Hỗ trợ của tòa án đối với giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài luận văn ths luật 60 38 50 - Pdf 33

ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
KHOA LUậT

Vũ THị HUệ

Hỗ TRợ CủA TòA áN ĐốI VớI GIảI QUYếT
TRANH CHấP THƯƠNG MạI BằNG TRọNG TàI

LUậN VĂN THạC Sĩ LUậT HọC

Hà Nội 2010


ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
KHOA LUậT

Vũ THị HUệ

Hỗ TRợ CủA TòA áN ĐốI VớI GIảI QUYếT
TRANH CHấP THƯƠNG MạI BằNG TRọNG TàI

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50

LUậN VĂN THạC Sĩ LUậT HọC

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: GS.TSKH Đào Trí úc

Hà Nội 2010



1.4.1. Khái quát chung về sự hỗ trợ của Toà án đối với giải quyết tranh chấp
th-ơng mại bằng Trọng tài............................................................................ 40


1.4.2. Các khía cạnh hỗ trợ của Tòa án đối với giải quyết tranh chấp th-ơng
mại bằng Trọng tài ....................................................................................... 43
Ch-ơng 2: THựC TRạNG Về Sự Hỗ TRợ CủA TOà áN ĐốI VớI
GIảI QUYếT TRANH CHấP THƯƠNG MạI BằNG TRọNG TàI .... 58
2.1. Thực trạng chung về sự hỗ trợ của Tòa án đối với giải quyết tranh chấp
th-ơng mại bằng Trọng tài ở Việt Nam hiện nay .......................................... 58
2.2. Thực trạng và nguyên nhân về sự hỗ trợ của Tòa án đối với giải quyết
tranh chấp th-ơng mại bằng Trọng tài ở một số khía cạnh cụ thể .................. 58
2.2.1. Vấn đề xem xét thoả thuận trọng tài, thẩm quyền giải quyết vụ tranh
chấp của Hội đồng trọng tài .......................................................................... 59
2.2.2. Về biện pháp khẩn cấp tạm thời .......................................................... 61
2.2.3. Vấn đề thu thập chứng cứ và triệu tập nhân chứng .............................. 67
2.2.4. Quy định về huỷ quyết định trọng tài .................................................. 69
Ch-ơng 3: PHƯƠNG HƯớNG Và GIảI PHáP NHằM NÂNG CAO
HIệU QUả Hỗ TRợ CủA TOà áN ĐốI VớI GIảI QUYếT TRANH
CHấP THƯƠNG MạI BằNG TRọNG TàI ........................................... 80
3.1. Ph-ơng h-ớng chung ............................................................................. 80
3.2. Các giải pháp cụ thể............................................................................... 81
3.2.1. Cần có cơ chế hỗ trợ pháp lý từ phía Nhà n-ớc đối với các tổ chức phi
Chính phủ, trong đó có Trọng tài th-ơng mại ............................................... 81
3.2.2. Nâng cao năng lực của các Trọng tài viên và các Trung tâm trọng tài
trong quá trình giải quyết các tranh chấp th-ơng mại ................................... 83
3.2.3. Nâng cao năng lực của Thẩm phán trong quá trình hỗ trợ Trọng tài giải
quyết các tranh chấp th-ơng mại .................................................................. 84
3.2.4. Nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp và các tổ chức khác có liên
quan trong việc giải quyết tranh chấp th-ơng mại bằng Trọng tài ................. 85

có những -u điểm, hạn chế, không có ph-ơng thức nào chiếm vị thế tuyệt đối.
Tuy nhiên, căn cứ vào những -u điểm v-ợt trội của Trọng tài thì ph-ơng thức
này đang đ-ợc các doanh nghiệp lựa chọn, đặc biệt đối với các tranh chấp có
yếu tố n-ớc ngoài.
Có thể nói, từ khi Việt Nam nỗ lực hoàn chỉnh khung pháp lý cho hoạt
động của Trọng tài bằng việc ban hành Pháp lệnh Trọng tài năm 2003 và mới

1


đây là Luật Trọng tài th-ơng mại năm 2010, việc giải quyết các tranh chấp
th-ơng mại bằng Trọng tài đã thực sự chuyển biến và mang lại những dấu hiệu
tích cực. Cùng với hoạt động của Trọng tài thì sự hỗ trợ của Toà án cũng có
những tác động nhất định tới hiệu quả giải quyết các tranh chấp đó. Tuy
nhiên, với những quy định của pháp luật hiện hành về sự hỗ trợ của Tòa án
trong việc giải quyết tranh chấp th-ơng mại bằng Trọng tài đã tỏ ra không còn
phù hợp v gây nhiều tranh ci. Tụ thực tiễn trên, tôi đ chón vấn đề: Hổ trợ
ca To n đỗi với gii quyết tranh chấp thương mi bng Tróng ti lm đề
tài luận văn Thạc sĩ của mình.
2.

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những năm gần đây, vấn đề Hổ trợ ca To n đỗi với gii quyết tranh

chấp thương mi bng Tróng ti được quan tâm nghiên cứu nhm tăng cưộng
hiệu quả giải quyết các tranh chấp th-ơng mại, đồng thời nâng cao hiệu quả
hỗ trợ của Tòa án đối với việc giải quyết các tranh chấp. Đã có những công
trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này d-ới nhiều góc độ khác nhau, tiêu
biểu như cc tc phẩm: Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và cơ chế hỗ trợ
của tòa án (Thạc sỹ Bạch Thị Lệ Thoa); Giải quyết tranh chấp bằng Trọng


thực trạng, nguyên nhân về sự hỗ trợ của Tòa án đối với giải quyết tranh chấp
th-ơng mại bằng Trọng tài; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả hỗ trợ của Tòa án đối với việc giải quyết các tranh chấp đó.
5.

Ph-ơng pháp nghiên cứu
Luận văn đ-ợc nghiên cứu trên cơ sở ph-ơng pháp luận chủ nghĩa duy

vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng của chủ nghĩa
Mác-Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà n-ớc ta về pháp luật.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã áp dụng một số
ph-ơng pháp cụ thể nh- sau: Ph-ơng pháp phân tích để làm sáng tỏ những nội
dung thuộc phạm vi nghiên cứu; ph-ơng pháp so sánh đ-ợc sử dụng để làm rõ
mức độ t-ơng quan giữa các quy định, các quan điểm để từ đó có những đánh
giá, nhận định khách quan về nội dung nghiên cứu; ph-ơng pháp tổng hợp
đ-ợc sử dụng để khái quát hóa nội dung nghiên cứu một cách có hệ thống,
làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu; ph-ơng pháp
thống kê đem đến một cách nhìn cụ thể hơn thông qua những con số và vụ
việc cụ thể.

3


6.

ý nghĩa và điểm mới của luận văn
Luận văn là chuyên khảo nghiên cứu t-ơng đối toàn diện về hệ thống

vấn đề sự hỗ trợ của Toà án đối với giải quyết tranh chấp th-ơng mại bằng


1.1.

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài và thủ tục tố tụng

trọng tài
1.1.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài
Tr-ớc khi ban hành Luật Trọng tài, đã có rất nhiều ý kiến khác nhau
của các Đoàn đại biểu Quốc hội về việc tiếp thu, chỉnh lý Dự án Luật Trọng
tài xung quanh vấn đề xác định phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của
Trọng tài. Nhiều ý kiến đề nghị Trọng tài th-ơng mại có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động th-ơng mại, tranh chấp
phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có liên quan đến hoạt động
th-ơng mại và tranh chấp giữa các bên phát sinh không từ hoạt động th-ơng
mại nh-ng đ-ợc quy định ở các luật khác. Có ý kiến đề nghị nên mở rộng
phạm vi thẩm quyền của Trọng tài th-ơng mại giải quyết cả các tranh chấp
liên quan đến quyền và lợi ích của các bên phát sinh từ nghĩa vụ hợp đồng
hoặc nghĩa vụ ngoài hợp đồng, không phân biệt tranh chấp th-ơng mại với dân
sự, trừ một số tranh chấp liên quan đến các quyền nhân thân, quan hệ hôn
nhân và gia đình, thừa kế, phá sản, bất động sản. Một số ý kiến đề nghị chỉ
nên quy định phạm vi thẩm quyền của Trọng tài th-ơng mại giải quyết các
tranh chấp phát sinh từ hoạt động th-ơng mại theo quy định của Luật Th-ơng
mại năm 2005 [29].
Tr-ớc những luồng ý kiến đó, ủy ban th-ờng vụ Quốc hội nhận thấy
loại ý kiến đề nghị Trọng tài th-ơng mại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
giữa các bên phát sinh từ hoạt động th-ơng mại, tranh chấp phát sinh giữa các
bên trong đó ít nhất một bên có liên quan đến hoạt động th-ơng mại và tranh

5


6


không phải là hoạt động th-ơng mại nh-ng đ-ợc pháp luật khác quy định
cũng đ-ợc giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận.
Tiếp thu ý kiến của ủy ban th-ờng vụ Quốc hội, tại Điều 2 Luật Trọng
tài đã quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài nh- sau:
Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp sau đây: Tranh chấp giữa
các bên phát sinh từ hoạt động th-ơng mại; Tranh chấp phát sinh giữa các
bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động th-ơng mại; Tranh chấp khác giữa
các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.
Nh- vậy, có thể thấy rằng, Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp sau đây:
Thứ nhất, tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động th-ơng mại.
Luật Trọng tài không quy định thế nào là hoạt động th-ơng mại, nh-ng theo
Luật Th-ơng mại năm 2005 quy định: Hoạt động thương mại là hoạt động
nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu
tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Có
thể hiểu rằng, hoạt động th-ơng mại là bất kỳ hoạt động nào mà chủ thể thực
hiện nhằm vào mục đích lợi nhuận và tranh chấp giữa các bên phát sinh từ các
hoạt động đó gọi là tranh chấp th-ơng mại và thuộc thẩm quyền giải quyết của
Trọng tài. Ví dụ: Tranh chấp giữa bên bán hàng và bên mua hàng liên quan
đến hoạt động mua bán hàng hoá là tranh chấp th-ơng mại và thuộc thẩm
quyền giải quyết của Trọng tài.
Về thuật ngữ thương mi theo cch hiểu ca đa sỗ cc chuyên gia v
các n-ớc, một sự đồng ý chung là Trọng tài là một ph-ơng thức thích hợp để
giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh doanh (đối lập với, ví
dụ: các quan hệ gia đình). Thực ra, ở các n-ớc theo truyền thống dân luật, có
mốt sự phân biệt chung giữa cc hợp đọng l thương mi v những hợp
đồng không phải là th-ơng mại. Một hợp đồng th-ơng mại, theo nghĩa rộng là

mi v cc vấn đề khc được quy định trong Nghị định thư Geneva là mỗi
quỗc gia thnh viên cõ thể giới hn nghĩa vú ca mình đỗi với những hợp

8


đọng m được xem l thương mi theo luật ca quỗc gia mình. Điều này
được coi l phm vi thương mi v củng xuất hiện trong Công ước New
York. Cả Nghị định th- Geneva và Công -ớc New York cho phép quốc gia
thnh viên quyền quyết định thương mi được hiểu như thế no. Điều ny
d-ờng nh- loại bỏ triền vọng xây dựng một thực tiễn và tập quán thống nhất
đỗi với những vấn đề l thương mi hoặc không phi thương mi. Tuy
nhiên, thuật ngữ này hiện nay trở thành một từ loại trong ngôn ngữ học, nó
dùng để phân biệt các vụ Trọng tài quốc tế liên quan đến tranh chấp kinh
doanh hoặc th-ơng mại với các vụ Trọng tài quốc tế giữa các quốc gia về các
vấn đề tranh chấp biên giới và các vấn đề chính trị khác. Nó cũng dùng để
phân biệt các vụ Trọng tài quốc tế liên quan đến tranh chấp kinh doanh hoặc
th-ơng mại với các vụ Trọng tài (mà th-ờng là nh-ng không nhất thiết phải là
trong n-ớc) liên quan đến các vấn đề nh- sự chiếm hữu tài sản, luật lao động
và hôn nhân gia đình.
Điều có ý nghĩa quan trọng là phải biết mối quan hệ pháp lý mà từ đó
làm phát sinh vụ việc trọng tài có phải là một quan hệ th-ơng mại hay không.
Ví dụ: vấn đề phát sinh là nếu cần yêu cầu xét công nhận và cho thi hành một
phán quyết của Trọng tài n-ớc ngoài ở một quốc gia đã gia nhập Công -ớc
New York, nh-ng n-ớc đó áp dụng khái niệm về phạm vi th-ơng mại. Việc
xem xét luật quỗc gia liên quan để xem luật đõ định nghĩa thương mi như
thế nào là cần thiết. Đôi khi phát sinh vấn đề nếu Tòa án của các quốc gia cụ
thể nào đó áp dụng định nghĩa th-ơng mại theo nghĩa hẹp, nh-ng cách tiếp
cận chung trên bình diện quỗc tế thì định nghĩa thương mi bao gọm tất c
các loại giao dịch hoặc kinh doanh th-ơng mại. Luật Mẫu không định nghĩa

Theo đó, Trọng tài không chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát
sinh từ hoạt động th-ơng mại mà còn có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
không phát sinh từ hoạt động th-ơng mại nh-ng đ-ợc pháp luật khác quy
định. Điều này hoàn toàn phù hợp với tình hình hiện nay và đồng bộ với các
văn bản pháp luật khác. Ví dụ: Tại Điều 12 Luật Đầu t- năm 2005 có quy

10


định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài đối với các tranh chấp
liên quan đến hoạt động đầu t-.
Trong khi đó, Pháp lệnh Trọng tài năm 2003 quy định về thẩm quyền
giải quyết tranh chấp của Trọng tài nh- sau: Trọng tài là phương thức giải
quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động th-ơng mại đ-ợc các bên thỏa
thuận; trong đó Pháp lệnh có quy định hoạt động th-ơng mại là: việc
thực hiện một hay nhiều hành vi th-ơng mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh
bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý
th-ơng mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; t- vấn; kỹ thuật; li xăng; đầu t-; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển
hàng hoá, hành khách bằng đ-ờng hàng không, đ-ờng biển, đ-ờng sắt, đ-ờng
bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật.
Nh- vậy, có thể thấy rằng, so với Pháp lệnh Trọng tài năm 2003 thì
thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài đã đ-ợc mở rộng hơn nhiều
trong Luật Trọng tài, nó không chỉ bó hẹp trong phạm vi tranh chấp phát sinh
từ hoạt động th-ơng mại mà còn các tranh chấp khác có tính chất th-ơng mại.
Luật Trọng tài đã khắc phục những tồn tại của Pháp lệnh Trọng tài năm 2003,
khắc phục việc phân định không rõ ràng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài
đối với các tranh chấp th-ơng mại, trên cơ sở đó bảo đảm sự t-ơng thích giữa
các văn bản pháp luật hiện hành nh- Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự,
Luật Th-ơng mại, Luật Đầu t- và các luật chuyên ngành. Luật Trọng tài đã dỡ
bỏ hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài năm 2003 về thẩm quyền giải quyết các

có tính độc lập. Nh-ng các Trọng tài viên có đ-ợc chọn cho một vụ việc cụ
thể hay không còn tuỳ thuộc vào nghề nghiệp và trình độ chuyên môn cũng
nh- việc họ có thời gian để làm nhiệm vụ Trọng tài viên hay không. Hơn nữa,
Trọng tài có tính bí mật, còn trong tố tụng toà án, những phiên xét xử đ-ợc tổ
chức công khai.
Các bên không phải trả thù lao cho thẩm phán, nh-ng họ phải chịu mọi
khoản thù lao và chi phí của các Trọng tài viên cũng nh- các khoản phí của tổ

12


chức trọng tài quy chế giám sát vụ việc. Các Trọng tài viên không có quyền ra
lệnh c-ỡng chế bồi th-ờng hoặc áp dụng các biện pháp tạm thời hoặc triệu tập
nhân chứng hoặc bên thứ ba khi họ không muốn tham gia vào tố tụng. ở một
số n-ớc, Toà án không có nhiều kinh nghiệm trong một số lĩnh vực chuyên
ngành (tranh chấp hàng hải, ngân hàng hay sáng chế). Với sự phát triển của
hội nhập khu vực, phán quyết của Toà án th-ơng mại có thể đ-ợc thi hành
nhanh chóng giữa một số n-ớc nhất định. Vì vậy, mặc dù Trọng tài là ph-ơng
thức th-ờng đ-ợc khuyến nghị để giải quyết tranh chấp th-ơng mại thì việc sử
dụng Toà án cũng có thể là một lựa chọn có giá trị tuỳ vào hoàn cảnh cụ thể.
Có thể thấy những điểm khác biệt giữa tố tụng trọng tài và tố tụng toà
án nh- sau:
Thứ nhất, về tính chung thẩm, phán quyết của Toà án th-ờng bị kháng
cáo, trong khi đa số các quyết định trọng tài không bị kháng cáo, chỉ có thể
dựa vào một vài lý do để kh-ớc từ quyết định trọng tài tại Toà án.
Thứ hai, về sự công nhận quốc tế, phán quyết của Toà án th-ờng rất khó
đạt đ-ợc sự công nhận quốc tế, phán quyết của Toà án đ-ợc công nhận tại một
n-ớc khác th-ờng thông qua một hiệp định song ph-ơng hoặc theo các quy tắc
rất nghiêm ngặt, có một số ngoại lệ khu vực (ví dụ: các n-ớc thuộc OHADA
và Liên minh Châu Âu). Quyết định trọng tài đạt đ-ợc sự công nhận quốc tế

ngăn chặn hành vi sai phạm. Theo luật của nhiều n-ớc, Hội đồng trọng tài
cũng đ-ợc quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, Trọng tài
viên không thể ra lệnh cho bên thứ ba.
Thứ bảy, về nhân chứng, các Toà án, đại diện chủ quyền quốc gia có
quyền triệu tập bên thứ ba và nhân chứng ra tr-ớc Toà, đây gọi là quyền c-ỡng
chế mà Trọng tài viên không có. Đối với Trọng tài, các Trọng tài viên không
có quyền triệu tập bên thứ ba khi ch-a có sự đồng ý của họ và không có quyền
yêu cầu một bên phải mời nhân chứng đến.
Thứ tám, về tốc độ, tố tụng toà án có thể bị trì hoãn và kéo dài, các bên
có thể gặp phải một loạt sự kháng cáo kéo dài và tốn kém. Trong khi tố tụng

14


trọng tài có thể tiến hành rất nhanh, có thể là vài tháng hoặc vài tuần nếu các
bên muốn.
Thứ chín, về tính bí mật, các phiên xét xử tại Toà án cũng nh- các phán
quyết khác là công khai. Trong khi các phiên họp giải quyết tranh chấp của
Trọng tài không đ-ợc tổ chức công khai và chỉ có các bên nhận đ-ợc quyết
định. Đây là một -u điểm lớn của Trọng tài khi vụ kiện liên quan tới các bí
mật th-ơng mại và phát minh. Các điều khoản chính trong hợp đồng bao gồm
cả những điều khoản về tính bí mật phải đ-ợc tuân thủ trong tố tụng trọng tài.
Bởi tính bí mật rất quan trọng trong tranh chấp về sở hữu trí tuệ, nên các điều
khoản bổ sung về tính bí mật có thể đ-ợc các bên lập (d-ới dạng điều khoản
hợp đồng) hoặc các Trọng tài viên (d-ới dạng một mệnh lệnh thủ tục hoặc
trong văn bản xác định thẩm quyền).
Thứ m-ời, về phí tổn, đối với tố tụng toà án, các bên phải trả thù lao cho
thẩm phán, ngoài ra phí hành chính rất hợp lý. Tuy nhiên, chi phí trong tranh
tụng quốc tế chủ yếu là thù lao cho các luật s-. Đối với tố tụng trọng tài, các
bên phải trả tr-ớc các khoản thù lao, chi phí đi lại và ăn ở cho Trọng tài viên,

doanh của họ và phải làm nhiệm vụ vừa tốn thời gian và tiền bạc là dịch hợp
đồng, th- từ trao đổi giữa các bên và các tài liệu liên quan khác sang ngôn ngữ
của Toà án đó.
Ng-ợc lại, việc đ-a tranh chấp ra Trọng tài có nghĩa là tranh chấp có
thể đ-ợc giải quyết ở một diễn đàn trung lập (hoặc địa điểm Trọng tài) chứ
không phải trên lãnh thổ quốc gia của một bên này hay bên kia. Đây là vấn đề
đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các tranh chấp th-ơng mại quốc tế.
Việc lựa chọn Trọng tài là một ph-ơng thức giải quyết tranh chấp cũng
tạo cho mỗi bên cơ hội tham gia vào việc lựa chọn một Hội đồng trọng tài
trung lập. Mốt hoặc nhiều Trọng tài viên sẽ đ-ợc lựa chọn vì những chuyên
môn và kỹ năng đặc biệt của họ về luật th-ơng mại, sở hữu trí tuệ, xây dựng
hoặc một lĩnh vực phù hợp nào đó. Một Hội đồng trọng tài có kinh nghiệm sẽ
nắm đ-ợc một cách nhanh chóng các vấn đề quan trọng nhất về nội dung và

16


pháp luật áp dụng trong vụ tranh chấp và do đó tiết kiệm thời gian và tiền bạc
cho các bên, cũng nh- tạo cho các bên khả năng có đ-ợc một quyết định trọng
tài có thể chấp nhận đ-ợc. Hơn nữa, một vụ trọng tài có tính liên tục, bởi vì
Hội đồng trọng tài đã đ-ợc lựa chọn để giải quyết một vụ kiện cụ thể sẽ theo
vụ kiện đó từ đầu đến cuối. Điều này tạo điều kiện cho Hội đồng trọng tài có
thể hiểu biết rõ về các bên, những ng-ời t- vấn của họ và hiểu rõ vụ kiện vì nó
thể hiện thông qua bản bào chữa.
Ngoài ra, các bên đ-ơng sự đ-ợc tự do lựa chọn Trọng tài viên. Cách
thức lựa chọn Trọng tài và Hội đồng trọng tài phát huy tính dân chủ, khách
quan trong quá trình tố tụng. Hoạt động trọng tài diễn ra liên tục vì Hội đồng
trọng tài xét xử vụ kiện đã đ-ợc các bên lựa chọn, hoặc đ-ợc chỉ định để giải
quyết vụ kiện đó. Khi mang một vụ việc ra xét xử ở Toà án, có khả năng thẩm
phán đ-ợc chỉ định giải quyết vụ việc không có trình độ chuyên môn liên

muốn. Trong giới hạn, quyết định trọng tài là chung thẩm, nó không phải nhtr-ờng hợp một số bản án của Toà án ở b-ớc đầu tiên của thang bậc kháng
cáo. Một khi phán quyết trọng tài đã đ-ợc tuyên, nó có thể đ-ợc c-ỡng chế thi
hành một cách trực tiếp bởi Toà án, cả trên bình diện quốc gia và quốc tế.
Về ph-ơng diện này, một quyết định trọng tài khác với một thoả thuận
là kết quả của trung gian hoặc mốt hình thức giải quyết tranh chấp lựa chọn
khc, l chỉ rng buốc theo nghĩa vú hợp đồng. Về khả năng có thể đ-ợc thi
hành trên bình diện quốc tế, một phán quyết trọng tài cũng khác một bản án
của Toà án bởi vì các điều -ớc quốc tế điều chỉnh việc thi hành một phán
quyết trọng tài (nh- Công -ớc New York) đ-ợc nhiều quốc gia thừa nhận hơn
so với các điều -ớc quốc tế về việc công nhận lẫn nhau các bản án của Toà án.
Thực ra chỉ có duy nhất một điều -ớc quốc tế đa ph-ơng quan trọng về công
nhận và cho thi hành bản án của Toà án đó là Quy định số 44/2001 của Hội
đồng Châu Âu (tr-ớc đây là các Công -ớc Brussels và Lugano) liên quan đến
các bản án đ-ợc tuyên bởi các n-ớc thành viên của Liên minh Châu Âu và
Thuỵ Sĩ. Hội nghị Hague về Luật t- pháp quốc tế cũng đã gặp trở ngại trong
những năm gần đây trong việc soạn thảo một Dự thảo tm thội Công ước về

18


Thẩm quyền và Công nhận và Thi hành Bản án Dân sự và Th-ơng mại của
Toà án n-ớc ngoài.
Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật
Trọng tài là một tiến trình giải quyết tranh chấp có tính riêng biệt. Hầu
hết pháp luật về Trọng tài của các n-ớc đều thừa nhận nguyên tắc Trọng tài xử
kín (in camera) nếu các bên không quy định khác. Tính bí mật thể hiện rõ ở
nội dung tranh chấp và danh tính của các bên đ-ợc giữ kín, đáp ứng nhu cầu
tin cậy trong quan hệ th-ơng mại. Điều đó có ý nghĩa lớn trong điều kiện cạnh
tranh.
Đây là -u điểm đối với những doanh nghiệp không muốn các chi tiết

nh- Phòng Th-ơng mại Quốc tế, đặt tại Pari (ICC) xuất bản các bản sao quyết
định tróng ti được sắp xếp v biên tập như l ti liệu hướng dẫn cho cc
luật s- và Trọng tài viên. Quy tắc Trọng tài Quốc tế của Trung tâm Giải quyết
Tranh chấp Quốc tế (ICDR) quy định một phán quyết trọng tài có thể đ-ợc
công khai chỉ khi cõ sự đọng ý của tất cả các bên hoặc theo quy định của
php luật. Những quy tắc ny quy định, trụ khi cõ sự đọng ý ca cc bên, cc
phán quyết trọng tài đ-ợc tuyển chọn có thể đ-ợc công khai, nh-ng tên của
các bên và các đặc điểm nhận biết khác đã đ-ợc loại bỏ. Nếu phán quyết trọng
tài trở nên công khai thông qua các thủ tục cho thi hành, khi đó tên của các
bên không nhất thiết phải bị loại bỏ.
Nh- vậy, một trong các -u điểm của Trọng tài là một tố tụng t-, trong
đó các bên có thể trình bày những sự khác biệt và bất đồng của họ và thảo
luận tình hình tài chính của họ, bí mật công nghệ độc quyền mà không phải
phơi bày ra tr-ớc công chúng và cơ quan truyền thông. Thực tế là phiên họp
giải quyết tranh chấp không công khai vẫn là một đặc điểm không thay đổi
của Trọng tài. Tuy nhiên, để đảm bảo tính bí mật của toàn bộ quá trình tố
tụng, ngày càng cần thiết phải dựa vào một quy định rõ ràng của các quy tắc
có liên quan, ví dụ: Quy tắc của Toà án Trọng tài Quốc tế Luân Đôn (LCIA)
hoặc của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) hoặc ký kết một thoả thuận
bảo mật cụ thể.

20


Ngoài ra, có thể thấy một -u điểm quan trọng nữa của tố tụng trọng tài
là, tuy là giải quyết tranh chấp th-ơng mại bằng Trọng tài một tổ chức phi
chính phủ, nh-ng đ-ợc sự hỗ trợ, bảo đảm về mặt pháp lý của Toà án, thể hiện
ở: Vấn đề thực thi thoả thuận trọng tài; vấn đề thành lập Hội đồng trọng tài;
vấn đề kh-ớc từ thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; về việc áp dụng các biện
pháp khẩn cấp tạm thời, các biện pháp liên quan đến việc có mặt của nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status