Bình luận quy định của pháp luật việt nam hiện hành về thỏa thuận trọng tài - Pdf 33

Bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thỏa thuận trọng tài
Hiện nay, trọng tài quốc tế đã trở thành một phương thức phổ biến trong việc giải quyết các tranh
chấp kinh doanh thương mại, đặc biệt là các tranh chấp thương mại quốc tế. Đây là một phương
thức giải quyết tranh chấp tư, được lựa chọn bởi các bên tranh chấp như là một phương thức hiệu
quả làm chấm dứt tranh chấp giữa họ mà không cầu viện đến tòa án. Thỏa thuận trọng tài là “nền
móng” của tố tụng trọng tài. Đây là yếu tố không thể thiếu giữa các bên nếu muốn giải quyết tranh
chấp bằng Trọng tài thương mại. Nói cách khác, sẽ không có tố tụng trọng tài nếu không có Thỏa
thuận trọng tài[[1]]. Luật Trọng tài Thương mại 2010 trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh và bổ sung những
quy định mới, hoàn chỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hội nhập kinh tế quốc tế, bảo
đảm quyền tự định đoạt của các doanh nhân trong việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh
chấp[[2]], đặc biệt cũng có những sửa đổi bổ sung liên quan tới thỏa thuận trọng tài. Bài học kì dưới
đây sẽ: “Bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thỏa thuận trọng tài”.

1.
1.1.

Một số vấn đề cơ bản
Khái niệm Thỏa thuận trọng tài

“Thoả thuận trọng tài” (TTTT) là thoả thuận mà các bên đưa ra trọng tài mọi hoặc các tranh chấp
nhất định phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên về quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ
hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng[[3]]. Điều 3.2. Luật Trọng tài Thương mại Việt Nam
năm 2010 (LTTTMVN) cũng quy đinh: “TTTT là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng
tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”.

1.2.

Các văn bản pháp luật điều chỉnh về vấn đề Thỏa thuận trọng tài

Chế định trọng tài ở nước ta đã được thành lập từ năm 1963 ở miền Bắc; sau đó phát triển thành hệ
thống trọng tài kinh tế Nhà nước để giải quyết tranh chấp giữa các xí nghiệp quốc doanh, hợp tác xã.

Có thể thấy rằng, luật trọng tài các nước thường quy định một thỏa thuận trọng tài phải được làm
thành văn bản[[5]] Văn bản này có thể là một quy định sẵn trong hợp đồng, hoặc một thỏa thuận
riêng biệt ngoài hợp đồng chính. Văn bản có thể được thể hiện dưới hình thức tài liệu, telex, thư
điện tử ,… Ngoài ra, một số nước còn có quy định cụ thể hơn về hình thức thỏa thuận trọng tài ký kết
với người tiêu dùng. Chẳng hạn, luật của Anh quy định thỏa thuận trọng tài ký kết với người tiêu
dùng phải phù hợp với quy định về pháp luật bảo về người tiêu dùng[[6]]. Luật của Đức quy định
thỏa thuận trọng tài với người tiêu dùng phải được làm thành văn bản riêng[[7]] .
Theo quy định của LTTTMVN tại Điều 16 quy định về hình thức của TTTT thì TTTT có thể được xác lập
dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng. TTTT phải
được xác lập dưới dạng văn bản. Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới
dạng văn bản như Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư
điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật; Thỏa thuận được xác lập thông qua trao
đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên; Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có
thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên; Trong giao dịch các bên có dẫn
chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và
những tài liệu tương tự khác; Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn
tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.
Như vậy, pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận hình thức của TTTT được lập thành văn bản và không phụ
thuộc vào yếu tố nó là một điều khoản hay là một văn bản riêng biệt. Việc quy định như vậy nhằm
hạn chế những tranh chấp xảy ra sau này về TTTT cũng như để làm căn cứ khởi kiện ra trọng tài
thương mại hay tòa án có thẩm quyền.

2.2.

Nội dung của thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài không rõ ràng

Về nội dung, hầu hết luật các nước đều chỉ đơn thuần quy định điều khoản trọng tài phải thể hiện
thỏa thuận đưa tranh chấp ra trọng tài[[8]]. Ngoài ra, luật pháp các nước không quy định chi tiết nội



lựa chọn hình thức, tổ chức trọng tài để giải quyết tranh chấp được thực hiện theo yêu cầu của
nguyên đơn (khoản 5 Điều 43 LTTTMVN).

Thứ ba, TTTT phải chỉ ra thủ tục tố tụng trọng tài được áp dụng
Trên nguyên tắc tôn trọng tự do ý chí của các bên- Party Autonomy, luật trọng tài của các nước đều
quy định các bên được tự do thỏa thuận cách thức tiến hành tố tụng trọng tài, bao gồm cả các vấn
đề liên quan đến thời gian, chứng cứ, thủ tục,… Nếu các bên không có thỏa thuận, hội đồng trọng tài
sẽ có thẩm quyền quyết định thủ tục tố tụng, phù hợp với quy định của pháp luật trọng tài có liên


quan[[10]]. LTTTMVN cũng không hề quy định rõ ràng về việc lựa chọn thủ tục tố tụng, bắt buộc các
bên phải lựa chọn. Đối với trọng tài thường trực, giải quyết tại trung tâm trọng tài, thông thường các
bên nên lựa chọn thủ tục tố tụng của trung tâm đó. Còn đối với trọng tài vụ việc, các bên phải thỏa
thuận về thủ tục tố tụng.

Thứ tư, TTTT phải chỉ rõ địa điểm trọng tài
Địa điểm trọng tài là một khái niệm pháp lý, không nhất thiết gắn với địa điểm giải quyết tranh chấp.
Các bên hoàn toàn tự do thỏa thuận địa điểm trọng tài. Nếu các bên không có thỏa thuận, hội đồng
trọng tài sẽ xác định địa điểm trọng tài. Trừ khi các bên có thỏa thuận khác, hội đồng trọng tài có thể
quyết định tổ chức xét xử ở những địa điểm khác tạo thuận lợi cho hội đồng, các bên[[11]].
Điều 11 của LTTTMVN quy định về địa điểm giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài như sau:
“1. Các bên có quyền thoả thuận địa điểm giải quyết tranh chấp; trường hợp không có thoả thuận thì
Hội đồng trọng tài quyết định. Địa điểm giải quyết tranh chấp có thể ở trong lãnh thổ Việt Nam hoặc
ngoài lãnh thổ Việt Nam.
2. Trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, Hội đồng trọng tài có thể tiến hành phiên họp tại địa
điểm được xem là thích hợp cho việc trao đổi ý kiến giữa các thành viên của Hội đồng trọng tài, việc
lấy lời khai của người làm chứng, tham vấn ý kiến các chuyên gia hoặc tiến hành việc giám định hàng
hoá, tài sản hoặc tài liệu khác”.
Một ví dụ về việc các bên có thỏa thuận về địa điểm giải quyết tranh chấpđó là, năm 2005, Vinaconex
có ký hợp đồng cung cấp 130 lao động cho Công ty BMI của Đức sang làm việc tại Libya trong các dự

thương mại, luật áp dụng hoàn toàn do các bên tự do lựa chọn. Điều 14 LTTTMVN quy định:
“1. Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam
để giải quyết tranh chấp.
2. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa
chọn; nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng
pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất.
3. Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan
đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh
chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của
pháp luật Việt Nam”.
Quy định trên hoàn toàn phù hợp với thực tế tranh chấp. Ngoài việc thỏa thuận luật áp dụng giải
quyết tranh chấp trong TTTT, các bên có thể tách ra thành một điều khoản trong hợp đồng kinh tế.

2.3.

Thời điểm lập thỏa thuận trọng tài

Thời điểm lập TTTT theo thông lệ quốc tế có thể lập bất kỳ lúc nào theo nguyên tắc Party Autonomyý chí các bên. Khoản 1 Điều 5 LTTTMVN quy định: “TTTT tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra
tranh chấp”. Tuy nhiên, trên thực tế, các bên nên lập TTTT trước khi có tranh chấp xảy ra, bởi lẽ sau
khi tranh chấp, các bên khó có thể ngồi lại để thương lượng với nhau về lập TTTT.

2.4.

Tính độc lập của thoả thuận trọng tài

Vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất hiện nay là hợp đồng chính vô hiệu thì sự vô hiệu của hợp đồng có
kéo theo sự vô hiệu của điều khoản trọng tài hay không?
Trên thực tế thoả thuận về trọng tài thông thường được thể hiện đơn giản dưới hình thức một điều
khoản trọng tài và đưa vào hợp đồng thương mại (như hợp đồng mua bán hàng hoá, mua bán bản


quyết định thẩm quyền của mình (competence - competence). Điều này có nghĩa là nếu một bên có
khiếu nại về việc vụ tranh chấp hoặc một khía cạnh nào đó trong vụ tranh chấp không thuộc thẩm
quyền của hội đồng trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu, việc này trước hết sẽ do hội đồng
trọng tài quyết định.
Một số nước như Pháp, Thụy Sĩ, Ấn độ quy định rằng quyết định của hội đồng trọng tài trong việc
này là chung thẩm và các bên không được quyền kháng cáo lên tòa án[[15]]. Tuy nhiên luật một số
nước khác như Đức, kể cả Luật Mẫu lại quy định các bên được quyền kháng cáo vấn đề này lên tòa
án và tòa án mới là cơ quan cuối cùng quyết định thẩm quyền của hội đồng trọng tài[[16]].
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, thẩm quyền xem xét hiệu lực của TTTT thuộc về hai cơ quan
chính: trọng tài và tòa án. Nếu các bên gửi đơn ra trọng tài thì trọng tài có thẩm quyền xem xét hiệu
lực của TTTT này (Điều 43 LTTTMVN). Tuy nhiên, nếu một bên gửi đơn ra tòa kèm theo TTTT thì Tòa
án sẽ xem xét hiệu lực của TTTT (Điều 6 LTTTMVN). Tuy nhiên, luật nào sẽ là luật áp dụng để xem xét
hiệu lực của TTTT? Vấn đề này không được quy định cụ thể trong LTTTMVN, nhưng theo thông lệ xét


xử, luật áp dụng sẽ tuân theo nguyên tắc lex fori (nguyên tắc luật tòa án thụ lý) hoặc lex arbitri
(nguyên tắc luật nơi tọa lạc của trọng tài). Như vậy, khi một vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng
tài tại Việt Nam, pháp luật áp dụng để xem xét hiệu lực của TTTT sẽ tuân theo pháp luật Việt Nam, cụ
thể là Điều 18 LTTTMVN.

2.6.

Thỏa thuận trọng tài vô hiệu, không thực hiện được

LTTTM mới cũng đã khắc phục được sự không rõ ràng của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003
về các trường hợp vô hiệu thoả thuận trọng tài. Điều 18 LTTTM giới hạn sáu trường hợp theo đó
thoả thuận trọng tài vô hiệu với những quy định cụ thể và rõ ràng hơn so với những quy định tại Điều
10 của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003. LTTTM còn quy định trường hợp thỏa thuận trọng
tài không rõ ràng thì bên khởi kiện (nguyên đơn) có quyền được tự do lựa chọn tổ chức trọng tài
thích hợp để khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (khoản 5 Điều 43 LTTTM).


3.
3.1.

Vai trò của thỏa thuận trọng tài, nhận xét và hướng khuyến nghị
Vai trò của thỏa thuận trọng tài

Một điều quan trọng để các luật trọng tài thực sự có hiệu lực là tòa án phải từ chối thụ lý khi các bên
đã có TTTT. Bằng cách này, tòa án buộc các bên phải thực hiện cam kết giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài. Vì thế, luật trọng tài luôn có một quy định rõ ràng rằng nếu các bên đã có TTTT mà một bên
lại khởi kiện tại tòa án thì tòa án phải, nếu bên kia yêu cầu, từ chối thụ lý vụ tranh chấp trừ trường
hợp tòa án tuyên rằng TTTT vô hiệu hoặc không thể thực hiện được. Điều này được quy định rõ ràng
trong Luật Mẫu, luật trọng tài của các nước Anh, Đức, Pháp,…[[19]].
Điều 6 LTTTMVN quy định Toà án từ chối thụ lý trong trường hợp có TTTT: “Trong trường hợp các
bên tranh chấp đã có TTTT mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường
hợp TTTT vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được”.
Đối với các tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, mặc dù điều khoản
trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp
soạn sẵn TTTT thì người tiêu dùng vẫn được quyền lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh
chấp. Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chỉ được quyền khởi kiện tại Trọng tài nếu được người tiêu
dùng chấp thuận (Điều 17 LTTTMVN).

3.2.

Nhận xét các quy định pháp luật về thỏa thuận trọng tài và khuyến nghị

Như đã phân tích ở trên, có thể thấy rằng, các quy định của pháp luật hiện hành không quy định rõ
ràng và khuyến nghị về nội dung của TTTT. Khi không quy định rõ ràng về những yếu tố bắt buộc về
các nội dung trong TTTT rất khó cho các bên xác định TTTT có hiệu lực hay không tại thời điểm xác
lập.


3.

Bộ luật Dân sự năm 2005;

4.

Luật Mẫu về Trọng tài Thương mại quốc tế 1985;

5.

Luật Trọng tài của Anh 1996;

6.

Luật Trọng tài của Đức;

7.

Luật Trọng tài của Pháp;

8.

Chu Tùng Anh;

Hãy đề xuất những nội dung cần quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành LTTTM (có phân tích cụ
thể);
9.

Chu Tùng Anh

[17] />

[18] Chu Tùng Anh,“Hãy đề xuất những nội dung cần quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành LTTTM
(có phân tích cụ thể)”.
[19] Điều 8 Luật Mẫu; Điều 9 Luật Trọng tài của Anh 1996; Điều 1032 Luật Trọng tài của Đức; Điều
1458 Luật Trọng tài của Pháp.
[20] />[21] />



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status