Phân tích những quy định về sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài theo Luật Trọng tài thương mại 2010 - Pdf 27

Nguyễn Thế Quyền – N02.TL4 Bài tập học kỳ thương mại 2
MỤC LỤC

Trang
LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………….. 1
NỘI DUNG
I – Một số vấn đề lý luận cơ bản có liên quan……………………………... 1
1 – Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương
mại………………………………....................................................... 1
2 – Sự cần thiết phải có sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động Trọng tài
thương mại…………………………………………………………………... 2
II – Sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài theo Luật Trọng tài
thương mại 2010:………………................................................... 3
1. Thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động Trọng tài thương
mại.................................................................................................................... 3
2. Phân tích những quy định về sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của
Trọng tài theo Luật Trọng tài thương mại 2010................................... 4
2.1. Tòa án hỗ trợ thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc………………....... 4
2.2. Tòa án có thể quyết định thay đổi Trọng tài viên……………………...
5
2.3. Tòa án xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của
Hội đồng trọng tài……………………………………………………....
6
2.4. Tòa án hỗ trợ trong việc thu thập chứng cứ có liên quan đến vụ tranh
chấp………………………………………………………………………….
8
2.5. Tòa án quyết định triệu tập người làm chứng…………………………
8
2.6. Tòa án quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp, tạm thời………..
9
1

I – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CÓ LIÊN QUAN
1 – Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương
mại:
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, trọng tài
thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được
tiến hành theo quy định của Luật này. Tại khoản 2 Điều 3 Luật này có quy định
về thỏa thuận trọng tài như sau: “Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các
bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát
sinh”. Hoạt động giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại chỉ phát sinh
khi các bên có thỏa thuận trọng tài. Các bên có thể thỏa thuận giải quyết tranh
3
Nguyễn Thế Quyền – N02.TL4 Bài tập học kỳ thương mại 2
chấp bằng Trọng tài trước hoặc sau khi tranh chấp xảy ra. Nếu các bên không có
thỏa thuận về việc giải quyết vụ tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương
mại thì Trọng tài thương mại không có thẩm quyền giải quyết vụ việc đó. Giải
quyết tranh chấp bằng Trọng tài đề cao sự thỏa thuận của các bên trong vụ tranh
chấp. Các bên có quyền tự thỏa thuận với nhau về chọn hình thức trọng tài, chọn
trọng tài viên, chọn quy tắc tố tụng, địa điểm, thời gian giải quyết tranh chấp...
2 – Sự cần thiết phải có sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động Trọng tài
thương mại:
So với việc giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án, việc giải quyết
tranh chấp thương mại theo thủ tục trọng tài có nhiều ưu điểm như: giải quyết
nhanh chóng, dứt diểm các tranh chấp thương mại; đảm bảo được sự thỏa thuận
và định đoạt của các đương sự; quyết định của trọng tài là chung thẩm, không bị
kháng nghị, kháng cáo; đảm bảo bí mật và giữ uy tín cho các nhà kinh doanh...
Là tổ chức phi chính phủ, Trọng tài Thương mại ở tất cả các nước đều không
mang trong mình quyền lực nhà nước khi giải quyết tranh chấp. Điều này tạo nên
cho Trọng tài những thuận lợi về việc chủ động trong quá trình tố tụng giải quyết
tranh chấp, tôn trọng và bảo đảm cho các bên quyền tự do định đoạt tối đa về
mọi lĩnh vực liên quan đến giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên cũng đặt ra cho

đơn;
- Đối với việc thay đổi Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc thì
Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp;
- Đối với yêu cầu giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài
về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được,
thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội
đồng trọng tài ra quyết định;
- Đối với yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ thì Tòa án có thẩm quyền là
Tòa án nơi có chứng cứ cần được thu thập;
- Đối với yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án
có thẩm quyền là Tòa án nơi biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng;
- Đối với việc triệu tập người làm chứng thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa
án nơi cư trú của người làm chứng;
- Đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài
vụ việc thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã tuyên phán
quyết trọng tài.
Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài trong những trường hợp
trên là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Đây là một điểm mới của Luật TTTM 2010 so với Pháp lệnh trọng tài
thương mại năm 2003 thể hiện rõ nét mối quan hệ giữa Trọng tài với Toà án
5
Nguyễn Thế Quyền – N02.TL4 Bài tập học kỳ thương mại 2
trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ tranh chấp của các bên. Pháp lệnh TTTM
2003 không đưa ra quy định riêng về thẩm quyền của Tòa án mà quy định trong
những trường hợp cụ thể tại mỗi điều luật. Luật TTTM 2010 đã xác định rõ Tòa
án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài và liệt kê 8 nội dung thẩm quyền
của Toà án trong quan hệ với Trọng tài, điều này thể hiện mối quan hệ pháp lý
quan trọng giữa trọng tài thương mại và tòa án. Quy định này đã khắc phục được
những bất cập của Pháp lệnh TTTM, tạo điều kiện để các Tòa án và Hội đồng
trọng tài cũng như các bên tranh chấp tránh được lúng túng trong các trường hợp

trạng bị đơn cố tình dây dưa, gây khó khăn cho việc giải quyết.
Đối với trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn thì nếu sau 30 ngày,
phía bị đơn không chọn được Trọng tài viên, thì một hoặc các bên có quyền yêu
cầu Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên cho các bị đơn. Đây là quy
định mới của Luật TTTM 2010. Trong khi Pháp lệnh TTTM 2003 chỉ quy định
nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án chỉ định Trọng tài viên thì Luật TTTM
2010 lại cho phép cả bên nguyên đơn và bị đơn đều có quyền yêu cầu Tòa án
giải quyết. Bởi vì trong trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn, theo quy định
của Luật TTTM 2010, “các bị đơn phải thống nhất chọn Trọng tài viên”, điều
này không phải lúc nào cũng thực hiện được do các bị đơn có thể có những quan
điểm và ý kiến khác nhau về việc chọn Trọng tài viên. Nếu các bị đơn không
thống nhất được việc chọn Trọng tài viên, họ có thể yêu cầu Tòa án hỗ trợ trong
việc chỉ định Trọng tài viên cho vụ tranh chấp.
Tại khoản 3 và khoản 4 Điều 41 về thành lập Trọng tài vụ việc cũng có
quy định về việc Tòa án có thẩm quyền có thể hỗ trợ các bên trong việc chỉ định
Chủ tịch Hội đồng trọng tài (khoản 3 Điều 41) hoặc chỉ định Trọng tài viên duy
nhất trong trường hợp các bên thoả thuận vụ tranh chấp do một trọng tài viên
duy nhất giải quyết (khoản 4 Điều này).
Những quy định của Luật TTTM 2010 về sự hỗ trợ của Tòa án đối với
việc thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc nhằm tránh bế tắc trong tố tụng trọng
tài, đồng thời đảm bảo vụ tranh chấp sẽ được trọng tài giải quyết. Bởi vì nếu Hội
đồng trọng tài không thể thành lập được thì quá trình tố tụng trọng tài sẽ dừng lại
và vụ tranh chấp sẽ không thể tiếp tục được giải quyết bằng con đường trọng tài
thương mại. Do đó, sự hỗ trợ của Tòa án là hết sức cần thiết.
2.2. Tòa án có thể quyết định thay đổi Trọng tài viên:
Tương tự như đối với việc thành lập Hội đồng trọng tài, Tòa án chỉ có
thẩm quyền thay đổi Trọng tài viên trong trường hợp vụ tranh chấp do Hội đồng
trọng tài vụ việc giải quyết. Tại khoản 4 Điều 42 Luật TTTM có quy định: “Đối
với vụ tranh chấp do Hội đồng trọng tài vụ việc giải quyết, việc thay đổi Trọng
tài viên sẽ do các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài quyết định. Trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status