Pháp luật về phát hành chứng khoán công ty ở việt nam luận văn ths luật 5 05 15 - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHỪNG THỊ HỔNG VÂN

PHÁP LUẬT VÊ PHÁT HÀNH
CHÚNG KHOÁN CỔNG TY ở VIỆT NAM
m

CHUYÊN NGÀNH:

L U Ậ T KINH TẾ

MÃ SỐ:

50515

NGUỒI HUỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐINH DŨNG SỸ

L U Ậ N V ĂN T H Ạ C s ĩ L U Ậ T HỌ C









MỤC LỤC


CHUƠNG III - PHUƠNG HUỐNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH CHÚNG
KHOÁN CÔNG TY Ở VIỆT N A M ..................................................................................................... 59

III. 1. Yêu cầu hoàn th iện ............................................................................................... 59
III.2. Kiến nghị hoàn thiện............................................................................................. 60
KẾT L U Ậ N .......................................................................................................................................... 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

2


PHẦN MỞ ĐẦU

1 - TÍNH CẤP THIẾT CỬA ĐỂ TÀI

Thị trường vốn là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường. Trong đó,
thị trường chứng khoán là công cụ đắc lực trong quá trình huy động vốn, sử dụng và
luân chuyển vốn nhằm tạo cơ sở vững chắc và đẩy nhảnh nhịp độ phái triển kinh tế
của đất nước.
Văn kiện Đại hội Đảng lần VIII đã khẳng định: “ ... phát triển thị trường vốn,
thu hút các nguồn vốn trung và dài hạn qua ngân hàng và các công ty tài chính để
đáp ứng nhu cầu cho vay đầu tư phát triển, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để từng
bước xây dựng thị trường chứng khoán phù hợp với điều kiện Việt Nam và định
hướng kinh tế - xã hội của đất nước ...” [46, trlOO]. Khi thị trường chứng khoán bước
đầu được tạo lập ở Việt Nam, Đại hội Đảng IX cũng đã xác định: “phát triển nhanh
và bền vững thị trường vốn trung và dài hạn. Tổ chức và vận hành thị trường chứng
khoán ... an toàn, hiệu quả”.
Phát hành chứng khoán là tiền đề tạo lập thị trường chứng khoán (tạo hàng hoá

nghiệp. Do vậy, việc điều chỉnh pháp lý các hoạt động phát hành chứng khoán nói
chung và phát hành chứng khoán công ty nói riêng chưa mang lại hiệu quả cao, chưa
khuyến khích được các doanh nghiệp tăng tỷ lệ phát hành chứng khoán ra cổng
chúng. Sau hơn 2 năm hoạt động (tính từ tháng 7/2000 đến 7/2002), với hơn 300
phiên giao dịch, 19 công ty niêm yết đều là công ty cổ phần (xem Phụ lục 1), số
lượng hàng hoá chứng khoán cồng ty giao dịch trên thị trường chứng khoán là 1.016
tỷ đổng và trái phiếu Chính phủ là 3.088,6 tỷ đồng (22 đợt đấu thầu). Số lượng 19
công ty niêm yết trong 750 doanh nghiệp cổ phần hoá là con số rất nhỏ [3].
Hoạt động phát hành chứng khoán công ty bên cạnh tác động tích cực là huy
động vốn tài chính còn có thể tạo ra những tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp cũng như những tác động tiêu cực đến hoạt động của
thị trường chứng khoán.
Hơn nữa, trước xu hướng hội nhập kinh tế nước ta với kinh tế khu vực và thế
giới, cần phải xây dựng một hệ thống các qui định pháp luật về phát hành chứng
khoán công ty hoàn thiện, đồng bộ, thống nhất phù hợp với tình hình phát triển của
đất nước cũng như phù hợp với chuẩn mực chung của khu vực và quốc tế, phát huy


được vai trò tích cực của hoạt động phát hành chứng khoán công ty nói riêng và của
thị trường chứng khoán nói chung.
2 - TÌNH HÌNH NGHIÊN c ứ u

Nghiên cứu các qui định pháp luật về hoạt động phát hành chứng khoán đã
được đề cập đến trong một số đề tài nghiên cứu cấp Bộ do u ỷ ban Chứng khoán, Bộ
Tư pháp chủ trì được bắt đầu từ bước chuẩn bị các cơ sở lý luận - thực tiễn để xây
dựng thị trường chứng khoán và trong quá trình vận hành thị trường chứng khoán ở
Việt Nam.
Hiện nay, trên thị trường giao dịch, chứng khoán công ty luôn là hàng hoá chủ
đạo sau các loại chứng khoán của Nhà nước. Và trong tương lai, khi nền kinh tế phát
triển, số lượng chứng khoán của Nhà nước giảm đi thì chứng khoán công ty sẽ giữ

không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn này.
Cũng như hoạt động phát hành chứng khoán nói chung, phát hành chứng khoán
công ty được thực hiện dưới hai hình thức: phát hành riêng lẻ và phát hành ra công
chúng. Luận văn không đi sâu nghiên cứu về phát hành riêng lẻ mà chỉ tập trung vào
nghiên cứu các qui định pháp luật về phát hành chứng khoán công ty ra công chúng,
thực trạng, các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về phát hành chứng
khoán công ty ở Việt Nam.
Khái niệm "chứng khoán công ty" được đề cập và nghiên cứu trong luận vãn
này là theo nghĩa rộng, bao gồm chứng khoán của các công ty cổ phần, doanh
nghiệp Nhà nước cổ phần hoá, công ty quản lý quỹ, doanh nghiệp Nhà nước và công
ty trách nhiệm hữu hạn.
5- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

- Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác - Lê nin, lấy quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt
Nam làm cơ sở lý luận.
- Sử dụng phương pháp so sánh, thống kê khảo sát thực tiễn, phương pháp khái
quát hoá, trừu tượng hoá ... nhằm đánh giá thực trạng các qui định pháp luật điều chinh
các hoạt động phát hành chứng khoán công ty ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, kết
hợp với việc so sánh với qui định pháp luật của các nước trên thế giới để xây dựng và
hoàn thiện các qui định pháp luật về phát hành chứng khoán công ty ở Việt Nam.
6


6 - BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
PHẦN MỞ ĐẨU
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHƯNG v ề CHÚNG KHOÁN CÔNG TY VÀ PHÁT HÀNH
CHÚNG KHOÁN CÔNG TY
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH CHÚNG KHOÁN CÔNG TY Ờ VIỆT NAM.
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH CHÚNG

vốn được kỳ vọng về khoản lợi nhuận, tiền thuê hay thu nhập do nỗ lực của những
người thúc đẩy hợp đồng đẩu tư hoặc của một bên thứ ba.
Chứng khoán là tên thường gọi của các loại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản
hoặc trái quyền, là giấy chứng nhận giúp cho người giữ chứng khoán chứng minh mình
có quyền hưởng lợi ích tương ứng với chứng khoán đó. Theo quy định của pháp luật


Trung Quốc, chứng khoán được chia làm hai loại: chứng khoán có giá và chứng khoán
bằng chứng. Trong đó, chứng khoán có giá bao gồm chứng khoán tài vụ như hoá đơn
vận chuyển, đơn lấy hàng và hoá đơn kho bãi; chứng khoán tiền tệ như ngân khoản,
ngân phiếu định mức, phiếu chi

chứng khoán tư bản như cổ phiếu, trái khoán công

ty. Chứng khoán bàng chứng gồm hoá đơn tồn khoản, biên lai vay, biên lai thu [17].
Theo pháp luật Việt Nam, chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán g h i‘sổ, xác
nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc
vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán bao gồm:
a) Cổ phiếu;
b) Trái phiếu;
c) Chứng chỉ quỹ đầu tư;
d) Các loại chứng khoán khác. [8]
Chứng khoán được chia thành nhiều loại dựa trên các-tiêu chí khác nhau.
Căn cứ vào tính chất của chứng khoán, chứng khoán được chia thành chứng
khoán vốn, chứng khoán nợ và các sản phẩm phái sinh từ chứng khoán (chứng
quyền, bảo chứng quyền...).
Căn cứ vào hình thức chứng khoán, chứng khoán được chia thành chứng khoán vô
danh, chứng khoán ghi danh và chúng khoán hỗn hợp.
Căn cứ vào lợi tức thu được từ chứng khoán, chứng khoán được chia thành chứng
khoán có lợi tức cố định, chứng khoán khỏng có lợi tức cố định (lợi tức bất định).

Chủ thể

(HÚNGKHOÁNCỦACHỦTl ỈỂKI LÚ

Do các công ty phát hành (công ty cổ Do Chính phủ, chính quyền địa
phần, công ty TNHH, các tổ chức tín phương,... phát hành
dụng cổ phần, doanh nghiệp Nhà nước,'
doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá,
công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán)

Tính rủi ro

Cao hơn (phụ thuộc vào tình hình sản Thấp hơn
xuất kinh doanh của công ty)

Lãi suất

Cao hơn, thường phụ thuộc vào tình Thấp hơn, ổn định (lãi suất
hình sản xuất kinh doanh của công ty, được ấn định trước)
đôi khi phải chịu lỗ

Thời điểm
hoàn trả

- Đối với trái phiếu, thời điểm hoàn trả Thời điểm hoàn trả được xác
được xác định trước.

định trước

- Đối với cổ phiếu, thời điểm hoàn trả vào

+ Cổ phiếu thứ cấp là cổ phiếu được phát hành sau khi công ty đã được thành
lập nhằm tăng vốn (bổ sung) vốn điều lệ.
- Dựa vào quyền lợi của cổ đông, cổ phiếu được chia thành cổ phiếu thường (cổ
phiếu phổ thông) và cổ phiếu ưu đãi.

13


+ cổ phiếu thường là loại cổ phiếu mà mọi công ty cổ phần đều phải phát hành khi
thành lập công ty để xác định quyền sở hữu vốn, quyền quản lý, kiểm soát công ty và hưởng
cổ tức theo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Do đó, cổ phiếu thường có tính rủi ro
cao, mức cổ tức phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh.
+ Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu mà người sở hữu được hưởng một hoặc một
số đặc quyền theo quy định của pháp luật hoặc theo điều lộ công ty nhưng đồng thời
bị hạn chế một số quyền nhất định.
Cổ phiếu ưu đãi có các loại cơ bản sau:
C ổ phiếu ưu đãi biểu quyết: là loại cổ phiếu cho người sở hữu nó có quyền biểu
quyết nhiều hơn cổ phiếu phổ thông trong Đại hội động cổ đông, trong Hội đồng
quản trị và chỉ các cổ đông sáng lập, tổ chức được Chính phủ uỷ quyền được phép
nắm giữ. Số phiếu biểu quyết của cổ phần ưu đãi biểu quyết do điều lệ công’ ty quy
định. Quyền ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chi có hiệu lực trong thời hạn 3
năm kể từ khi công ty cổ phần được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, c ổ
đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi biểu quyết có toàn bộ quyền như cổ đông sở hữu cổ
phiếu thường và không được phép chuyển nhượng cổ phiếu ưu đãi biểu quyết. Sau 3
năm, cổ phiếu ưu đãi được chuyển thành cổ phiếu thường.
C ổ phiếu lũi đãi cổ tức: là cổ phiếu được trả cổ tức cao hơn cổ phiếu thường hay
theo một mức ổn định hàng năm và được nhận lại tài sản còn lại khi giải thể hoặc phá
sản trước cổ phiếu thường. Mức cổ tức và phương thức xác định cổ tức cụ thể được ghi
tại điều lệ công ty hoặc ghi ngay trên cổ phiếu, c ổ tức được chia hàng năm gồm cổ tức
cố định và cổ tức thưởng, c ổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh

của tổ chức phát hành. Người sở hữu trái phiếu (chủ nợ) được ưu tiên nhận lại tài sản
trước người sở hữu cổ phiếu khi công ty giải thể hoặc phá sản. Trái phiếu có độ rủi
ro cao thì có khả năng thu lợi nhuận cao và ngược lại trái phiếu có độ rủi ro thấp thì
có khả năng thu lợi nhuận thấp.
Theo qui định của pháp luật Việt Nam, trái phiếu là loại chứng khoán phát
hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận nghĩa vụ trả nợ (bao
gồm vốn gốc và lãi) của tổ chức phát hành trái phiếu đối với người sở hữu trái
phiếu [40].
Theo đó, trái phiếu công ty có thể được hiểu là loại chứng khoán được phát
hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận nghĩa vụ trả nợ của
công ty phát hành đối với người sở hữu

trái phiếu.
15


Trên thế giới, tuỳ theo mục đích, nhu cầu của nhà đầu tư và công ty phát hành,
trái phiếu công ty (corporate bond) bao gồm các loại cơ bản sau:
- Trái phiếu kèm quyền đòi nợ trước hạn (option bond or put bond): là những
trái phiếu dài hạn cho phép người sở hữu thanh toán trái phiếu trước hạn theo mệnh
giá của trái phiếu vào thời điểm tròn một năm sau ngày phát hành hoặc vào đúng
ngày này vào mỗi năm tiếp theo.
- Trái phiếu đăng ký vốn gốc (registered as to principal only): là trái phiếu lãi suất
có phần vốn được đăng ký theo tên của người sở hữu trái phiếu còn phần lãi suất đính
kèm dưới dạng vô danh. Bất kỳ ai cầm phiếu lãi suất đều có thê’ bán lại hoặc được
hưởng phần lãi suất ghi trên phiếu, còn phần vốn đã đăng ký thì chỉ có thể do chính
người đăng ký trái phiếu chuyển nhượng.
- Trái phiếu đăng ký vốn gốc và lãi (Registered as to principal and interest): là
trái phiếu không có phần lãi suất đính kèm. Cả vốn và lãi suất chỉ trả cho người sở
hữu trái phiếu theo một thời hạn nhất định.

- Trái phiếu mua bất động sản (purchase money bond): là trái phiếu được bảo
đám bằng tài sản được sử dụng như tiền mặt mà bên mụa thế chấp cho bên bán nhằm
mục đích bảo đám đối ứng với giá trị bất động sản đã bán trên sổ sách kế toán, sỏ' tiền
thu được từ bán trái phiếu được dùng để thanh toán tiền mua bất động sản.
- Trái phiếu chuyển tiếp (imterim bond): là các chứng chỉ trái phiếu tạm thời và
có thể được chuyển đổi thành trái phiếu có kỳ hạn xác định.
- Trái phiếu gia hạn (extended bond): là trái phiếu mà công ty phát hành có
quyền kéo dài thời hạn thanh toán trái phiếu.
- Trái phiếu chi nhánh (divisional bond): là trái phiếu xác định nghĩa vụ trả nợ
thuộc về các chi nhánh hoặc các đơn vị trực thuộc hoặc công ty con.
- Trái phiếu dự tính (assumed bond): là trái phiếu được phát hành dựa trên các
khoản nợ và tài sản nợ được dự tính trước của công ty đang bị chiếm hữu (bị thôn
tính) bằng hình thức trao đổi cổ phần.
- Trái phiếu liên kết (joint bond): là trái phiếu được bảo đảm thanh toán bằng
các tài sản khác nhau của các công ty liên kết.
- Trái phiếu có bảo đảm hoặc trái phiếu ký hậu (guaranted bond or indorsed
bond): là trái phiếu được bảo đảm thanh toán vốn và lãi bởi công ty khác ngoài công
ty phát hành.
- Trái phiếu dự phần (participating bond): là trái phiếu cho phép người sở hữu
được hưởng một phần lợi nhuận từ hoạt

động kinh cỊoanh của công ty phát hành.
17


- Trái phiếu tổng hợp (consolidated bond): là trái phiếu được bảo đảm bằng
việc thế chấp tổng hợp một nhóm các tài sản hoặc một nhóm các trái phiếu khác
của công ty.
- Trái phiếu mệnh giá đôla (dolar-denominated foreign bond): là trái phiếu do
công ty nước ngoài phát hành.

năng đánh giá chính xác tiềm lực và khả năng của công ty gọi đầu tư;
(2) Thông qua quỹ đầu tư, chi phí đầu tư giảm;
(3) Có thể phân tán rủi ro đầu tư thông qua việc mua chứng khoán của nhiều
cổng ty phát hành.
Tại Điều 3 Quy chế về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và
công ty quản lý quỹ ban hành kèm theo Quyết định số 05/1998/QĐ-UBCK3 ngày
13/10/1998 của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước định nghĩa: “Quỹ đầu tư chứng
khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đẩu tư được uỷ thác cho công tỵ quản lý
quỹ và phải đầu tư chứng khoán tối thiểu 60% giá trị tài sản của quỹ”.
Chứng chỉ quỹ đầu tư là văn bản xác nhận sự góp vốn của nhà đầu tư vào quỹ đầu
tư do công ty quản lý quỹ phát hành theo quy định của pháp luật. Người sở hữu chứng
chỉ quỹ đầu tư không phải là thành viên của quỹ mà chỉ được hưởng lợi từ hoạt động
đầu tư của quỹ. Tài sản của tổ chức phát hành chứng chỉ với tài sản của quỹ đầu tư độc
lập với nhau. Việc phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư chỉ làm tăng vốn của quỹ đầu tư mà
không làm tăng vốn của tổ chức phát hành (công ty quản lý quỹ).
Chứng chỉ quỹ đầu tư được chia thành hai loại: chứng chỉ quỹ đầu tư mở (openend) và chứng chỉ quỹ đầu tư đóng (close-end).
- Chứng chỉ quỹ đầu tư mở là chứng chỉ cho phép người sở hữu bán lại chứng chỉ
cho công ty phát hành vào những thời điểm quy định tại điều lệ của quỹ.
- Chứng chỉ quỹ đầu tư đóng là chứng chỉ không cho phép người sở hữu bán lại
chứng chỉ cho công ty phát hành trước thời hạn kết thúc hoạt động hoặc giải thể.
Loại chứng chỉ này được tự do chuyển nhượng.
b - Chứng quyền
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, khi cần tăng vốn điều lệ, các công ty cổ
phần thường phát hành thêm cổ phiếu mới. Việc tăng cổ đông mới làm ảnh hưởng
đến tỷ lệ tài sản và quyền kiểm soát công

ty của các cổ đông cũ. Để bảo vệ quyền
19



20


1.2.2. Bản chất, ý nghĩa của hoạt động phát hành chứng khoán công ty
Phát hành chứng khoán tạo ra một lượng vốn lớn bổ sung cho vốn điều lệ và vốn
lưu động của công ty để công ty triển khai các kế hoạch sản xuất kinh doanh của
mình. Đây là hình thức huy động vốn trực tiếp, có đảm bảo và có khả năng sử dung
lâu dài. Do đó, công ty phát hành giảm bớt được chi phí sử dụng vốn, không quá lo
lắng về thời gian hoàn trả (đối với các khoản vay ngân hàng) và có thể chia sẻ rủi ro
trong kinh doanh (đối với trường hợp phát hành cổ phiếu). Đối với nhà đầu tư, thông
qua hoạt động phát hành chứng khoán, có thể chuyển các khoản tiền tiết kiệm thành
các khoản đầu tư để có cơ hội thu được lợi nhuận cao Hơn lãi suất tiền gửi nhưng khi
cần thiết họ vẫn có thể chuyển đổi các chứng khoán công ty thành tiền mặt thông qua
các giao dịch trên thị trường giao dịch chứng khoán (tập trung và phi tập trung). Đổng
thời, khi mua cổ phiếu của công ty, nhà đầu tư còn có cơ hội tham gia vào hoạt động
kiểm soát và quản lý công ty (chủ động trong đầu tư).
Trên thực tế, chủ thể của quan hệ phát hành chứng khoán công ty gồm công ty
phát hành và nhà đầu tư. Công ty cần vốn bổ sung cho hoạt động sản xuất kinh
doanh và nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào công ty để thu lợi nhuận. Do vậy, về bản
chất, có thể coi quan hệ phát hành chứng khoán công ty là hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng vốn. Cụ thể, bản chất quan hệ phát hành cổ phiếu là hợp đồng góp
vốn, trong đó các cổ đông có vị trí nhất định, được hưởng lợi nhuận và phải gánh
chịu các khoản lỗ của công ty ... tương ứng với phần vốn góp vào công ty. Còn bản
chất quan hệ phát hành trái phiếu công ty là hợp đồng vay nợ, trong đó công ty phát
hành là “con nợ” (cam kết nhận nợ) và nhà đầu tư là “chủ nợ”.
Trong từng loại quan hệ phát hành chứng khoán khác nhau, quyền, nghĩa vụ của
công ty phát hành và nhà đầu tư cũng được xác định khác nhau. Tuỳ theo mục đích,
nhu cầu, khả năng của mình, công ty phát hành và nhà đầu tư lựa chọn loại quan hệ
phát hành chứng khoán cho phù hợp.
1.2.3. Các hình thức phát hành

lượng phát hành phải dành một tỷ lệ nhất định bán cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối
lượng phát hành phải đạt đến một mức nhất đinh.
Những công ty phát hành chứng khoán ra công chúng phải là công ty đại
chúng và chứng khoán được phát hành gồm các loại cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ
quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác (chứng quyền, bảo chứng phiếu...).
Tại Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 về chứng khoán và thị trường
chứng khoán xác định “Phát hành ra công chúng là việc chào bán chứng khoán có
th ể chuyển nhượng được theo các quy

định tại khoán 5 Điều 6 và khoản 2
22


Điêu 8 Nghị định này".
Việc phát hành cổ phiếu ra công chúng được thực hiện theo một trong hai hình
thức: phát hành lần đầu ra công chúng (IPOs) và chào bán sơ cấp. Trong đó phát hành
trái phiếu ra công chúng chỉ được thực hiện theo hình thức chào bán sơ cấp.
Phát hành lán đáu ra cống chúng là đợt phát hành trong đó cổ phiếu của công
ty lần đầu tiên được chào bán rộng rãi ra công chúng. Hoạt động này thường được
tiến hành vào lúc thành lập công ty cổ phần .
Chào bán sơ cấp (phân phối sơ cấp) là đợt phát hành-chứng khoán bổ sung của
công ty đại chúng bán (phân phối) rộng rãi cho công chúng đẩu tư.
Việc phát hành chứng khoán phải tuân thủ các quy định của pháp luật về phát
hành chứng khoán. Việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải được cơ quan
có thẩm quyền cấp phép. Và đặc biệt đối với việc phát hành chứng khoán ra công
chúng để niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung phải tuân theo quy định tại
Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 về chứng khoán và thị trường chứng
khoán và các văn bản khác có liên quan.
Việc phân định các phương thức phát hành chứng khoán (riêng lẻ hoặc ra
công chúng) là nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư nói chung và

vậy, giữa thị trường chứng khoán và công ty cổ phần có mối quan hê mật thiết với
nhau. Sự phát triển của công ty cổ phần góp phần quan trọng giúp thị trường chứng
khoán phái triển và hoạt động có hiệu quả. Ngược lại, sự phát triển của thị trường
chứng khoán tác động trở lại tới sự phát triển của công ty cổ phần. Để chứng
khoán của công ty mình có ưu thế trên thị trường chứng khoán các công ty phải
không ngừng nâng cao chất lượng hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ, cải tiến kỹ thuật,
nâng cao trình độ khoa học công nghệ.... Đồng thời,- sự phát triển của thị trường
chứng khoán giúp các công ty cổ phần huy động được nhiều vốn hơn để đáp ứng
các yêu cầu phát triển của công ty.
1.2.4.2. Doanh nghiệp Nhà nước
Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn,
thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm
thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao.
Hiện nay, kinh tế quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc
24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status