Sự hỗ trợ của tòa án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam - Pdf 28


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TỐNG VÂN HUYỀN SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN
ĐỐI VỚI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
BẰNG TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2011
3
MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI VÀ
SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI
5
1.1.
Sự hình thành và phát triển của trọng tài thương mại

Về việc triệu tập người làm chứng
21
1.2.4.
Về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
21
1.2.5.
Đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc
25
1.2.6.
Hủy phán quyết trọng tài
26
1.2.7.
Một số vấn đề cần được lưu ý trong quá trình tòa án giải
quyết quyết các vụ việc liên quan tới trọng tài thương mại
30

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI VÀ SỰ
HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
33

4
2.1.
Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng Trọng tài thương
mại tại Việt Nam
33
2.1.1.
Thực trạng Pháp luật Trọng tài thương mại tại Việt Nam
33
2.1.2.

3.1.2.
Thỏa thuận trọng tài
72
3.1.3.
Một số điểm mới về quy định trọng tài viên
74
3.1.4.
Một số điểm tiến bộ khác
74
3.2.
Đổi mới nhận thức về sự hỗ trợ của tòa án đối với giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài thương mại
76
3.2.1.
Hỗ trợ của Tòa án trong việc thu thập chứng cứ và áp dụng
các biện pháp khẩn cấp tạm thời
77
3.2.2.
Hỗ trợ của Tòa án trong việc xác định thẩm quyền của Trọng tài
82
3.2.3.
Hỗ trợ trong việc triệu tập nhân chứng
83
3.2.4.
Hủy quyết định Trọng tài
84

KẾT LUẬN
86

6
MỞ ĐẦU

1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Trong thời đại kinh tế thị trường hiện nay, khi các doanh nghiệp ngày
càng có điều kiện được thành lập với nhiều hình thức khác nhau và trong
nhiều ngành nghề khác nhau thì việc liên kết, hợp tác hay thậm chí là cạnh
tranh nhau đang ngày càng trở nên phổ biến. Bên cạnh những hợp đồng hợp
tác, những giao kết "thuận buồm xuôi gió" vẫn còn tồn tại khá nhiều những
mâu thuẫn, bất đồng thậm chí vi phạm quyền lợi lẫn nhau giữa các doanh
nghiệp. Từ đó gây ra những thiệt hại cho các bên và cho cả nền kinh tế thị
trường. Chính vì vậy, thuật ngữ "tranh chấp thương mại" hay "tranh chấp kinh
doanh" đã là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước
trên thế giới và mới được sử dụng rộng rãi, phổ biến ở nước ta trong mấy năm
gần đây.
Tranh chấp thương mại là một hiện tượng phổ biến và thường xuyên
diễn ra trong hoạt động của nền kinh tế thị trường. Do tính chất thường xuyên
cũng như hậu quả của nó gây ra cho các chủ thể tham gia tranh chấp nói riêng
và cho cả nền kinh tế nói chung, pháp luật Việt Nam cũng đã sớm có những
quan tâm nhất định đến hoạt động này, cũng như các phương thức giải quyết
nó thể hiện thông qua các quy định cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật.
Trọng tài thương mại ra đời và phát triển từ rất sớm, ở nhiều nước có

nhưng cũng chỉ nói chung mà chưa đi sâu nghiên cứu chi tiết pháp luật về
trọng tài thương mại, bản chất thỏa thuận trọng tài cũng như thực trạng về
thỏa thuận trọng tài thương mại ở nước ta. Trong xu thế hội nhập hiện nay,
việc nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề này mang ý nghĩa lý luận và
thực tiễn sâu sắc. Những giải pháp của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết
quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về trọng tài của
Việt Nam.

8
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Trong nội dung trình bày đề tài sẽ tập trung nghiên cứu lý luận chung
về trọng tài thương mại và sự hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động trọng tài,
sau đó tác giả sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá thực trạng pháp luật về sự
hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động trọng tài về 5 nội dung:
- Tòa án hỗ trợ trong việc thi hành thỏa thuận trọng tài
- Sự hỗ trợ của tòa án trong việc lựa chọn trọng tài viên
- Tòa án xem xét lại quyết định của Hội đồng trọng tài về tính hợp
pháp của thỏa thuận trọng tài, về thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp.
- Sự hỗ trợ của tòa án trong việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
- Sự hỗ trợ của tòa án trong việc hủy quyết định của trọng tài
Qua đó nêu lên những điểm đổi mới hoàn thiện của Luật Trọng tài
thương mại.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cả hai phương diện lý luận và thực tiễn về sự hỗ trợ
của tòa án đối với việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường
trọng tài thương mại tại Việt Nam. Trước tiên, nghiên cứu về trọng tài thương
mại, thực trạng và sự phát triển của trọng tài thương mại nói chung. Sau đó
tập trung nghiên cứu và đưa ra quan điểm đổi mới hoàn thiện pháp luật về sự
hỗ trợ của tòa án và thực trạng sự hỗ trợ của tòa án đối với việc giải quyết
tranh chấp bằng con đường trọng tài thương mại ở nước ta.

BẰNG TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI

1.1. Sự hình thành và phát triển của trọng tài thƣơng mại
1.1.1. Khái quát chung về trọng tài thương mại
Thực tiễn thương mại trên thế giới đã chứng tỏ rằng, trọng tài là một
phương thức hữu hiệu để giải quyết tranh chấp. Phương thức này đã xuất hiện
từ lâu và ngày càng phổ biến trong đời sống kinh tế ở khắp nơi trên thế giới.
Khái niệm trọng tài được nghiên cứu dưới rất nhiều bình diện khác nhau trong
khoa học pháp lý và hiện nay cũng có rất nhiều cách tiếp cận về khái niệm
này. Trọng tài với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp là cách
tiếp cận chủ yếu của hệ thống các quy định pháp luật về trọng tài.
Theo cuốn "Đại từ điển kinh tế thị trường" thì Trọng tài làm một
phương thức giải quyết một cách hòa bình các vụ tranh chấp. Là chỉ đôi bên
đương sự tự nguyện đem những sự việc, những vấn đề tranh chấp giao cho
bên thứ ba có tư cách công bằng chính trực xét xử, lời phán quyết do người
này đưa ra có hiệu lực ràng buộc với cả hai bên.
Theo Luật mẫu của UNCITRAL - một văn bản nhiều nước tiếp nhận
khi xây dựng luật trọng tài thì Trọng tài nghĩa là mọi hình thức trọng tài có
hoặc không có sự giám sát của tổ chức.
Theo Hội đồng trọng tài Mỹ (AAA) thì Trọng tài là cách thức giải
quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách
quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt
buộc các bên tranh chấp phải thi hành.

11
Theo cuốn "Đạo đức và kỹ năng hành nghề luật sư trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" do PGS.TS Lê Hồng Hạnh làm chủ
biên thì Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp theo đó hai hay nhiều
bên đưa vụ tranh chấp của họ ra trước bên thứ ba trung lập để chủ thể này tiến
hành giải quyết tranh chấp theo những thủ tục đặc trưng của quá trình đó.

1.1.2. Đặc điểm trọng tài thương mại
* Trọng tài với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp
Trọng tài được hiểu là một cơ quan tài phán, có thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại. Ở các nước có nền kinh
tế thị trường, trọng tài được thừa nhận là cơ quan tài phán độc lập tại song
song với Tòa án. Pháp luật tôn trọng quyền tự do lựa chọn của các bên, khi có
tranh chấp trong thương mại phát sinh, các chủ thể có thể lựa chọn hoặc Tòa
án hoặc Trọng tài giải quyết tranh chấp cho mình. Nếu các bên đã có thỏa
thuận trọng tài có hiệu lực, đưa tranh chấp ra Trọng tài giải quyết mà sau đó
các bên lại đưa đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án không được thụ lý
và sẽ trả lại đơn kiện và vụ tranh chấp đó sẽ do trọng tài giải quyết.
Trong tương quan so sánh với Tòa án, cơ quan giải quyết tranh chấp
thương mại thuộc hệ thống cơ quan Nhà nước, Trọng tài thương mại có
những đặc trưng riêng khác hẳn với Tòa án, cụ thể là:
Một là, với hình thức là một Trung tâm Trọng tài thì trọng tài là một
tổ chức xã hội - nghề nghiệp do các trọng tài viên tự thành lập nên để giải
quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại; còn với
hình thức là trọng tài vụ việc (ad- hoc) thì trọng tài là một tổ chức lâm thời do
các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết một vụ việc tranh chấp
cụ thể. Trọng tài không phải là cơ quan xét xử của Nhà nước, không do Nhà
nước thành lập nên và cũng không hoạt động bằng ngân sách nhà nước. Các

13
trọng tài viên không phải là viên chức nhà nước và cũng không hưởng lương
từ ngân sách nhà nước. Khi xét xử, trọng tài không nhân danh Nhà nước mà
nhân danh "quyền lực tư" để ra các phán quyết.
Hai là, thẩm quyền giải quyết của trọng tài đối với tranh chấp thương
mại cụ thể không tự nhiên mà có, không do pháp luật ấn định mà còn phụ
thuộc vào sự thỏa thuận của các chủ thể tranh chấp. Pháp luật quy định, trọng
tài chỉ có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp khi các bên tranh chấp có thỏa

biến để giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế. Với tính chất là một
phương thức giải quyết tranh chấp, trọng tài thương mại được hiểu là phương
thức, trong đó các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận với nhau để ủy thác
việc giải quyết tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ cho trọng tài; và trọng
tài, trên cơ sở các tình tiết khách quan của tranh chấp, được quyền đưa ra
quyết định cuối cùng để giải quyết tranh chấp và quyết định này có giá trị bắt
buộc thi hành đối với các bên. Tại Việt Nam, trọng tài theo đúng nghĩa là một
phương thức giải quyết tranh chấp chỉ ra đời từ năm 1993 trên cơ sở Quyết
định số 204-TTg của thủ tướng Chính phủ ngày 28/4/1993 về việc thành lập
trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC).
Với tư cách là một hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong
hoạt động kinh doanh thương mại, trọng tài có những đặc trưng cơ bản sau:
Một là, trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia
của bên thứ ba - một Hội đồng trọng tài hoặc một trọng tài viên duy nhất.
Trọng tài do chính các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn trước hoặc sau khi
xảy ra tranh chấp. Trọng tài là người hoàn toàn độc lập với các bên, đứng
giữa để giải quyết tranh chấp, đưa ra các phán quyết bắt buộc để bảo vệ quyền
và lợi ích của các bên.
Hai là, trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua một thủ
tục tố tụng chặt chẽ. Đối với trọng tài thường trực trong quá trình giải quyết
tranh chấp, trọng tài viên và các bên tranh chấp phải tuân thủ đúng trình tự tố
tụng mà pháp luật trọng tài, điều lệ và quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài đó

15
quy định. Còn đối với trọng tài vụ việc, các bên có thể thỏa thuận thủ tục tố
tụng riêng, ngoài ra, các trọng tài viên và các bên cũng phải tuân thủ đúng thủ
tục tố tụng trọng tài mà mình đặt ra.
Ba là, kết quả của việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài là phán quyết
do trọng tài tuyên đối với các bên đương sự của vụ tranh chấp, phán quyết của
trọng tài mang tính chung thẩm, vừa kết hợp yếu tố thỏa thuận (các bên

Thông thường trọng tài viên được chọn có thể là các thương gia có tu nghiệp
pháp lý hay các luật sư làm việc cho các công ty, họ không chỉ nắm vững kiến
thức về luật pháp mà còn rất am hiểu về hoạt động thương mại.
Thỏa thuận trọng tài vụ việc thường được thiết lập khi tranh chấp đã
xảy ra cho nên thường là phù hợp với tính chất, điều kiện cụ thể của tranh
chấp. Thời gian giải quyết tranh chấp nhanh chóng theo sự định đoạt của
đương sự, họ có toàn quyền trong việc xác định quy chế tố tụng. Tuy nhiên,
để soạn thảo được các thỏa thuận trọng tài vụ việc đòi hỏi các bên phải có luật
sư chuyên gia tư vấn pháp lý có chuyên môn trong lĩnh vực trọng tài. Giữa
các bên tranh chấp có sự thiện chí, hợp tác chặt chẽ. Mặt khác, do tính chất
không ổn định, không có quy chế hoạt động chặt chẽ nên hiệu quả giải quyết
vụ việc tranh chấp của trọng tài vụ việc là không cao.
Sự khác biệt cơ bản giữa nước ta với nhiều nước có nền kinh tế thị
trường phát triển và có lịch sử trọng tài tồn tại khá lâu đó là ngay từ khi xuất
hiện phương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài, họ đã thừa nhận
có hai hình thức tổ chức trọng tài là trọng tài adhoc và trọng tài thường trực.
Ở Việt Nam, trước khi Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 ra đời,
chưa từng có trọng tài vụ việc. Mặc dù đã có một số văn bản điều chỉnh các
quan hệ kinh tế, thương mại với nước ngoài thừa nhận trọng tài adhoc trong
việc giải quyết các tranh chấp kinh tế quốc tế như: Luật đầu tư nước ngoài
1987; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 1991… nhưng chưa có văn bản

17
pháp luật nào về trọng tài quy định về trọng tài vụ việc. Do vây trên thực tế
hình thức trọng tài này hầu như không tồn tại.
Ưu điểm của hình thức Trọng tài vụ việc so với trọng tài quy chế là là
quyền tự định đoạt của các bên lớn hơn, chi phí cho tố tụng trọng tài thấp và
thời gian giải quyết nhanh. Tuy nhiên, trọng tài vụ việc cũng có những hạn
chế nhất định, hạn chế lớn nhất là phải phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của
các bên. Nếu một bên không có thiện chí quá trình tố tụng sẽ luôn có nguy cơ

phải được thành lập bởi Nhà nước. Do đó, nó không nằm trong hệ thống cơ
quan quản lý Nhà nước cũng không thuộc hệ thống cơ quan xét xử Nhà nước.
- Hoạt động của trung tâm trọng tài theo nguyên tắc tự trang trải mà
không được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước.
- Trọng tài viên duy nhất hoặc hội đồng trọng tài không nhân danh
quyền lực nhà nước mà nhân danh người thứ ba độc lập ra phán quyết.
- Dù không được thành lập bởi Nhà nước nhưng trung tâm trọng tài
vẫn luôn đặt dưới sự quản lý và hỗ trợ của Nhà nước, thông qua các hoạt động
như: ban hành các văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý cho việc tổ chức
và hoạt động của trung tâm trọng tài; cấp, thay đổi, bổ sung hay thu hồi giấy
phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động của các trung tâm trọng tài; hỗ trợ
trung tâm trọng tài trong việc hủy hoặc không hủy quyết định trọng tài, hỗ trợ
trong việc cưỡng chế thi hành quyết định trọng tài
Thứ hai, các trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân, tồn tại độc lập
với nhau. Giữa các trung tâm trọng tài không tồn tại quan hệ phụ thuộc cấp
trên, cấp dưới.
Thứ ba, tổ chức và quản lý ở các trung tâm trọng tài rất đơn giản, gọn
nhẹ. Cơ cấu của trung tâm trọng tài gồm có ban điều hành và các trọng tài
viên của trung tâm. Cụ thể:
- Ban điều hành gồm có chủ tịch, một hoặc các phó chủ tịch trung tâm
trọng tài và có thể có tổng thư ký trung tâm trọng tài do chủ tịch trung tâm
trọng tài cử.

19
- Các trọng tài viên trong danh sách trung tâm trọng tài có thể tham
gia vào việc giải quyết tranh chấp khi được chọn hoặc chỉ định.
Thứ tư, mỗi trung tâm trọng tài tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và
có quy tắc tố tụng riêng. Thể hiện:
- Tùy theo khả năng chuyên môn của đội ngũ trọng tài viên, mỗi trung
tâm trọng tài có quyền tự xác định về lĩnh vực hoạt động của mình, đồng thời

chóng hoặc vụ việc đơn giản thì quá trình tố tụng thường bị kéo dài mà các
bên tranh chấp và Hội đồng trọng tài vẫn bắt buộc phải tuân theo do phải tuân
thủ các thời hạn theo quy định của Quy tắc tố tụng.
1.1.4. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng
tài thương mại
Trọng tài thương mại là một trong 4 hình thức giải quyết tranh chấp
thương mại. Đây là một hình thức giải quyết tranh chấp khá đơn giản, nhanh
chóng và có nhiều ưu điểm. Tuy nhiên, để áp dụng hình thức này trong việc
giải quyết tranh chấp, các chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp cần tuân thủ
một số những nguyên tắc cơ bản sau:
1. Trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên nếu
thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội.
2. Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân
theo quy định của pháp luật.
3. Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.
Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của mình.
4. Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành
không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
5. Phán quyết trọng tài là chung thẩm [23].

21
1.1.5. Ƣu điểm và nhƣợc điểm của trọng tài thƣơng mại so với phƣơng

thức thương lượng, hòa giải và tòa án
* So với thương lượng, hòa giải
Để góp phần hiểu hơn về ưu và nhược điểm của trọng tài thương mại
so với thương lượng, hòa giải, chúng ta cùng nhau xem xét một số khía cạnh
của thương lượng và hòa giải là hai phương thức giải quyết tranh chấp khác
nhau. Chúng có những điểm chung như: đều là những phương thức giải quyết

thương lượng, hòa giải như nó bị ràng buộc bởi những nguyên tắc pháp lý nhất
định và trình tự thủ tục chặt chẽ, tốn kém hơn về mặt thời gian và cả chi phí.
* So với tòa án
Việc giải quyết tranh chấp thông qua tòa án là hình thức giải quyết
tranh chấp do cơ quan tài phán của Nhà nước thực hiện. Quyền và nghĩa vụ tố
tụng của các bên được xác định trước, thời gian cũng được ấn định trước
trong quá trình tố tụng. Đặc biệt phiên tòa bao giờ cũng có sự tham gia của
Viện kiểm sát làm chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
Mặc dù đã tính đến các đặc thù của quan hệ kinh tế, nhưng nhìn chung giải
quyết tranh chấp thông qua tòa án vẫn phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của
pháp luật tố tụng.
Việc giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài phần nào cũng
mang dáng dấp của việc giải quyết tranh chấp bằng con đường tòa án. Tuy
nhiên, sở dĩ trọng tài thương mại tồn tại và phát triển mạnh mẽ như ngày nay
là vì nó có những điểm mạnh sau đây.
Một là, tố tụng trọng tài diễn ra nhanh chóng, thuận lợi và đảm bảo dân
chủ trong quá trình giải quyết tranh chấp, hạn chế mức cao nhất sự gián đoạn
trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Các bên đương sự có quyền định đoạt
quá trình tố tụng và quyết định thủ tục giải quyết tranh chấp. Họ có quyền lựa
chọn nhiều phương án để giải quyết tranh chấp sao cho phù hợp nhất.

23
Hai là, với tố tụng trọng tài sẽ đảm bảo yếu tố bí mật kinh doanh và
bảo vệ được uy tín của các bên đương sự trên thương trường. Theo khoản 3
Điều 38 Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 thì "phiên họp giải quyết
tranh chấp không công khai. Trong trường hợp có sự đồng ý của các bên, Hội
đồng trọng tài có thể xem xét cho phép người khác tham dự phiên họp". Trong
khi đó, tòa án với thủ tục công khai, mọi người đều có quyền tham dự có thể
không đảm bảo được bí mật và không giữ được uy tín của chủ thể tranh chấp.
Ba là, chi phí cho việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài nói chung

điểm của Nhà nước trong việc đa dạng hóa phương thức giải quyết tranh chấp
và tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các chủ thể kinh doanh được sự bảo hộ
của Nhà nước về mặt pháp lý trong quá trình thực hiện giao dịch thương mại.
Đó cũng là một sự minh chứng về việc đáp ứng nhu cầu hội nhập của Việt
Nam trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt
động Trọng tài thương mại thể hiện ở các nội dung cơ bản sau đây.
1.2.1. Đối với việc thay đổi trọng tài viên
Theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 thì tòa án có thẩm
quyền chỉ định trọng tài viên theo Điều 26 của Pháp lệnh trong các trường
hợp sau:
- Khi phía bị đơn không thông báo việc chọn trọng tài viên cho
nguyên đơn biết trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nguyên đơn gửi đơn kiện
cho bị đơn.
- Trong trường hợp có nhiều bị đơn, các bị đơn không chọn được
trọng tài viên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu tòa án chỉ định trọng tài viên
mình đã chọn trong 30 ngày.
- Trong trường hợp mà 2 trọng tài viên không chọn được trọng tài viên
thứ ba thì yêu cầu tòa án cấp tỉnh chỉ định trọng tài viên thứ ba.
- Đối với vụ tranh chấp do Hội đồng trọng tài được các bên thành lập,
giải quyết (trọng tài vụ việc) thì nguyên đơn có thể yêu cầu tòa án chỉ định.

25
Việc thay đổi trọng tài viên theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010
được quy định tại Điều 43 trong hai trong hợp sau:
- Đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại trung tâm trọng tài, nếu
Hội đồng trọng tài chưa được thành lập, việc thay đổi trọng tài viên do Chủ
tịch Trung tâm trọng tài quyết định. Nếu Hội đồng trọng tài đã được thành
lập, việc thay đổi trọng tài viên do các thành viên còn lại của Hội đồng trọng
tài quyết định. Trong trường hợp các thành viên Hội đồng trọng tài còn lại
không quyết định được hoặc nếu các trọng tài viên hay trọng tài viên duy nhất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status