoán và thị trường
chứng khoán, nó có thể gây ra tổn thất to lớn cho các nhà đầu tư chứng khoán.
Ngoài những đặc điểm chung của chứng khoán, chứng khoán công ty
còn mang trong mình những đặc trưng riêng biệt giúp chúng ta phân biệt rõ
ràng giữa chứng khoán công ty với các loại chứng khoán khác trong nền kinh
tế. Những đặc trưng này luôn đi kèm với chứng khoán công ty và nếu thiếu
một trong các đặc trưng đó thì không thể coi là chứng khoán công ty mà nó sẽ
biến thể thành một loại chứng khoán khác.
- Đặc trưng về chủ thể: Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm
Cổ phiếu thường được hiểu là loại giấy tờ có giá chứng nhận cổ phần
do công ty cổ phần chuyển nhượng cho nhà đầu tư và người sở hữu có quyền
được hưởng lợi ích, đồng thời cũng phải gánh chịu trách nhiệm cùng với
những rủi ro của công ty. Khi một công ty cổ phần gọi vốn để thành lập hoặc
mở rộng, hiện đại hóa sản xuất, thì số vốn đó được chia thành nhiều phần nhỏ
bằng nhau gọi là cổ phần, người mua cổ phần gọi là cổ đông. Giấy chứng
nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu. Có quan niệm cho rằng, cổ phiếu là một
chứng thư xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữu hợp pháp của một chủ thể
đối với tài sản của công ty cổ phần.
11
Theo quy định của Luật Chứng khoán 2006 thì cổ phiếu là loại chứng
khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần
vốn cổ phần của tổ chức phát hành.
Khái niệm trong Luật Chứng khoán 2006 quy định chủ thể phát hành
là "tổ chức phát hành" nói chung, như vậy tất cả các tổ chức có hoạt động
phát hành cổ phiếu đều là đối tượng điều chỉnh của Luật Chứng khoán 2006.
Chính công ty cổ phần đã khai sinh ra cổ phiếu và chỉ có công ty cổ
phần mới được phát hành cổ phiếu. Các cổ đông - người mua cổ phiếu của
công ty - là người hùn vốn cùng công ty hoạt động, là người chủ sở hữu công
ty. Vì vậy, cổ phiếu còn được gọi là chứng khoán vốn.
Cổ phiếu là loại chứng khoán chủ yếu được giao dịch trên thị trường,
là kênh huy động vốn hữu hiệu nhất mà đơn vị phát hành muốn thông qua đó
thu hút vốn tối đa. Cổ phiếu có 4 đặc điểm chính sau:
+ Là chứng chỉ có giá, phản ánh quan hệ góp vốn vào công ty giữa
nhà đầu tư và công ty phát hành được pháp luật công nhận và bảo hộ;
+ Là văn bản ghi nhận sự góp vốn vào công ty do đó cổ phiếu là cơ sở
xác lập quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ góp vốn, là căn cứ quan
chứng thư xác nhận một khoản nợ của tổ chức phát hành đối với người sở
hữu trái phiếu (trái chủ), trong đó cam kết sẽ trả số tiền gốc kèm với số tiền
lãi trong một thời hạn nhất định.
Theo quy định của Luật Chứng khoán 2006 thì trái phiếu là loại chứng
khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần
vốn nợ của tổ chức phát hành.
Về cơ bản, khái niệm trái phiếu và cổ phiếu trong Luật Chứng khoán
2006 có cách tiếp cận khá giống nhau, mặc dù bản chất của hai loại chứng
khoán này là khác nhau.
Phát hành trái phiếu là một phương thức huy động vốn trung và dài
hạn mang hiệu quả cao. Các loại trái phiếu đa dạng hình thành trên cơ sở nhu
13
cầu, sở thích của cả nhà đầu tư và nhu cầu huy động, sử dụng vốn của công ty
phát hành, tạo cơ hội cho cả nhà đầu tư và công ty phát hành đạt được mục
đích của mình. Việt Nam đang khuyến khích và mở rộng các loại trái phiếu
công ty được phép lưu hành để nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường
vốn trung và ngắn hạn.
* Một số loại chứng khoán phái sinh
Trên thị trường chứng khoán, bên cạnh các giao dịch mua bán chứng
khoán vốn, chứng khoán nợ, còn có giao dịch mua bán các chứng từ tài chính
khác như chứng quyền, chứng khế… Các chứng từ tài chính này được ra đời
từ các giao dịch chứng khoán và được quyền chuyển đổi sang chứng khoán
qua mua bán. Do đó, người ta gọi chúng là chứng từ có nguồn gốc tài chính
hoặc các chứng khoán phái sinh.
- Chứng quyền
Chứng quyền hay còn gọi là quyền đặt mua là một chứng thư do công ty
cổ phần phát hành cho cổ đông, xác nhận quyền của cổ đông được mua một số
thực hiện quyền của mình, họ có thể bán lại chứng quyền trên thị trường
chứng khoán theo giá thị trường hiện hành để hưởng một phần chênh lệch giá
và phải chấp nhận "hiệu ứng pha loãng" đối với phần tài sản thuộc sở hữu của
họ trong công ty.
Giá chứng quyền phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Giá trị của chứng
quyền, thời hạn còn lại của chứng quyền, xu hướng biến động về mệnh giá
của cổ phiếu ấn định trong chứng quyền.
Luật Chứng khoán 2006 quy định chứng quyền là loại chứng khoán
được phát hành cùng với việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho
phép người sở hữu chứng khoán được quyền mua một số cổ phiếu phổ thông
nhất định theo mức giá đã được xác định trước trong thời kỳ nhất định.
- Hợp đồng quyền lựa chọn
Hợp đồng quyền lựa chọn là hợp đồng được ký kết giữa một bên là
"người ký phát" và một bên là người mua hợp đồng, trong đó cho phép người
mua hợp đồng được quyền mua hoặc bán cho người ký phát hợp đồng một số
15
lượng chứng khoán, với giá cả nhất định và trong một thời hạn quy định của
tương lai.
Quyền lựa chọn có hai loại:
(1) Quyền chọn mua: cho phép người mua hợp đồng được quyền mua
một số lượng chứng khoán nhất định với giá cả nhất định, trong một thời hạn
quy định của tương lai. Người mua hợp đồng phải trả cho người bán hợp đồng
một khoản phí gọi là phí chọn mua.
(2) Quyền chọn bán: cho phép người mua được quyền bán một số lượng
chứng khoán nhất định, với giá cả nhất định, trong một thời hạn quy định
trong tương lai. Người mua hợp đồng phải trả cho người bán hợp đồng một
khoản phí gọi là phí chọn bán.
của công ty phát hành cho nhà đầu tư theo các trình tự, thủ tục do pháp luật
quy định. Trong đó có hai hình thức phát hành là phát hành chứng khoán
riêng lẻ và chào bán chứng khoán ra công chúng.
Pháp luật phát hành chứng khoán công ty là tổng hợp các quy phạm
pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các bên liên quan trong quá trình phát hành
chứng khoán công ty như phát hành chứng khoán, bảo lãnh chứng khoán,
thanh toán, giải quyết tranh chấp phát sinh... nhằm đảm bảo sự quản lý của
Nhà nước đối với hoạt động phát hành chứng khoán, đảm bảo quyền lợi hợp
pháp của nhà đầu tư, các chủ thể tham gia quan hệ trên.
Trên cơ sở những quy định của pháp luật phát hành chứng khoán công
ty, các công ty cần nghiên cứu cụ thể và thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục
do pháp luật quy định. Các công ty khi cần huy động để tăng vốn cho các hoạt
động của công ty mình, họ sẽ tiến hành phát hành chứng khoán và việc phát
hành chứng khoán đó là phát hành chứng khoán công ty. Việc phát hành
chứng khoán công ty phải đáp ứng yêu cầu về chủ thể phát hành thì mới được
phát hành.
Khi công ty phát hành chứng khoán, bản chất của quan hệ phát hành
chứng khoán chính là hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu vốn. Cụ thể,
quan hệ phát hành cổ phiếu là quan hệ hợp đồng góp vốn, trong đó công ty
phát hành và nhà đầu tư là các bên chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật
dân sự này. Ngoài ra, trong quan hệ trái phiếu thì các bên tham gia vào quan
19
hệ này là những bên liên quan của hợp đồng vay nợ (công ty phát hành đóng
vai trò là "con nợ" phải cam kết nhận nợ và nhà đầu tư là "chủ nợ").
Luật Chứng khoán 2006 không quy định như thế nào là phát hành chứng
khoán công ty, chỉ nêu khái niệm Chào bán chứng khoán ra công chúng là
việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương thức sau đây:
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng vốn. Cụ thể, bản chất quan hệ phát hành
cổ phiếu là hợp đồng góp vốn, trong đó các cổ đông có vị trí nhất định, được
hưởng lợi nhuận và phải gánh chịu các khoản lỗ của công ty... tương ứng với
phần vốn góp của vào công ty. Còn bản chất quan hệ phát hành trái phiếu
công ty là hợp đồng vay nợ, trong đó công ty phát hành là "con nợ" (cam kết
nhận nợ) và nhà đầu tư là "chủ nợ".
Trong từng loại quan hệ phát hành chứng khoán khác nhau, quyền và
nghĩa vụ của công ty phát hành cũng như nhà đầu tư được xác định khác
nhau. Tùy theo mục đích, nhu cầu và khả năng của mình, công ty phát hành
và nhà đầu tư lựa chọn loại quan hệ phát hành chứng khoán cho phù hợp.
1.2.3. Các hình thức phát hành chứng khoán công ty
Phát hành chứng khoán của công ty được thực hiện dưới hai hình thức sau:
- Phát hành chứng khoán riêng lẻ hay còn gọi là phát hành chứng
khoán nội bộ là việc phát hành mà trong đó chứng khoán được bán trong
phạm vi một số nhà đầu tư nhất định (thông thường là các nhà đầu tư có mối
quan hệ quen biết với công ty) tương ứng với khối lượng phát hành hạn chế.
Việc phát hành cổ phiếu thường - cổ phiếu phổ thông hiếm khi thực hiện dưới
hình thức này. Ngược lại chủ yếu việc phát hành trái phiếu được thực hiện
theo hình thức này vì xuất phát từ đặc thù cơ bản của trái phiếu là có thời hạn
hoàn trả xác định và công ty phát hành nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trong một
thời gian ngắn hạn. Các ngân hàng thương mại cũng có thể tham gia vào việc
phát hành riêng lẻ với tư cách nhà phân phối để hưởng phí phát hành. Chứng
khoán trong phát hành chứng khoán riêng lẻ không thuộc đối tượng chào bán
trên thị trường giao dịch chứng khoán tập trung.
21
- Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc phát hành trong đó
chứng khoán được bán rộng rãi ra công chúng với số lượng lớn các nhà đầu tư