Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thỏa thuận trọng tài đối với giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Thương mại tại Việt Nam - Pdf 27

NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
LỜI NÓI ĐẦU
Trong điều kiện nền kinh tế - xã hội phát triển như hiện nay, Trọng tài
thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại được các thương
nhân sử dụng một cách phổ biến. Đã xuất hiện trên thế giới từ lâu, nhưng tại
Việt Nam, các chủ thể kinh doanh chỉ biết đến phương thức giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài thương mại từ những năm 1960
1
. Trong suốt hơn 40 năm tồn
tại, các tổ chức trọng tài thương mại Việt Nam cũng như phương thức giải quyết
tranh chấp thương mại bằng trọng tài dần trưởng thành theo sự chuyển đổi, phát
triển của đất nước.
Từ những năm 1990, Việt Nam phát triển kinh tế thị trường, mở rộng giao
lưu thương mại với nhiều quốc gia trên thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam có
nhiều cơ hội giao dịch thương mại với các đối tác nước ngoài nên đã làm quen
và sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhiều hơn trước.
Nhưng các doanh nghiệp vẫn còn e ngại khi chọn trọng tài thương mại để giải
quyết tranh chấp thuộc lĩnh vực thương mại, một mặt do hiểu biết hạn chế, mặt
khác do hệ thống pháp luật về trọng tài thương mại của Việt Nam còn nhiều bất
cập. Mặc dù vậy, với tốc độ phát triển như hiện nay của kinh tế thị trường, giới
luật gia quốc tế và trong nước đều cho rằng giải quyết tranh chấp thương mại
qua Trọng tài thương mại là một phương thức có nhiều ưu điểm, ngày càng ưa
chuộng và phát triển. Cũng vì vậy mà hoàn thiện hành lang pháp lý về trọng tài
thương mại đang được coi là một trong những mục tiêu hàng đầu trong nỗ lực
tạo điều kiện để phát triển trọng tài thương mại nói riêng và hỗ trợ có hiệu quả
hoạt động kinh doanh thương mại nói chung ở nước ta.
Thỏa thuận trọng tài là yếu tố cơ bản cần thiết, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt
toàn bộ hoạt động trọng tài kể từ lúc khởi đầu trọng tài cho đến khi công nhận
và thi hành phán quyết trọng tài. Hiệu quả của hoạt động tố tụng trọng tài phụ
thuộc một phần không nhỏ vào thỏa thuận trọng tài. Sự cần thiết hoàn thiện các
chế định pháp lý về thỏa thuận trọng tài do đó cũng là một yêu cầu tất yếu và là

1.1.1. Khái niệm trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu và ngày càng
phổ biến trong đời sống kinh tế ở khắp nơi trên thế giới. Khái niệm này được
nghiên cứu dưới rất nhiều bình diện khác nhau trong khoa học pháp lý và hiện
nay cũng có rất nhiều cách tiếp cận về khái niệm này. Trọng tài với tư cách là
một phương thức giải quyết tranh chấp là cách tiếp cận chủ yếu của hệ thống các
quy định pháp luật về trọng tài, ví dụ như theo Luật mẫu của UNCITRAL - một
văn bản nhiều nước tiếp nhận khi xây dựng luật trọng tài thì: “ Trọng tài nghĩa
là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có sự giám sát của tổ chức”.
Hay theo Hiệp hội trọng tài Hoa kỳ (AAA) thì: “ Trọng tài là cách thức
giải quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách
quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc
các bên tranh chấp phải thi hành”.
Pháp luật trọng tài Việt Nam cũng có quy định tương tự về khái niệm này:
“Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt
động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự thủ tục
do pháp lệnh này quy định”. (Khoản 1, Điều 2 Pháp lệnh trọng tài thương mại
năm 2003
2
).
Bên cạnh đó, trọng tài với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp
cũng là cách tiếp cận khá phổ biến, ví dụ như theo từ điển tiếng Việt thì trọng tài
là “ Người được cử ra để phân xử, giải quyết những vụ tranh chấp”.
Ngoài ra, khái niệm này còn được tiếp cận với tư cách là một chế định
pháp luật, theo cuốn Danh từ pháp luật lược giải
3
thì trọng tài là “một chế định
2
Được viết tắt: PLTTTM 2003
3

và cũng không hoạt động bằng ngân sách Nhà nước. Các trọng tài viên không
phải là viên chức Nhà nước và cũng không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Khi xét xử, trọng tài không nhân danh Nhà nước để ra các phán quyết.
Hai là, thẩm quyền giải quyết của trọng tài đối với tranh chấp thương mại
cụ thể không tự nhiên mà có, không do pháp luật ấn định mà còn phụ thuộc vào
4
“ tư nhân” ở đây dùng để là bên thứ ba ngoài Tòa án
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
sự thỏa thuận của các chủ thể tranh chấp. Pháp luật quy định, trọng tài chỉ có
thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp khi các bên tranh chấp có thỏa thuận lựa
chọn trọng tài giải quyết. Nếu không có thỏa thuận trước hoặc sau khi xảy ra
tranh chấp về việc lựa chọn trọng tài hoặc có nhưng thỏa thuận trọng tài vô hiệu
thì trọng tài không có thẩm quyền giải quyết. Có thể nói, chính các chủ thể tranh
chấp với việc lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp của mình đã trao quyền
được xét xử vụ việc cho trọng tài.
Ba là, phán quyết trọng tài vừa là sự kết hợp giữa ý chí, sự thỏa thuận của
các bên, vừa mang tính tài phán của cơ quan có thẩm quyền xét xử. Tuy nhiên,
do trọng tài không phải là cơ quan xét xử của Nhà nước như Tòa án nên phán
quyết của trọng tài không mang tính quyền lực nhà nước. Phán quyết của trọng
tài có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp mà không có giá trị ràng buộc
với bên thứ ba.
5
Ngay cả khi một hoặc các bên tranh chấp không tôn trọng phán
quyết trọng tài, không tự nguyện thi hành phán quyết thì trọng tài cũng không có
cơ quan cưỡng chế của riêng mình để cưỡng chế thi hành. Phán quyết trọng tài
do các bên đương sự tự nguyện thi hành hoặc nhờ đến sự hỗ trợ của cơ quan
Nhà nước để cưỡng chế thi hành.
Như vậy, với tư cách là một cơ quan tài phán, trọng tài không nằm trong
hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước, tồn tại độc lập, song song với Tòa án và có
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp khi được các bên lựa chọn.

thường trực được tổ chức dưới những hình thức đa dạng như: các trung tâm
trọng tài, các hiệp hội trọng tài hay các viện trọng tài, nhưng chủ yếu và phổ
biến vẫn là các Trung tâm Trọng tài. Có thể kể tên các Trung tâm Trọng tài nổi
tiếng như: Toà án trọng tài quốc tế ( IAC) thuộc Phòng Thương mại quốc tế
(ICC) có trụ sở tại Paris (Pháp); Hiệp hội trọng tài Mỹ (AAA); Trọng Tài quốc
tế Singapore; Trọng Tài quốc tế Hồng Kong; ở Việt Nam có Trung tâm Trọng
tài quốc tế Việt Nam – VIAC và một số trung tâm khác.
Có thể nói ưu điểm lớn nhất trọng tài quy chế so với trọng tài vụ việc là
có quy tắc tố tụng chi tiết từ khi bắt đầu đến khi kết thúc quá trình giải quyết
tranh chấp. Điều này đảm bảo trong mọi trường hợp tranh chấp sẽ được giải
quyết, không phụ thuộc vào việc một bên có tham gia vào quá trình tố tụng
trọng tài hay không. Ưu điểm thứ hai là hầu hết các tổ chức trọng tài đều có
những chuyên gia hỗ trợ cho quá trình trọng tài. Họ đảm bảo cho Hội đồng
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
Trọng tài sẽ được thành lập, các khoản phí trọng tài sẽ được nộp đủ, đôn đốc
đúng thời hạn...Bên cạnh đó, trọng tài quy chế cũng có những hạn chế nhất định,
mà hạn chế lớn nhất đó là tốn kém nhiều chi phí vì ngoài việc phải trả chi phí
thù lao cho các trọng tài viên, các bên còn phải trả thêm các chi phí hành chính
để nhận được sự hỗ trợ của các Trung tâm trọng tài. Nhược điểm thứ hai của
Trọng tài quy chế là với những vụ việc cần giải quyết nhanh chóng hoặc vụ việc
đơn giản thì quá trình tố tụng thường bị kéo dài mà các bên tranh chấp và Hội
đồng trọng tài vẫn bắt buộc phải tuân theo do phải tuân thủ các thời hạn theo
quy định của Quy tắc tố tụng.
b. Trọng tài thương mại với tư cách là một hình thức giải quyết tranh
chấp thương mại
Với tính chất là một phương thức giải quyết tranh chấp, trọng tài thương
mại được hiểu là phương thức, trong đó các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận
với nhau để ủy thác việc giải quyết tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ cho
trọng tài; và trọng tài, trên cơ sở các tình tiết khách quan của tranh chấp, được
quyền đưa ra quyết định cuối cùng để giải quyết tranh chấp và quyết định này có

giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh. Thực tế này xuất phát từ những lợi
thế to lớn mà trọng tài mang lại cho các doanh nghiệp khi họ lựa chọn trọng tài
làm phương thức giải quyết tranh chấp. Ưu thế của trọng tài trong quan hệ so
sánh với các phương thức khác như tòa án, hòa giải, thương lượng chủ yếu xuất
phát từ các nguyên tắc hoạt động của nó. Trước hết, so với Tòa án thì trọng tài
có những ưu điểm sau:
Thứ nhất, giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài đảm bảo tối
đa quyền tự do thỏa thuận của các bên. Mọi tranh chấp được đưa ra giải quyết
bằng trọng tài đều dựa trên yếu tố thỏa thuận. Các bên có thể tự do thỏa thuận về
việc lựa chọn trung tâm trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài, trọng tài viên, luật áp
dụng, ngôn ngữ hay về thời gian cũng như địa điểm giải quyết tranh chấp và nhờ
vậy có thể chủ động và tiết kiệm thời gian trong việc kinh doanh. Đây là điều
mà các bên khó có thể thực hiện khi giải quyết tranh chấp bằng Tòa án, vì họ
phải tuân thủ những quy định tố tụng do luật định.
Thứ hai, phương thức trọng tài với nguyên tắc xét xử một lần và quyết
định của trọng tài có giá trị chung thẩm đã giảm nhẹ gánh nặng về mặt thủ tục
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
pháp lý cho các bên tranh chấp, giúp họ tiết kiệm thời gian và chi phí qua đó
nâng cao được hiệu quả kinh doanh. Mặc dù vậy, các phán quyết cuả trọng tài
vẫn đảm bảo được tính thi hành vì pháp luật cho phép các bên tự do thỏa thuận
về các yếu tố trong quá trình giải quyết bằng trọng tài, vì vậy họ buộc phải tuân
thủ các phán quyết mà trọng tài đưa ra; nếu không thực hiện thì Tòa án sẽ là cơ
quan cưỡng chế thi hành đối với các bên liên quan. Còn nếu giải quyết bằng con
đường Toà án, các bên tranh chấp có thể mất rất nhiều thời gian do phải qua
hàng loạt cấp xét xử như sơ thẩm, phúc thẩm, thậm chí giám đốc thẩm, tái thẩm.
Thứ ba, phương thức trọng tài đảm bảo được tính bí mật trong quá trình
giải quyết tranh chấp. Cơ chế này đảm bảo bí mật kinh doanh và uy tín nghề
nghiệp cho các thương nhân có liên quan tới vụ tranh chấp, nhất là trong các
tranh chấp liên quan đến sở hữu trí tuệ, bí mật kinh doanh. Ưu điểm này xuất
phát từ nguyên tắc xét xử của trọng tài là xét xử bí mật, tức là không ai có quyền

ấn định trước và thường cao hơn rất nhiều so với các phương thức giải quyết
tranh chấp khác. Đây là một trở ngại không nhỏ cho các bên tranh chấp muốn
tìm đến các Trung tâm Trọng tài.
Thứ ba, phạm vi các tranh chấp có thể giải quyết bằng trọng tài còn hạn
chế, chỉ giới hạn trong các tranh chấp thương mại.
Ngoài ra còn một số nhược điểm khác có thể đề cập đến như: thẩm quyền
hạn chế của Hội đồng trọng tài trong việc sử dụng các biện pháp cưỡng chế; sự
cứng nhắc của việc giải quyết khiếu kiện trong mối quan hệ với các khiếu kiện
khác hoặc với bên thứ ba...
6
1.2. Khái quát chung về thoả thuận trọng tài thương mại
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của thỏa thuận trọng tài
Thỏa thuận trọng tài thương mại là một thỏa thuận bằng văn bản theo đó
các bên kí kết nhất trí đưa tất cả hoặc một số tranh chấp đã hoặc sẽ có thể phát
sinh từ giao dịch thương mại có khả năng được áp dụng trọng tài ra giải quyết
bằng con đường trọng tài. Bản chất của trọng tài là phương thức giải quyết tranh
chấp dựa trên sự thỏa thuận của các bên tranh chấp. Điều này khác với việc các
bên tranh chấp yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Tòa án, cơ quan đương nhiên có
thẩm quyền xét xử bất kỳ tranh chấp trong nước nào (chỉ trừ khi các bên có thỏa
thuận khác). Trọng tài chỉ có thẩm quyền xét xử khi các bên tranh chấp có thỏa
6
http://www.viac.org.vn/vi-VN/Home/baivietlienquan/2009/02/267.aspx
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
thuận chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp, điều này đồng nghĩa với việc thỏa
thuận trọng tài là điều kiện tiên quyết để tiến hành tố tụng trọng tài.
Theo quy định của pháp luật hầu hết các quốc gia trên thế giới, thỏa thuận
trọng tài có những đặc điểm sau:
 Đặc điểm về hình thức của thỏa thuận trọng tài
Trong hầu hết các trường hợp thỏa thuận trọng tài phải được thể hiện dưới
hình thức văn bản. Điều này đảm bảo cho thỏa thuận trọng tài có giá trị như một

quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp,
pháp luật có quy định một số điều khoản mang tính cơ bản trong một thỏa thuận
trọng tài như: phương thức trọng tài, tổ chức trọng tài, ngôn ngữ trọng tài, luật
áp dụng, địa điểm trọng tài, chi phí trọng tài, cam kết thi hành quyết định trọng
tài. Ngoài ra, các bên có thể lựa chọn thỏa thuận thêm các điều khoản khác
nhằm tạo điều kiện cho việc giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất.
Một thỏa thuận trọng tài chỉ có giá trị pháp lý khi đáp ứng được những
yêu cầu của pháp luật về nội dung. Hầu hết pháp luật của các quốc gia trên thế
giới đều yêu cầu nội dung của thỏa thuận trọng tài phải rõ ràng, chính xác, có
thể dễ dàng xác định thẩm quyền của một Hội đồng trọng tài cụ thể và quy tắc tố
tụng nhất định.
 Đặc điểm về mối quan hệ giữa thỏa thuận trọng tài và hợp đồng
chính
Dù thỏa thuận trọng tài được thể hiện dưới hình thức một điều khoản nằm
trong hợp đồng chính hay dưới hình thức văn bản riêng đi kèm hợp đồng chính
thì thỏa thuận trọng tài thực chất chính là một hợp đồng nhỏ có nội dung khác
biệt và giá trị độc lập với hợp đồng chính. Như vậy, ngay cả khi hợp đồng bị
thay đổi, hủy bỏ, bị hết hiệu lực thì thỏa thuận trọng tài vẫn có giá trị.
Sở dĩ, ngay cả khi thỏa thuận trọng tài là một điều khoản nằm trong hợp
đồng chính thì nó vẫn mang tính độc lập với hợp đồng chính vì thỏa thuận trọng
tài có đối tượng pháp lý là xác định thủ tục tố tụng sẽ được áp dụng trong trường
hợp có tranh chấp phát sinh giữa các bên, hoàn toàn khác so với đối tượng của
hợp đồng chính là xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong một quan hệ
pháp luật nhất định. Do đó, việc pháp luật trọng tài xác định hiệu lực độc lập của
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
thỏa thuận trọng tài là hoàn toàn hợp lý, nó biểu hiện nguyên tắc tôn trọng ý chí
của các bên, mà ở đây là tôn trọng sự thỏa thuận về việc lựa chọn cơ quan giải
quyết tranh chấp của các bên. Tuy nhiên, đối với trường hợp hợp đồng chính bị
vô hiệu thì tính độc lập về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài chỉ là tương đối.
Việc xác định thỏa thuận trọng tài có vô hiệu hay không còn phụ thuộc vào

không phải mọi tranh chấp đều có thể giải quyết được bằng trọng tài, ngay cả
khi giữa các bên tranh chấp thỏa mãn điều kiện về sự tự nguyện thỏa thuận. Đó
là khi pháp luật nơi diễn ra trọng tài không cho phép giải quyết loại tranh chấp
đó thông qua hình thức trọng tài. Trong thương mại quốc tế, Việt Nam đã tuyên
bố bảo lưu đối với Công ước New York 1958 tại quyết định số 453 QĐ/CTN
của Chủ tịch nước ngày 17/7/1995, không cho phép thỏa thuận trọng tài đối với
tất cả các vấn đề liên quan đến trật tự công công cộng
7
. Nhìn chung ở một số
nước, các vấn đề không được áp dụng trọng tài là : các vấn đề về tình trạng cá
nhân ( như hộ tịch, năng lực chủ thể, ly hôn hay ly thân..); các hợp đồng ký kết
do lừa đảo hoặc vô đạo đức; tranh chấp về phát minh, nhãn hiệu hàng hóa và
bản quyền, luật cạnh tranh, tranh chấp về bảo hiểm, tham nhũng, phá sản, tranh
chấp về cấm vận, một số tranh chấp về quan hệ lao động v.v...
Thứ ba, về điều kiện về ý chí tự nguyện của chủ thể
Thỏa thuận trọng tài là một loại hợp đồng trong đó ý chí tự nguyện của
chủ thể đóng vai trò là một nguyên tắc quan trọng trong quá trình xác lập. Thỏa
thuận trọng tài sẽ không có giá trị pháp lý nếu nó không phải là kết quả của sự
thống nhất ý chí giữa các chủ thể hay là sự áp đặt ý chí của bất kì cơ quan, tổ
chức, cá nhân nào. Dựa trên cơ sở thống nhất ý chí, các bên thỏa thuận về các
yếu tố liên quan đến quá trình giải quyết tranh chấp: tổ chức trọng tài, hình thức
trọng tài, ngôn ngữ, địa điểm...và các nội dung khác phù hợp với lợi ích của các
bên.
Trong một số trường hợp, thỏa thuận trọng tài được các bên chứng minh
rằng họ bị ép buộc, lừa dối hay nhầm lẫn khi ký thỏa thuận trọng tài và yêu cầu
tòa án trọng tài hoặc tòa án quốc gia tuyên bố hủy thỏa thỏa thuận trọng tài.
Thứ tư, điều kiện về hình thức của thỏa thuận trọng tài
Trong các điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, điều kiện về
hình thức được coi là một điều kiện hết sức cơ bản. Hình thức của thỏa thuận
7

hàng đầu từ khi đưa tranh chấp thương mại ra trọng tài cho tới khi phán quyết
cuối cùng được đưa ra. Việc xác định thẩm quyền, phạm vi thẩm quyền của Hội
đồng trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp phụ thuộc vào các giới hạn đặt ra
trong thỏa thuận trọng tài trọng tài. Đặc biệt với những tranh chấp có yếu tố
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
nước ngoài thỏa thuận trọng tài còn cho phép lựa chọn nơi tiến hành tố tụng
trọng tài, luật áp dụng và ngôn ngữ trọng tài trong điều kiện phù hợp nhất. Thỏa
thuận trọng tài với nội dung chính là quyền lựa chọn của các bên về các yếu tố
của luật tố tụng trọng tài sao cho phù hợp nhất với mình nên sẽ giúp hình thành
những điều kiện tốt nhất để tiến hành trọng tài và thi hành quyết định trọng tài.
Từ phân tích trên đây, có thể khẳng định rằng, thỏa thuận trọng tài được
xem là vấn đề then chốt và có vai trò quyết định đối với việc áp dụng Trọng tài
như một phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh. Có thể nói, không
có thỏa thuận trọng tài thì không có việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.
Nhưng trên thực tế hiện nay thỏa thuận trọng tài vẫn chưa phát huy được hết vai
trò to lớn của mình, vẫn còn nhiều những vướng mắc liên quan tới thỏa thuận
trọng tài làm cản trở quá trình tố tụng trọng tài. Vậy, phải làm thế nào để thỏa
thuận trọng tài thực sự phát huy được hết vai trò của mình, thực sự trở thành
bước khởi đầu hoàn hảo cho tố tụng trọng tài. Câu hỏi trên chỉ có thể được trả
lời khi ta nghiên cứu thỏa thuận trọng tài từ hai góc độ là pháp luật thực định và
thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật đó tại Việt Nam.
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
CHƯƠNG II :
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN TRỌNG
TÀI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG THỎA THUẬN TRỌNG TÀI
TRÊN THỰC TẾ Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài
Mỗi quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của các yếu tố về kinh tế, chính
trị, phong tục tập quán cũng như trình độ lập pháp khác nhau mà hệ thống pháp
luật của mỗi nước đều mang những nét riêng biệt, ngay cả với những nhưng quy

lệnh Trọng tài Thương mại 2003.
7. Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 5/01/2004 của Chính Phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003.
2.1.2. Những quy định cụ thể liên quan đến thỏa thuận trọng tài thương mại
a. Quy định về khái niệm thỏa thuận trọng tài
Khái niệm thỏa thuận trọng tài được quy định tại Điều 2, Khoản 2
PLTTTM 2003 : “ Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên cam kết giải
quyết bằng trọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong
hoạt động thương mại”.
Trong lịch sử tồn tại và phát triển của pháp luật về trọng tài ở Việt Nam
đã có rất nhiều các văn bản pháp luật được ban hành, như Nghị định 116/CP của
Chính phủ về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế hay Quyết định
204/TTg về tổ chức của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam. Tuy nhiên, vấn
đề thỏa thuận trọng tài, một vấn đề cốt lõi đóng vai trò quan trọng trong hoạt
động của trọng tài, lại chưa được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật
này. Thỏa thuận trọng tài mới chỉ được tiếp cận ở khía cạnh quyền của các bên
tranh chấp hoặc dưới khía cạnh là cơ sở cho thẩm quyền của trọng tài ( Điều 3,
Nghị định 116/CP). Đây là một điểm thiếu sót trong hệ thống pháp luật về trọng
tài, việc hiểu rõ về thỏa thuận trọng tài là bước cần thiết đầu tiên để các bên
trong quan hệ thương mại có thể định hướng nhằm xây dựng được điều khoản
trọng tài hợp lý và có hiệu quả. Với khái niệm thỏa thuận trọng tài tại Điều 2,
Khoản 2 thì PLTTTM 2003 đã khắc phục được nhược điểm của pháp luật về
trọng tài thương mại trước đây của Việt Nam.
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
Tuy nhiên, quy định trên cũng đã bộc lộ những hạn chế, theo định nghĩa
tại Khoản 2, Điều 2 PLTTTM 2003, có thể hiểu rằng, những tranh chấp phát
sinh từ quan hệ thương mại được giải quyết bằng trọng tài có thể là quan hệ phát
sinh từ hợp đồng nhưng cũng có thể là quan hệ ngoài hợp đồng, ví dụ tranh chấp
phát sinh do việc đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như tàu đâm va cầu
cảng, tàu đâm va nhau v.v…

văn bản thỏa thuận riêng và được coi như gắn liền với hợp đồng chính hay còn
gọi là thỏa thuận đưa các tranh chấp hiện thời ra giải quyết theo phương thức
trọng tài.
Mặc dù quy định trên của PLTTTM 2003 đã xác định được tiêu chí hình
thức bắt buộc đó là thỏa thuận trọng tài phải được lập bằng văn bản nhưng nội
hàm của khái niệm “văn bản” vẫn còn hẹp so với thực tiễn đa dạng của các hình
thức ký kết hợp đồng hiện đại. Trên thực tế, bên cạnh những hình thức văn bản
đã được ghi nhận trong PLTTTM 2003 còn có các dạng khác cũng được coi là
thỏa thuận trọng tài được xác lập dưới dạng văn bản như : thỏa thuận được xác
lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên như trao đổi về đơn
kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do một bên
đưa ra và bên kia không phản đối; hay trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến
một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như các hợp đồng mẫu, các chứng
từ, điều lệ công ty và những tài liệu khác tương tự. Ví dụ tranh chấp về góp vốn,
mua cổ phần gữa công ty và người đăng kí kinh doanh, trong Điều lệ công ty có
điều khoản quy định giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là một trong số các
phương thức giải quyết tranh chấp, khi đó điều khoản này có thể được coi là một
thỏa thuận trọng tài.
c. Quy định về quan hệ giữa hiệu lực của điều khoản trọng tài với
hiệu lực của hợp đồng liên quan
Sự độc lập trong quan hệ giữa điều khoản trọng tài và hợp đồng được quy
định tại Điều 11 PLTTTM 2003: “ Điều khoản trọng tài tồn tại độc lập với hợp
đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, sự vô hiệu của hợp đồng không
ảnh hưởng đến hiệu lực của điều khoản trọng tài”
Đây là một quy định đặc thù về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, dù
thỏa thuận trọng tài được thể hiện dưới hình thức một điều khoản nằm trong hợp
đồng chính hay dưới hình thức văn bản riêng đi kèm hợp đồng chính thì thỏa
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
thuận trọng tài thực chất chính là một hợp đồng nhỏ có nội dung khác biệt và giá
trị độc lập với hợp đồng chính. Điều đó có nghĩa, ngay cả khi hợp đồng chính có

Dự thảo luật trọng tài thương mại
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
Ba là, trường hợp thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận cách thức giải quyết
tranh chấp đối với một hợp đồng cụ thể, hợp đồng đó về bản chất là vô hiệu,
nhưng thỏa thuận trọng tài lại không vô hiệu, vấn đề đặt ra là các bên tranh chấp
có hay không quyền được yêu cầu trọng tài giải quyết các vấn đề liên quan đến
hợp đồng vô hiệu. Nếu trọng tài không có thẩm quyền xem xét vấn đề này khi
các bên yêu cầu thì việc khẳng định sự tồn tại độc lập của thỏa thuận trọng tài
với hiệu lực của hợp đồng đi kèm với nó không có nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên,
nếu các bên không được quyền yêu cầu trọng tài giải quyết mà vẫn giữ nguyên
tính hiệu lực của thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài có thể sẽ là nguyên
nhân cản trở các bên yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc. Như vậy, pháp luật
trọng tài cần có một giải pháp cụ thể để giải quyết vấn đề đặt ra trong trường
hợp trên.
d. Quy định về thỏa thuận trọng tài vô hiệu
Vấn đề thỏa thuận trọng tài đóng một vai trò quan trọng mang tính quyết
định đối với sự tồn tại của phương thức trọng tài. Các mâu thuẫn phát sinh trong
hoạt động thương mại không thể được giải quyết bằng trọng tài nếu như thỏa
thuận trọng tài vô hiệu. Dấu hiệu và cách thức giải quyết thỏa thuận trọng tài vô
hiệu được quy định trong pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới, ở Việt
Nam, tại Điều 10 PLTTTM 2003 có quy định cụ thể các trường hợp vô hiệu của
thỏa thuận trọng tài như sau:
 Tranh chấp phát sinh không thuộc hoạt động thương mại
Pháp luật luôn tôn trọng sự tự do thỏa hiệp giữa các bên về việc đưa tranh
chấp trong quan hệ thương mại ra giải quyết bằng trọng tài. Tuy nhiên, dù giữa
các bên có tồn tại thỏa thuận trọng tài xuất phát từ sự tự do thỏa thuận nhưng
tranh chấp giữa họ không thuộc phạm vi hoạt động thương mại thì thỏa thuận
trọng tài cũng vô hiệu và dẫn đến hậu quả là trọng tài không có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp. Vấn đề thỏa thuận trọng tài vô hiệu do “ tranh chấp phát sinh
không thuộc hoạt động thương mại” được quy định tại Khoản 1, Điều 10

thỏa thuận trọng tài đó vô hiệu. Tuy nhiên, khi phát sinh tranh chấp mà một bên
có yêu cầu tòa án giải quyết thì tòa án yêu cầu người có thẩm quyền ký kết thoả
thuận trọng tài cho biết ý kiến bằng văn bản có chấp nhận thỏa thuận trọng tài
do người không có thẩm quyền ký kết trước đó hay không. Nếu họ chấp nhận thì
trong trường hợp này thỏa thuận trọng tài không vô hiệu và vụ tranh chấp thuộc
NguyÔn ThÞ Thu Th¶o KT31H
thẩm quyền của Hội đồng trọng tài theo thủ tục chung. Quy định này của pháp
luật thể hiện sự linh hoạt mềm đối với hoạt động tố tụng trọng tài. Việc chủ thể
hợp pháp cho biết ý kiến bằng văn bản chấp nhận thỏa thuận trọng tài như một
sự ủy quyền hợp pháp cho chủ thể không có thẩm quyền ký kết, qua đó đảm bảo
ý muốn giải quyết tranh chấp của chủ thể hợp pháp.
 Một bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ.
Thỏa thuận trọng tài là sự tự do thỏa thuận của các bên về việc đưa tranh
chấp ra giải quyết bằng trọng tài, nó là sự thể hiện ý chí của các bên trên cơ sở
tự nguyện. Chính vì vậy, chỉ có những chủ thể có đủ năng lực năng lực hành vi
dân sự mới thể hiện ý chí của mình cụ thể và chính xác nhất. Năng lực hành vi
dân sự là một yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hiệu lực của
thỏa thuận trọng tài. Việc các chủ thể ký kết không có năng lực hành vi dân sự
đầy đủ sẽ dẫn đến sự vô hiệu của thỏa thuận trọng tài theo quy định tại Khoản 3,
Điều 10 PLTTTM 2003.
Đối với chủ thể ký kết thỏa thuận trọng tài là các cá nhân, theo quy định
của Bộ luật Dân sự 2005 người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là
người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự. Do đó, để chứng minh người ký thỏa thuận trọng
tài không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì phải có giấy tờ tài liệu chứng
minh ngày tháng năm sinh hoặc kết luận của cơ quan có thẩm quyền hoặc quyết
định của Tòa án tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế
năng lực hành vi dân sự.
Đối với chủ thể ký kết thỏa thuận trọng tài là pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia

bởi pháp luật hay bất kỳ cá nhân, tổ chức, cơ quan nào. Chính vì thế sự lừa dối,
đe dọa giữa các bên tham gia ký kết thỏa thuận trọng tài là những hành động đi
ngược lại với nguyên tắc tự do thỏa thuận và hệ quả tất yếu sẽ dẫn tới thỏa thuận
trọng tài vô hiệu.
PLTTTM 2003 có quy định vấn đề vô hiệu do bên ký kết bị lừa gạt, đe
dọa tại Khoản 6, Điều 10 và kèm theo một số quy định về thời hạn yêu cầu thỏa
thuận trọng tài vô hiệu như sau: “ Thời hiệu yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng

Trích đoạn Về quan hệ giữa hiệu lực của điều khoản trọng tài với hiệu lực của hợp đồng liên quan Về luật điều chỉnh đối với thỏa thuận trọng tà Sử dụng ngôn ngữ trọng tà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status