Phân tích 04 (bốn) quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thể hiện sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại và bình luận thực tiễn áp dụng các quy định đó - Pdf 47

MỞ ĐẦU
Hiện nay, để nâng cao hiệu quả hoạt động của trọng tài thương mại,
Luật trọng tài thương mại đã có nhiều quy định về sự hỗ trợ của tòa án đối
với hoạt động của trọng tài thương mại. Trọng tài thương mại hoạt động có
hiệu quả tốt sẽ làm giảm bớt gánh nặng cho tòa án trong việc giải quyết các
tranh chấp kinh doanh, đáp ứng yêu cầu của các nhà kinh doanh trong việc
giải quyết nhanh chóng, dứt điểm các tranh chấp thương mại. Để tìm hiểu
sau hơn về vấn đề, em xin chọn đề bài: “Phân tích 04 (bốn) quy định của
pháp luật Việt Nam hiện hành thể hiện sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt
động của trọng tài thương mại và bình luận thực tiễn áp dụng các quy định
đó.” làm bài tập học kỳ của mình.
NỘI DUNG
I. Khái quát về trọng tài thương mại
1. Khái niệm
Theo khoản 1 Điều 3 Bộ luật tọng tài thương mại 2010 thì: “ trọng tài
thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và
được tiến hành theo quy định của Luật này.”
2. Đặc điểm của trọng tài thương mại
Thứ nhất, trọng tài thương mại là một tổ chức phi Chính phủ, hoạt
động theo pháp luật và quy chế về trọng tài thương mại. Nhà nước không
can thiệp sâu vào các hoạt động của cơ quan trọng tài, nhưng sẽ thực hiện
vai trò quản lý của mình thông qua hệ thống các quy định pháp luật, cũng
như những tác động khác như tham gia điều ước quốc tế, đào tạo, hỗ trợ
kinh phí và cơ sở vật chất...
Thứ hai, trọng tài là sự kết hợp của hai yếu tố thỏa thuận và tài phán.
Trước tiên, trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các
bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của pháp luật về trọng tài.
1


Một trong những nguyên tắc cơ bản của trọng tài đó là thẩm quyền được

với sự phát triển sôi động của các quan hệ kinh tế, các tranh chấp phát sinh
trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại được đưa đến Tòa kinh tế ngày càng
nhiều, đã tạo ra tình trạng "quá tải", án tồn đọng tại các Tòa kinh tế, đặc biệt
là ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xuất phát từ yêu cầu quản lý Nhà nước đối với hoạt động trọng tài:
Nhà nước nói chung và các cơ quan Nhà nước nói riêng có thẩm quyền quản
lý hoạt động của cá nhân, tổ chức trong xã hội, trong đó có trọng tài. Nhà
nước thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật quy định về trọng tài đã
thể hiện sự quản lý của mình đối với hoạt động của trọng tài, đồng thời tạo
ra hành lang pháp lý cho hoạt động của trọng tài.
II. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thể hiện sự hỗ trợ của
Tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của trọng tài thương mại, Luật trọng
tài thương mại 2010 đã có nhiều quy định về sự hỗ trợ của tòa án đối với
hoạt động của trọng tài thương mại. Trọng tài thương mại hoạt động có hiệu
quả tốt sẽ giảm bớt gánh nặng cho tòa án trong việc giải quyết các tranh
chấp trong kinh doanh, đáp ứng các yêu cầu của nhà kinh doanh trong việc
giải quyết nhanh chóng, dứt điểm các tranh chấp thương mại.
Sự hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại được
thể hiện ở các vẫn đề sau đây:
1. Tòa án có thể quyết định thay đổi trọng tài viên
Theo yêu cầu của nguyên đơn, tòa án cấp tỉnh nơi bị đơn có trụ sở hoặc
cư trú có thể quyết định thay đổi trọng tài viên, trong trường hợp hội đồng
trọng tài được các bên thành lập cần phải thay đổi một trọng tài viên mà các
trọng tài viên khác trong hội đồng trọng tài không quyết định được hoặc cần

3


phải thay đổi hai trọng tài viên trong hội đồng hoặc thay đổi trọng tài viên

Trường hợp yêu cầu thay đổi Trọng tài viên là có căn cứ, thì tùy từng
trường hợp cụ thể mà Thẩm phán căn cứ quy định tương ứng để quyết định
việc thay đổi Trọng tài viên. Trường hợp không chấp nhận yêu cầu thay đổi
Trọng tài viên, thì Thẩm phán phải ra quyết định bằng văn bản, trong đó nêu
rõ lý do của việc không chấp nhận yêu cầu thay đổi. Quyết định thay
đổi Trọng tài viên được thực hiện theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Nghị
quyết này.
5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định, Tòa án
gửi quyết định cho các bên, Hội đồng trọng tài, Trọng tài viên, Viện kiểm sát
nhân dân cùng cấp.
2. Tòa án có thể xem xét lại quyết định về thẩm quyền của hội đồng
trọng tài.
Thẩm quyền giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể của hội đồng trọng tài
do thỏa thuận trọng tài là do thỏa thuận trọng tài của các bên xác định.
Trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, nếu có đơn khiếu lại của một bên
về việc hội đồng trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp, vụ
tranh chấp không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu,
hội đồng trọng tài phải xem xét quyết định xem vụ tranh chấp có thuộc thẩm
quyền của mình hay không. Nếu các bên không đồng ý với quyết định của
trọng tài thì quyền yêu cầu tòa án cấp tỉnh, nơi hội đồng trọng tài đã ra quyết
định, xem xét lại quyết định của hội đồng trọng tài. Trong trường hợp, tòa án
quyết định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của hội đồng trọng tài, vụ
tranh chấp không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu

5


thì hội đồng trọng tài phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp.
Các bên có quyền khởi kiện vụ tranh chấp ra tòa án.
Khoản 1 Điều 44 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định,Trong

số hành vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá
trình tố tụng trọng tài;
c) Kê biên tài sản đang tranh chấp;
d) Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của
một hoặc các bên tranh chấp;
đ) Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên;
e) Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.
Các trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác do Tòa án
thực hiện được quy định tại Khoản 1 Điều 53: “Sau khi nộp đơn khởi kiện,
nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực
tiếp bị xâm hại, một bên có quyền làm đơn gửi đến Toà án có thẩm quyền
yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời”.
Các biện pháp khẩn cấp tạm thời mà Tòa án có thẩm quyền thực hiện
được quy định tại Điều 114 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Vì vậy, khi yêu cầu
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, các bên cần lưu ý để gửi đơn yêu cầu
tới đúng cơ quan có thẩm quyền.
Bên có đơn yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời phải có
bằng chứng chứng minh việc áp dụng các biện pháp đó là cần thiết và phải
chịu trách nhieemh về yêu cầu của mình. Trong trường hợp yêu cầu áp dụng
các biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng và gây thiệt hại thì phải bồi
thường.
Ngoài ra, bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm cấp tạm thời
phải nộp một khoản tiền bảo đảm do tòa án ấn định nhưng không quá nghĩa
7


vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để bảo vệ lợi ích của bị đơn
và ngăn ngừa sự lạm dụng biện pháp khẩn cấp tamh thời từ phía có người
yêu cầu.
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Tòa án áp dụng, thay đổi, hủy bỏ

lý cao hơn, hiệu quả thi hành tốt hơn việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời của hội đồng trọng tài.
4. Tòa án có thể quyết định hủy hay không hủy quyết định trọng tài
Tố tụng trọng tài không có nhiều giai đoạn xét xử, không có thủ tục
phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Không ai có thể đảm bảo rằng quyết
định giải quyết tranh chấp của trọng tài luôn luôn đúng về mọi phương diện.
Để có thể hạn chế tối đa những sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp
tại trọng tài, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Luật trọng tài
thương mại quy định trọng tài có quyền làm đơn gửi tòa án cấp tỉnh nơi hội
đồng trọng tài đã ra quyết định trọng tài yêu cầu hủy quyết định trọng tài.
Trên cơ sở yêu cầu đó, tòa án có quyền ra quyết định hủy hay không hủy
quyết định trọng tài.
Căn cứ tuyên hủy phán quyết trọng tài: Tòa án xem xét việc hủy phán
quyết trọng tài khi có đơn yêu cầu của một bên.
Theo Điều 69 Luật trọng tài thương mại 2010, Trong thời hạn 30 ngày,
kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu một bên có đủ căn cứ để
chứng minh được rằng Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong
những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 của Luật này, thì có quyền
làm đơn gửi Toà án có thẩm quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài. Đơn
yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng
minh cho yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là có căn cứ và hợp pháp. Trường

9


hợp gửi đơn quá hạn vì sự kiện bất khả kháng thì thời gian có sự kiện bất
khả kháng không được tính vào thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.
Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải kèm theo các tài liệu, chứng
cứ chứng minh cho yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là có căn cứ vào hợp
pháp.

thẩm quyền trong việc thay đổi Trọng tài viên, dẫn đến việc không có Trọng
tài viên thay thế.
Nên quy định thời hạn các chủ thể có quyền yêu cầu gửi đơn yêu cầu
đến Tòa án có thẩm quyền, kể từ ngày Trọng tài viên thông báo bằng văn
bản cho Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài và các bên về những
tình tiết có thể ảnh hưởng đến tính khách quan, vô tư của mình. Các bên chỉ
có quyền gửi yêu cầu thay đổi trọng tài viên trong thời hạn cho phép. Hết
thời hạn theo quy định mà các bên không đưa ra yêu cầu thay đổi trọng tài
viên thì họ sẽ mất quyền yêu cầu. Điều này vừa khiến quá trình tố tụng được
đảm bảo lại vừa nâng cao tinh thần trách nhiệm của các bên. Họ phải theo
dõi sát sao quá trình thành lập Hội đồng trọng tài cũng như trong suốt quá
trình xét xử để đảm bảo cho quyền lợi của mình. Bởi trong thực tế nhiều khi
một bên tranh chấp có ý định trốn tránh trách nhiệm nên không muốn tham
gia tố tụng trọng tài. Đặc biệt là trong hình thức trọng tài vụ việc, các bên sẽ
tự do tiến hành thành lập Hội đồng trọng tài theo ý chí của mình nên họ có
thể gặp khó khăn lớn nếu một bên (thường là bị đơn) không muốn tham gia
vào trọng tài khi tranh chấp phát sinh. Do đó họ không đáp lại yêu cầu thành
lập Hội đồng trọng tài của bên kia, sau đó họ lại tìm cách trì hoãn tố tụng
bẳng cách yêu cầu thay đổi trọng tài viên. Quy định cụ thể về thời hạn các
chủ thể có quyền yêu cầu gửi đơn yêu cầu đến Tòa án có thẩm quyền sẽ hạn
chế được tình trạng này.
11


2. Về việc Tòa án có thể xem xét lại quyết định về thẩm quyền của hội
đồng trọng tài.
Về điểm này, Pháp luật trọng tài thương mại đã quy định khá chặt chẽ.
Khi không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài quy định tài Điều
43 Luật trọng tài thương mại thì các bên có quyền gửi yêu cầu Tòa án xem
xét lại quyết định của Hội đồng trọng tài trong thời hạn 05 ngày, và phải

các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Hoặc ngược lại, cũng lại có trường hợp các
bên Toà án và Hội đồng "tranh nhau" ra quyết định thực hiện với yêu cầu
của 2 bên đương sự.
Tuy rằng Hội đồng trọng tài cũng được giao quyền áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời nhưng trên thực tế việc thực hiện hơi khó. Trên thực tiễn
đời sống quy định này phụ thuộc vào thiện chí các bên khi mà Hội đồng
trọng tài không có quyền lực cưỡng chế thi hành, mà các bên tranh chấp
không phải lúc nào cũng nghe theo yêu cầu của trọng tài. Việc áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời mang nặng tính cưỡng chế nên cần có các cơ quan
chức năng ra tay chứ trọng tài không thể làm được. Một số ý kiến cho rằng
theo thông lệ quốc tế thì trọng tài không có thẩm quyền áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời. Thông thường thì trọng tài chỉ ra văn bản yêu cầu áp
dụng và gửi sang tòa án để tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời mà thôi. Do đó còn một số ý kiến phản đối việc cho Hội đồng trọng
tài thẩm quyền này.
4. Về quyết định hủy hay không huy phán quyết của trọng tài
Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, tính đến hết tháng 6.2014, số lượng
phán quyết trọng tài bị hủy trong cả nước là 7/33 đơn yêu cầu hủy phán
quyết trọng tài, chiếm tỷ lệ khoảng 22% số đơn yêu cầu. Mặc dù có ý kiến
cho rằng, số lượng phán quyết trọng tài bị hủy chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, song
13


nếu xét trong mặt bằng chung của thế giới, Việt Nam được xem là quốc gia
“vô địch” về hủy phán quyết trọng tài. Riêng đối với Trung tâm Trọng tài
Quốc tế Việt Nam VIAC, số lượng phán quyết trọng tài bị hủy có chiều
hướng gia tăng. Cụ thể trong giai đoạn từ 2003 - 2014 với tỷ lệ số vụ tranh
chấp có đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài chiếm 12% thì tới 43% trong
số đó bị hủy. Riêng tỷ lệ hủy phán quyết trọng tài giai đoạn 2011 - 2014 đã
lên tới 50%. Đây là tỷ lệ hủy rất cao, điều này làm giảm niềm tin và hiệu quả

nhau của nhiều thẩm phán, có thẩm phán nhận định là nếu xem xét chứng cứ
giả mạo thì có thể xem xét về nội dung, trong khi luật không có yêu cầu xét
xử lại nội dung vụ tranh chấp. Hơn nữa, Luật mẫu về trọng tài thương mại
quốc tế của Ủy ba liên hợp quốc UNCITRAL và pháp luật về trọng tài của
các nước cũng không đưa ra căn cứ hủy phán quyết trọng tài trong trường
hợp chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để
ra phán quyết là giả mạo. Trên thực tế đang có sự lạm dụng căn cứ này để
yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.

KẾT LUẬN
Thiết nghĩ việc áp dụng các quy định về sự hộ trợ của Tòa án đối với
hoạt động của trọng tài thương mại là hoàn toàn cần thiết.Tuy nhiên, việc áp
dụng các quy định này còn nhiều bất cập. Bên cạnh những điều đã đạt được
là những nhược điểm do sự thiếu rành mạch của pháp luật, chưa hiểu biết về
pháp luật cũng như cách áp dụng pháp luật của từng Tòa án. Cần phải tuân
thủ các nguyên tắc cơ bản để đảm bảo cho các quy định về sự hỗ trợ của Tòa
án đối với trọng tài thương mại.Bên cạnh đó, cũng cần đẩy mạnh công tác
tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trọng tài nói chung và Luật trọng tài
thương mại 2010 nói riêng trong cộng đồng các doanh nghiệp và các đối
tượng có liên quan để hoạt động hỗ trợ của Tòa án với trọng tài thương mại
được hiệu quả hơn.
15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status