Pháp luật về giải quyết tranh chấp môi trường ở Việt Nam Luận văn ThS. Luật - Pdf 28



LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính
xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh
toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Nguyễn Thị Huệ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA SƯ PHẠM


NGUYỄN THỊ HUỆ
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2013

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ HUỆ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

4
5.
Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
4
6.
Kết cấu của đề tài
7
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁP
LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
9
1.1
Tranh chấp môi trường
9
1.1.1
Khái niệm tranh chấp môi trường
9
1.1.2
Đặc trưng của tranh chấp môi trường
19
1.1.2.1
Số lượng chủ thể trong tranh chấp môi trường lớn và vị thế của
các bên tranh chấp không cân bằng
19
1.1.2.2
Trong tranh chấp môi trường lợi ích công và lợi ích tư gắn liền
với nhau.
21
1.1.2.3
Thiệt hại trong tranh chấp môi trường rất lớn và khó xác định
22

31
1.2.2.1
Giải quyết tranh chấp môi trường phải hướng tới đảm bảo duy
trì mối quan hệ lâu dài giữa các bên tranh chấp.
31
1.2.2.2
Giải quyết triệt để nguyên nhân dẫn đến tranh chấp nhằm hạn
chế các tranh chấp tiếp tục lặp lại trong tương lai.
31
1.2.2.3
Ngăn chặn sớm nhất những thiệt hại có thể xảy ra đối với môi
trường.
32
1.2.2.4
Đảm bảo xác định một cách có căn cứ giá trị thiệt hại trong
tranh chấp môi trường.
33
1.3
Pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp môi trường ở
Việt Nam
33
1.3.1
Sự phát triển của pháp luật về giải quyết tranh chấp môi trường
ở Việt Nam
33
1.3.1.1
Giai đoạn trước khi có luật BVMT 2005
35
1.3.1.2
Giai đoạn từ khi có luật BVMT 2005

trường
63
2.1.2.1
Người đại diện tham gia giải quyết tranh chấp môi trường
63
2.1.2.2
Một số bất cập trong các quy định về người đại tham gia giải
quyết tranh chấp môi trường.
66
2.1.3
Quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp môi trường
67
2.1.3.1
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp môi trường
67
2.1.3.2
Một số bất cập trong quy định về thẩm quyền giải quyết tranh
chấp môi trường
71
2.1.4
Quy định về nghĩa vụ chứng minh và chứng cứ trong giải quyết
tranh chấp môi trường
72
2.1.4.1
Nghĩa vụ chứng minh và chứng cứ trong giải quyết tranh chấp
môi trường
72
2.1.4.2
Bất cập trong các quy định về nghĩa vụ chứng minh và chứng cứ
trong giải quyết tranh chấp môi trường

85
2.2.5
Thực trạng thực hiện pháp luật về thời hiệu giải quyết tranh chấp
môi trường
86
Chương 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM.
89
3.1
Kiến nghị hoàn thiện các quy định về giải quyết tranh chấp
môi trường ở Việt Nam
89
3.1.1
Phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về giải quyết
tranh chấp môi trường ở Việt Nam
89
3.1.2
Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật
về giải quyết tranh chấp môi trường ở Việt Nam
93
3.1.2.1
Xây dựng khung pháp lý riêng cho giải quyết tranh chấp môi
trường
93
3.1.2.2
Thành lập tòa án môi trường
93
3.1.2.3
Người đại diện và khiếu kiện tập thể
94

104
TÀI LIỆU THAM KHẢO
106

BẢNG TỪ VIẾT TẮT

STT
Viết tắt
Nội dung
1.
BVMT
Bảo vệ môi trường
2.
ÔNMT
Ô nhiễm môi trường

Nội dung
Trang
Hộp 1
Một số thông tin về vụ việc của Vedan
10
Hộp 2
UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu khởi kiện công ty
Formosa Plastic Marine và Vitaco
14
Hộp 3
Nhà nước phải kiện Vedan!
25
Hộp 4
5.853 hộ bị thiệt hại do Công ty Vedan xả thải
64
Hộp 5
Vedan bất ngờ đồng ý bồi thường 100% cho nông dân
80
Hộp 6
12 hành vi bị phạt tiền 267,5 triệu đồng của Vedan
92
Hộp 7
Số lượng các vụ việc của Trung tâm trợ giúp pháp lý cho
nạn nhân ô nhiễm (CLAPV) trong 10 năm đầu hoạt động
(1999-2009)
100


tranh chấp môi trường của Nhật Bản (The Environmental Dispute
Coordination Commission) [28]
Ở Việt Nam chưa có thống kê chính thức về số vụ tranh chấp môi
trường đã được giải quyết, nhưng thực tế có thể thấy, số vụ tranh chấp môi
trường đã được giải quyết ở Việt Nam thấp hơn nhiều so với số vụ tranh chấp
2

môi trường đã được giải quyết tại Nhật, Hoa Kì và Trung Quốc, nhưng điều
này liệu có đồng nghĩa rằng môi trường của Việt Nam ít ô nhiễm hơn, pháp
luật BVMT của Việt Nam được thực thi tốt hơn, quyền được sống trong môi
trường trong lành của người dân Việt Nam được đảm bảo tốt hơn hay nguyên
tắc người gây thiệt hại cho môi trường phải bồi thường ở Việt Nam được thực
hiện tốt hơn ở Nhật Bản, Hoa Kì và Trung Quốc hay không?
Theo kết quả kiểm tra được công bố của Bộ Tài Nguyên và Môi trường
thì hiện có đến 40% các khu công nghiệp trên cả nước vi phạm pháp luật về
môi trường, gây ảnh hưởng rất lớn tới các yếu tố môi trường và cuộc sống của
người dân xung quanh.
Vụ việc Công ty Vedan xả trực tiếp nước thải chưa qua xử lý gây hủy
diệt dòng sông Thị Vải được phát hiện vào cuối năm 2008 đã gây chấn động
dư luận về mức độ ảnh hưởng tới môi trường, tới cuộc sống người dân và xã
hội. Với sự hỗ trợ từ rất nhiều chủ thể, (Hội nông dân, Hội luật gia, cơ quan
truyền thông, các siêu thị, người tiêu dùng…) vụ việc cũng đã được giải quyết
trên thực tế, người dân đã được nhận tiền bồi thường, nhưng rất nhiều vấn đề
pháp lý đặt ra trong quá trình giải quyết vụ việc đến nay vẫn còn chưa được
giải quyết, như chủ thể có quyền đòi bồi thường cho những thiệt hại về môi
trường do Vedan gây ra; Thủ tục khiếu kiện tập thể? Vai trò của tòa án trong
giải quyết tranh chấp môi trường…
Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng này nhưng có lẽ
nguyên nhân chính đó chính là bởi pháp luật của Việt Nam về giải quyết tranh
chấp môi trường còn nhiều vấn đề chưa hoàn thiện. Trước thực tế đó, việc

- Định hướng xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật của Việt
Nam về giải quyết tranh chấp môi trường.
- Định hướng và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
giải quyết tranh chấp môi trường
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam về giải
quyết tranh chấp môi trường; quy định của một số quốc gia về giải quyết
tranh chấp môi trường và một số vụ tranh chấp môi trường đã xảy ra ở Việt
Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Tranh chấp môi trường là một khái niệm có nội
hàm rộng, là một vấn đề rộng và phức tạp, vì vậy trong phạm vi nghiên cứu
của để tài, tôi chỉ tập trung nghiên cứu các tranh chấp môi trường có nội dung
đòi bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và môi trường trong
phạm vi một quốc gia vì đây là dạng tranh chấp môi trường chủ yến hiện nay
chứ không chú trọng đến các dạng tranh chấp khác.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-
Lênin và đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời đối chiếu
với các quy định của pháp luật môi trường, dân sự, hành chính Đồng thời
trong quá trình nghiên cứu, tôi vận dụng các phương pháp cụ thể trong nghiên
cứu khoa học như phương pháp so sánh, đối chiếu, tổng hợp để nghiên cứu đề
tài này. 5

5. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Giải quyết tranh chấp môi trường là một vấn đề pháp lý còn nhiều bất
cập, vì vậy, việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện các quy định về giải quyết tranh
chấp môi trường là rất cần thiết. Đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu

- Pháp luật về bảo đảm quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm
pháp luật môi trường ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện Nhà
nước và pháp luật số 1 năm 2012, Võ Thị Mỹ Hương
- Một số vấn đề liên quan đến trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực BVMT
theo quy định của pháp luật Việt Nam, Tạp chí Tòa án, Tòa án nhân dân tối
cao số 4 năm 2005, Nguyễn Xuân An
- Căn cứ xác định thiệt hại về môi trường, Tạp chí Tòa án, Tòa án nhân
dân tối cao số 14 năm 2009, ThS Nguyễn Ngọc Anh Đào
- “Các phương thức giải quyết tranh chấp môi trưởng ở Australia” của
Vũ Thu Hạnh và Trần Thị Hương Trang;
Các công trình nghiên cứu này đã phân tích các khía cạnh khác nhau về
tranh chấp môi trường như định nghĩa, đặc điểm của tranh chấp môi trường;
phương thức giải quyết tranh chấp môi trường; so sánh giữa tranh chấp môi
trường và xung đột môi trường; Pháp luật giải quyết tranh chấp môi trường
của một số nước trên thế giới; Các quy định về xác định thiệt hại, bồi thường
thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường (ÔNMT)…
Luận án tiến sĩ của PGS.TS Vũ Thu Hạnh về “Xây dựng và hoàn thiện
cơ chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam”, đã phân
tích một cách toàn diện về cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường ở Việt
Nam, tuy nhiên công trình này lại được thực hiện giai đoạn trước khi có luật
7

BVMT 2005; Bên cạnh đó, có nhiều công trình nghiên cứu về xác định thiệt
hại, bồi thường thiệt hại do hành vi làm ÔNMT. Các công trình này sẽ là
nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho luận văn của tôi vì xác bồi thường
thiệt hại môi trường là một trong những nội dung tranh chấp môi trường chủ
yếu mà đề tài của tôi sẽ tập trung vào để phân tích.
Như vậy trong số các công trình nghiên cứu liên quan đến giải quyết
tranh chấp môi trường thì chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về
pháp luật giải quyết tranh chấp môi trường ở Việt Nam hiện nay, vì vậy luận
9

Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
1.1 Tranh chấp môi trường
1.1.1 Khái niệm tranh chấp môi trường
Cuối năm 2008, vụ việc công ty Vedan xả nước thải chưa qua xử lý ra
sông Thị Vải biến dòng sông này trở thành dòng sông chết được cơ quan chức
năng phát hiện. Vụ việc đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của các cơ
quan quản lý nhà nước ở Trung ương, cơ quan truyền thông, các tổ chức, cá
nhân và xã hội. Nguyên nhân không phải chỉ bởi số tiền phạt 216 triệu và số
tiền phí BVMT 127 tỷ đồng mà Vedan bị truy thu mà chính bởi đơn khởi kiện
của hơn 5000 hộ dân yêu cầu Vedan bồi thường cho những thiệt hại về tính
mạng, sức khỏe và tài sản mà họ phải gánh chịu do dòng sông Thị Vải bị ô
nhiễm và những khó khăn, vướng mắc về mặt pháp lý mà người dân gặp phải
trong quá trình yêu cầu đòi bồi thường. Vụ việc của Vedan không phải là vụ
việc tranh chấp môi trường đầu tiên nhưng có thể nói, vụ việc Vedan đã chỉ ra
nhiều lỗ hổng trong các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp môi
trường. Trong bài tham luận tại Hội thảo “Sự tham gia của các tổ chức xã hội
trong việc bảo vệ pháp luật môi trường và tranh tụng vì lợi ích cộng đồng”,
ngày 20/3/2012 do Hội Luật gia Việt Nam phối hợp với Chương trình Phát
triển Liên hợp quốc (United Nation Development Program, viết tắt là UNDP)
tổ chức, luật sư Trương Trọng Nghĩa đã khẳng định “Vụ kiện Vedan: Một
điển cứu pháp lý mang tính cột mốc” [25]. Chính vì vậy, trong luận văn của

nhận ‘bồi thường”, chỉ đồng ý “hỗ trợ” khoảng 20 tỉ đồng. Sau cùng, qua hòa giải,
Vedan phải đồng ý bồi thường toàn bộ số thiệt hại trên.
- Riêng thiệt hại cho dòng sông Thị Vải và môi trường sinh sống của hàng
ngàn nông dân ba địa phương do hàng chục triệu mét khối nước thải chưa qua xử lý
gây ra trong 14 năm, mà chi phí để tái tạo đến nay vẫn chưa tính hết được, thì vẫn
chưa có ai bồi thường.
Hộp 1. Một số thông tin về vụ việc của Vedan [25]
Vậy thế nào là tranh chấp môi trường?
11

Ở Việt Nam hiện nay, chưa có bất kì văn bản quy phạm pháp luật nào
đưa ra định nghĩa tranh chấp môi trường. Luật BVMT 2005 chỉ nêu ra các nội
dung tranh chấp môi trường tại Điều 129 về tranh chấp về môi trường. Theo
đó nội dung tranh chấp môi trường bao gồm:
“- Tranh chấp về quyền, trách nhiệm BVMT trong khai thác, sử dụng
thành phần môi trường;
- Tranh chấp về việc xác định nguyên nhân gây ra ô nhiễm, suy thoái,
sự cố môi trường; về trách nhiệm xử lý, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt
hại do ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường gây ra”[7]
Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học Luật môi trường
đã đưa ra những định nghĩa tranh chấp môi trường khác nhau.
 Trên cơ sở phân tích nội dung và đối tượng của tranh chấp môi
trường, PGS.TS Vũ Thu Hạnh đã định nghĩa “Tranh chấp môi trường là
những xung đột giữa các tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư về quyền và lợi
ích liên quan đến việc phòng ngừa, khắc phục ô nhiễm, suy thoái sự cố môi
trường; về việc khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và môi
trường; về quyền được sống trong môi trường trong lành và quyền được bảo
vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản do làm ÔNMT gây nên”[4, tr 408]
Định nghĩa này đã chỉ ra đối tượng hướng tới của tranh chấp môi
trường và chủ thể của tranh chấp môi trường. Theo đó, chủ thể của tranh chấp

người. Theo quy định tại Khoản 7, Điều 3 Luật BVMT (BVMT) 2005, “Sự cố
môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con
13

người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc
biến đổi môi trường nghiêm trọng”. Như vậy, sự cố môi trường phân làm hai
loại: 1) Những sự cố môi trường phát sinh từ những biến đổi bất thường của
tự nhiên như cháy rừng do sét đánh, ô nhiễm do lũ lụt… 2) Những sự số môi
trường phát sinh từ những hoạt động của con người như sự cố tràn dầu, sự cố
lò phản ứng hạt nhân… Các sự cố môi trường phát sinh do biến đổi tự nhiên
sẽ không phát sinh trách nhiệm pháp lý của các chủ thể, còn các sự cố môi
trường phát sinh từ hoạt động của con người thì sẽ phát sinh trách nhiệm pháp
lý cho các chủ thể đó. Vì vậy, tranh chấp môi trường cũng phải hướng đến
việc phòng ngừa, khắc phục các sự cố môi trường phát sinh từ hoạt động của
con người. Ví dụ như vụ việc Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Bà Rịa - Vũng
Tàu uỷ quyền cho Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh khởi kiện
Công ty Formosa Plastic Marine và Vitaco tại Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu đòi bồi thường thiệt hại do ÔNMT và kinh tế du lịch và
thuỷ - hải sản của tỉnh lên tới 17,2 triệu USD (Hộp 2) cũng được coi là một
tranh chấp môi trường.
14

Đâm tàu, du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu thiệt hại 43 tỷ đồng
Con số thống kê trên vừa được Sở Du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu báo cáo
ngày 19/9, vì sự cố tràn dầu do tàu Formosa One của Công ty Formosa Plastic
Marine, đâm vào tàu chở dầu Petrolimex 01, của Công ty Vận tải xăng dầu khu vực
II (Vitaco), ngày 7/9, gây nhiều thiệt hại cho ngành kinh tế du lịch - dịch vụ tỉnh
này.
Báo cáo cho biết, ngay sau khi xảy ra sự cố dầu tràn gây ô nhiễm, lượng
khách du lịch tới Vũng Tàu giảm 1/2. Từ ngày 10/9 trở đi, lượng khách tới Vũng

phạm các quyền và lợi ích của các chủ thể mà còn có thể phát sinh từ việc
một chủ thể không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo vệ môi trường của mình.
 Đào Thanh Trường trong bài viết phân tích về Tranh chấp môi
trường đã đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về tranh chấp môi trường là
“những mâu thuẫn, tranh chấp, bất đồng giữa các cá nhân, các nhóm xã hội
trong việc khai thác, sử dụng và BVMT” [28]
Như vậy, theo quan điểm cá nhân tranh chấp môi trường “ là những
mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể về quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ
liên quan đến môi trường”. Tuy nhiên, tranh chấp chỉ hình thành khi những
mâu thuẫn, bất đồng đó được thể hiện ra ngoài thông qua những hành vi pháp
lý cụ thể như: gửi văn bản yêu cầu bồi thường thiệt hại, khắc phục sự cố môi
trường; gửi đơn khiếu kiện…
Vậy, môi trường là gì?

Trích đoạn Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật giải quyết tranh chấp môi trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status