nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học số 7/2010 37
TS. Vũ Thị Hải Yến *
bo v quyn li hp phỏp v bự p
cho n lc ca nhng ngi sỏng to
tỏc phm, ngi u t cho hot ng sỏng
to tỏc phm cng nh nhng ngi cú cụng
lao trong vic chuyn ti tỏc phm, cuc
biu din n cụng chỳng, phỏp lut s
hu trớ tu ghi nhn v trao cho tỏc gi, ch
s hu quyn tỏc gi, ngi biu din, nh
sn xut bn ghi õm, ghi hỡnh, t chc phỏt
súng nhng c quyn trong vic s dng,
khai thỏc nhng thnh qu sỏng to, u t
ca h. Nhng t chc, cỏ nhõn khi khai
thỏc, s dng tỏc phm hay i tng ca
quyn liờn quan phi xin phộp v tr nhun
bỳt, thự lao. Tuy nhiờn, cỏc sn phm sỏng
to l i tng ca quyn tỏc gi v quyn
liờn quan c to ra nhm phc v cho nhu
cu vn hoỏ, gii trớ, thng thc ngh thut
ca xó hi. S c quyn ny cú th dn ti
hn ch kh nng tip cn ca cụng chỳng
quyn liờn quan, c th: Cụng c Berne ti
khon 2 iu 9 quy nh: Lut phỏp cỏc
quc gia thnh viờn Liờn hp quc cú quyn
cho phộp sao in nhng tỏc phm núi trờn
trong mt vi trng hp c bit, min l
s sao in ú khụng phng hi n vic khai
thỏc bỡnh thng tỏc phm hoc khụng gõy
* Ging viờn Khoa lut dõn s
Trng i hc Lut H Ni nghiên cứu - trao đổi
38 tạp chí luật học số
7/2010
thit thũi bt chớnh cho nhng quyn li hp
phỏp ca tỏc gi. Hip nh TRIPs (iu
13); Hip c WCT (khon 2 iu 10); Hip
c WPPT (khon 2 iu 16) cng cú
nhng quy nh tng t. Cú th thy cỏc
iu c quc t khụng quy nh cỏc trng
hp c th gii hn quyn tỏc gi, quyn liờn
quan m ch a ra nhng tiờu chớ chung
(thng c gi l phộp th ba bc)
xem xột mt hnh vi s dng tỏc phm, i
tng ca quyn liờn quan cú hp lớ, cụng
bng khụng, ú l cỏc tiờu chớ: 1) Vic s
dng t do ch dnh cho mt s trng hp
ngoi l; 2) Vic s dng khụng xung t
nhiờn, vic ỏp dng nhng quy nh ny trờn
thc t cũn mt s bt cp sau:
- Liờn quan n quyn sao chộp: Trong
ni dung quyn tỏc gi v quyn liờn quan,
quyn sao chộp, quyn kim soỏt hnh vi sao
chộp (bao gm c vic ngn cn ngi khỏc
sao chộp tỏc phm, bn ghi õm, ghi hỡnh
cuc biu din hoc chng trỡnh phỏt súng)
l quyn nng quan trng nht vỡ nú l c s
phỏp lớ i vi cỏc hỡnh thc khai thỏc tỏc
phm c bo h. Theo quy nh ti iu
20, iu 29, iu 30, iu 31 Lut s hu
trớ tu thỡ sao chộp tỏc phm, sao chộp
cuc biu din ó c nh hỡnh trờn bn
ghi õm, ghi hỡnh, sao chộp bn nh hỡnh
chng trỡnh phỏt súng thuc c quyn
ca ch s hu quyn tỏc gi, quyn liờn
quan. iu 25 v iu 32 Lut s hu trớ tu
dnh ra mt s ngoi l i vi quyn sao
chộp l cỏc trng hp: t sao chộp nhm
mc ớch nghiờn cu khoa hc, ging dy cỏ
nhõn; sao chộp tỏc phm lu tr trong
th vin m theo hng dn ti iu 25 Ngh
nh ca Chớnh ph s 100/2006/N-CP l
vic sao chộp khụng quỏ mt bn v khụng
ỏp dng i vi tỏc phm kin trỳc, tỏc phm
to hỡnh v chng trỡnh mỏy tớnh.
(1)
Nh
vy, theo quy nh hin nay, trng hp sao
được quyền lợi cho người sáng tạo, tạo điều
kiện bù đắp những công sức, chi phí mà họ
phải bỏ ra đồng thời tạo cơ chế thực thi hiệu
quả.
(2)
Cụ thể, pháp luật về bản quyền của
nhiều quốc gia cho phép sao chép nhưng kết
hợp chặt chẽ với cơ chế trả “phí đền bù bản
quyền” (remuneration) cho chủ sở hữu quyền,
như Điều 20.3 Đạo luật quyền tác giả Thụy Sĩ
quy định việc trả tiền đền bù bản quyền của
những người sản xuất vật ghi và thiết bị ghi.
Qua tham khảo kinh nghiệm của một số
quốc gia về vấn đề này, chúng tôi kiến nghị
Điều 25 và Điều 32 Luật sở hữu trí tuệ Việt
Nam nên mở rộng hơn ngoại lệ cho việc sao
chép với mục đích sử dụng cá nhân, phi
thương mại, cụ thể, thay vì buộc các chủ thể
này khi sao chép (với số lượng lớn) phải xin
phép, trả tiền cho chủ sở hữu quyền tác giả,
quyền liên quan, chúng ta có thể thu một
khoản tiền đền bù bản quyền của những nhà
sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu các thiết bị
và vật ghi bởi các lí do sau:
Về cơ sở pháp lí: Đối với quyền sao chép,
Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn
học, nghệ thuật không nêu ra các trường hợp
cụ thể mà chỉ đưa ra nguyên tắc chung tại
khoản 2 Điều 9 theo đó các nước thành viên
có thể quy định việc tự do sao chép trong
(3)
quyn tho thun v mc phớ ỏp dng i
vi cỏc nh sn xut, kinh doanh, nhp khu
cỏc thit b v phng tin sao chộp. Nu cỏc
bờn khụng tho thun c thỡ c quan qun
lớ nh nc (B vn hoỏ, th thao v du lch)
quyt nh mc phớ hoc theo quyt nh ca
to ỏn (trong trng hp cú tranh chp).
Mc phớ c tớnh cn c vo giỏ tr, s
lng, thi lng ca cỏc thit b v
phng tin sao chộp v cú th c thay
i theo tng nm cho phự hp vi thc t.
T l phõn chia tin n bự bn quyn gia
ch s hu quyn tỏc gi, ch s hu quyn
liờn quan (nh ngi biu din, nh sn xut
bn ghi ) v t chc qun lớ tp th c
xỏc nh theo tho thun gia cỏc bờn.
Túm li, theo chỳng tụi, chỳng ta nờn
cõn nhc sa i iu 25 v iu 32 Lut
s hu trớ tu theo hng m rng hn
ngoi l cho vic sao chộp vi mc ớch s
dng cỏ nhõn, phi thng mi, c th nờn
b quy nh gii hn v s bn sao chộp
nh hin nay. Thay vo ú, bo m
quyn li cho ch th ca quyn tỏc gi,
quyn liờn quan, Lut s hu trớ tu nờn b
sung quy nh v vic thu phớ n bự bn
quyn nh ó trỡnh by trờn.
i vi vic trớch dn tỏc phm: Theo
tuyờn ụng Tụn ó vi phm quyn tỏc gi ca
ụng Tuõn v phi bi thng cho ụng Tuõn
25 triu ng tn tht tinh thn v 1.040.400
ng tin nhun bỳt. Tuy nhiờn bn ỏn phỳc
thm ó bỏc quyt nh bn ỏn s thm ca
TAND thnh ph H Ni, cho rng vic ụng
Tụn trớch dn bn bi vit ó cụng b ca
ụng Tuõn tranh lun trong cun sỏch ca
mỡnh l hp phỏp vỡ vic s dng ny vi
mc ớch nghiờn cu, tho lun ch khụng vỡ
li ớch kinh doanh.
Chỳng tụi ng ý vi quan im ca hi
ng xột x khi cho rng bn tỏc phm c
s dng l tỏc phm ó cụng b v vic s nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 7/2010 41
dụng của ông Tôn là vì mục đích nghiên cứu,
bình luận. Tuy nhiên, vấn đề gây tranh cãi
trong vụ việc này là việc ông Tôn sử dụng
nguyên văn bốn bài viết của ông Tuân để in
trong sách của mình là hành vi “trích dẫn”
hay “sử dụng” tác phẩm. Nếu là “trích dẫn”
hợp lí để nghiên cứu, bình luận thì theo quy
định của Điều 25 Luật sở hữu trí tuệ sẽ không
phải xin phép, không phải trả tiền; nhưng nếu
là “sử dụng” tác phẩm thì theo Điều 20 Luật
sở hữu trí tuệ, người sử dụng phải trả tiền cho
Để thống nhất về cách hiểu cũng như áp
dụng pháp luật, tránh tình trạng tranh chấp
như hiện nay, chúng tôi kiến nghị trong văn
bản hướng dẫn thi hành Luật sở hữu trí tuệ
cần bổ sung quy định hướng dẫn cụ thể trường
hợp “trích dẫn tác phẩm không phải xin
phép, không phải trả nhuận bút, thù lao là
trường hợp trích dẫn một phần tác phẩm để
bình luận, minh hoạ”. Nếu sử dụng toàn bộ
tác phẩm đã công bố của người khác để bình
luận, minh hoạ thì không phải xin phép nhưng
phải trả tiền cho chủ sở hữu quyền tác giả.
2. Các trường hợp sử dụng tác phẩm,
quyền liên quan không phải xin phép
nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao
Điều 26 và Điều 33 Luật sở hữu trí tuệ
quy định về các trường hợp sử dụng tác
phẩm, quyền liên quan không phải xin phép
nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao. Đây
là ngoại lệ dành riêng cho những trường hợp
mà do đặc thù của lĩnh vực hoạt động, những
chủ thể này thường xuyên sử dụng tác phẩm,
bản ghi âm, ghi hình để phục vụ nhu cầu giải
trí của công chúng như: các tổ chức phát
sóng sử dụng tác phẩm, bản ghi để phát
sóng; các chủ thể sử dụng bản ghi âm trong
hoạt động kinh doanh, thương mại như vũ
trường, nhà hàng, khách sạn, quán karaoke,
các trang web nhạc Để tạo điều kiện thuận
lợi cho các chủ thể này trong quá trình sử
tiền nhuận bút, thù lao cũng quy định trường
hợp “Sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản
ghi âm, ghi hình đã được công bố nhằm mục
đích thương mại để thực hiện chương trình
phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền
dưới bất kì hình thức nào”.
Quy định kể trên của Điều 26, Điều 33
Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 xung đột với
Điều 11 bis Công ước Berne cũng như Công
ước Geneva, bởi theo tinh thần của các điều
ước quốc tế này, phát sóng tác phẩm là độc
quyền của chủ sở hữu quyền tác giả; phát
sóng bản ghi âm, ghi hình là độc quyền của
nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình. Để thực
hiện cam kết tham gia WTO của Việt Nam,
Nghị quyết số 71/2006/QH11 phê chuẩn
Nghị định thư ra nhập WTO của Việt Nam
đã quy định áp dụng trực tiếp Điều 26, Điều
33 Luật sở hữu trí tuệ phù hợp với Điều 11
bis Công ước Berne. Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật sở hữu trí tuệ đã sửa
đổi Điều 26, Điều 33 để tương thích với quy
định của các điều ước quốc tế nói trên theo
quan điểm tổ chức phát sóng sử dụng tác
phẩm, sử dụng bản ghi để làm chương trình
phát sóng, dù chương trình đó có tài trợ,
quảng cáo hay thu tiền hay không đều có
nghĩa vụ trả nhuận bút hay thù lao cho chủ
sở hữu quyền tác giả, nhà sản xuất bản ghi,
tổ chức phát sóng. Tuy nhiên, quy định của
hu quyn tỏc gi. Tng t nh vy, theo
iu 29 Lut s hu trớ tu, cú hai loi
ngi biu din: 1) Ngi biu din ng
thi l ch u t s l ch s hu cuc biu
din v cú cỏc quyn nhõn thõn v ti sn i
vi cuc biu din; 2) Ngi biu din
khụng ng thi l ch u t thỡ ch cú cỏc
quyn nhõn thõn i vi cuc biu din, cũn
ch u t cú cỏc quyn ti sn.
Nu theo iu 29 Lut s hu trớ tu thỡ
trong trng hp ngi biu din khụng phi
l ch u t thc hin cuc biu din thỡ h
ch cú cỏc quyn nhõn thõn i vi cuc biu
din; ch u t s cú cỏc quyn ti sn, trong
ú cú quyn nh hỡnh, sao chộp, phỏt súng
bn ghi cuc biu din. Tuy nhiờn, nu theo
quy nh ca iu 33 thỡ c ngi biu din
v nh sn xut bn ghi u c tr thự lao
khi bn ghi c phỏt súng hoc c s dng
trong hot ng kinh doanh, thng mi. Quy
nh chng chộo v mõu thun trong iu 29
v iu 33 Lut s hu trớ tu hin nay ó
dn n nhng v tranh chp trờn thc t.
Thỏng 8/2009, Cụng ti TNHH dch v
gii trớ M Tõm gi vn bn n cỏc c quan
chc nng v hng chc n v kinh doanh
liờn quan (trong ú cú cỏc cụng ti kinh
doanh dch v vin thụng nh Viettel,
Vinafone, Mobifone, Sfone, NOKIA, FPT )
thụng bỏo v vic vi phm bn quyn v yờu
Tõm cho rng cỏc nh sn xut bng a cú
quyn liờn quan i vi cỏc bn ghi õm, ghi
hỡnh, vỡ vy h yờu cu cỏc t chc, cỏ nhõn
s dng quyn liờn quan phi thanh toỏn tin
thự lao l phự hp vi quy nh ca phỏp
lut. Tuy nhiờn, riờng quyn ghi õm ca
ngi biu din vn thuc quyn ti sn ca
ngi biu din. Cn c vo iu 33 Lut s
hu trớ tu, cỏc n v kinh doanh phi tr
tin cho cỏc nh sn xut bn ghi (thụng qua
RIAV) v tr c tin s dng quyn liờn
quan ca ngi biu din cho M Tõm.
(4)
nghiªn cøu - trao ®æi
44 t¹p chÝ luËt häc sè
7/2010
Liên quan đến vấn đề này, Điều 12 Công
ước Rome quy định: “Nếu một bản ghi âm
được công bố vì mục đích thương mại, hoặc
một bản sao của bản ghi âm như vậy được
sử dụng trực tiếp để phát sóng hoặc cho bất
kì sự truyền đạt nào đến công chúng thì một
khoản tiền thù lao hợp lí phải được người sử
dụng trả cho người biểu diễn hoặc cho nhà
sản xuất bản ghi âm, ghi hình, hoặc cho cả
hai”. Như vậy, Công ước Rome đã đưa ra
quy định mở cho các quốc gia khi quy định
doanh trong các lĩnh vực: phát thanh, truyền
hình, dịch vụ nhà hàng, khách sạn, karaoke,
vận chuyển, du lịch, giải trí, siêu thị
Trường hợp tác giả không đồng thời là
chủ sở hữu quyền tác giả và người biểu diễn
không đồng thời là chủ sở hữu (người đầu
tư) cuộc biểu diễn, hiện nay có 2 cách hiểu:
Quan điểm thứ nhất cho rằng các tổ chức
sản xuất kinh doanh khi sử dụng bản ghi âm,
ghi hình sẽ phải trả tiền nhuận bút, thù lao
cho tất cả các đối tượng được liệt kê trong
Điều 33, bao gồm cả tác giả (không đồng
thời là chủ sở hữu quyền tác giả) và người
biểu diễn (không phải là chủ đầu tư). Quan
điểm này có thiên hướng bảo vệ quyền lợi
cho tác giả, người biểu diễn khi họ không
đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả, chủ
sở hữu cuộc biểu diễn nhằm khuyến khích
hoạt động sáng tạo của họ.
Chúng tôi không tán thành quan điểm
trên bởi các lí do sau: 1) Trên nguyên tắc,
bảo đảm sự cân bằng giữa lợi ích của tác giả,
người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi cũng
như người sử dụng, nếu buộc người sử dụng
phải thực hiện nghĩa vụ đối với tất cả các
chủ thể trên là không thoả đáng và sẽ hạn
chế việc sử dụng, khai thác tác phẩm trên
thực tế; 2) Căn cứ vào các quy định của Luật
sở hữu trí tuệ, tác giả, người biểu diễn (trong
trường hợp không đồng thời là chủ sở hữu
tránh tranh chấp về quyền lợi giữa những chủ
thể này như vụ việc kể trên, Điều 33 Luật sở
hữu trí tuệ nên quy định rõ tiền thù lao sẽ
được trả cho chủ sở hữu bản ghi âm, ghi hình
được sử dụng. Tuỳ từng trường hợp, chủ sở
hữu bản ghi có thể là người biểu diễn, hoặc
nhà sản xuất bản ghi hoặc tổ chức phát sóng
hoặc họ có thể thoả thuận là đồng chủ sở hữu
và được hưởng thù lao theo thoả thuận.
Thứ hai, Theo quy định của Điều 26,
Điều 33, một vấn đề mới nảy sinh là cách
thức trả tiền nhuận bút, thù lao như thế nào?
Nguyên tắc chung, Điều 26, Điều 33 quy
định tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm để
phát sóng; tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi
âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích
thương mại để phát sóng; sử dụng trong hoạt
động kinh doanh thương mại phải trả tiền
theo cách thức và theo thứ tự ưu tiên như
sau: 1) Theo thoả thuận; 2) Trường hợp không
có thoả thuận thì theo quy định của Chính
phủ hoặc 3) Khởi kiện ra toà án theo quy
định của pháp luật.
Tuy nhiên, các trường hợp sử dụng tác
phẩm theo Điều 26 và Điều 33 là trường hợp
sử dụng tác phẩm không phải xin phép,
không phải giao kết hợp đồng bằng văn bản
với chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu
diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình,