nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học số 10/2007 47
ThS. Vũ Thị Hải Yến *
ut s hu trớ tu nm 2005 tha nhn
ch dn a lớ v nhón hiu u l i
tng SHCN c phỏp lut bo h. L
nhng ch dn thng mi c gn trờn cỏc
sn phm hng húa cú chc nng cung cp
thụng tin v ngun gc sn phm, nhón hiu
hay ch dn a lớ chớnh l phng tin giỳp
cho ngi tiờu dựng cú th phõn bit cỏc sn
phm khỏc nhau trờn th trng. Uy tớn, danh
ting ca hng húa thng gn lin vi nhón
hiu hay ch dn a lớ. Bờn cnh nhng tớnh
cht chung, nhón hiu v ch dn a lớ l
nhng i tng SHCN c lp vỡ chỳng cú
nhng im khỏc bit c bn.
Th nht, mt ch dn a lớ cú chc
nng phõn bit sn phm ca vựng ny vi
sn phm ca vựng khỏc. Ch dn a lớ
thụng tin v ngun gc a lớ ca sn phm
v mi quan h gia cht lng, danh ting
v cỏc c tớnh khỏc ca hng húa vi xut
h ch dn a lớ v nhón hiu tt yu phi xy
ra khi mt ch dn a lớ li trựng hoc tng
t vi mt nhón hiu m nhng du hiu ny
c s dng cho nhng hng húa trựng,
tng t hoc cú liờn quan n nhau. Trong
bi vit ny, chỳng tụi mun phõn tớch nhm
lm sỏng t nhng trng hp du hiu ch
L
* Ging viờn Khoa lut dõn s
Trng i hc Lut H Ni nghiªn cøu - trao ®æi
48 t¹p chÝ luËt häc sè 10/2007
nguồn gốc địa lí được bảo hộ như một nhãn
hiệu và hướng giải quyết của Luật sở hữu trí
tuệ khi xảy ra xung đột giữa bảo hộ nhãn
hiệu và chỉ dẫn địa lí.
1. Những trường hợp dấu hiệu chỉ
nguồn gốc địa lí được bảo hộ dưới dạng
nhãn hiệu
Một trong những điều kiện quan trọng
đối với nhãn hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu
phải có khả năng phân biệt. Những dấu hiệu
chỉ nguồn gốc địa lí thường mang tính chất
mô tả về nguồn gốc địa lí. Chính vì thế mà
luật nhãn hiệu của hầu hết các quốc gia
thường không chấp nhận bảo hộ cho những
phẩm Lâm Đồng; nhãn hiệu “bia Sài Gòn”
của Tổng công ti bia, rượu, nước giải khát
Sài Gòn; nhãn hiệu “bia Hà Nội” của Công ti
bia Hà Nội; nhãn hiệu “bánh phồng tôm Sa
Đéc” của Công ti thực phẩm Đồng Tháp Lí
do để được chấp nhận bảo hộ các nhãn hiệu
này rất khác nhau, đối với “bia Hà Nội”, có
thể do nhãn hiệu này đã được sử dụng và
thừa nhận rộng rãi ở Việt Nam trong thời
gian khá lâu (từ thời kì Pháp thuộc); hay “Sa
Đéc” không phải là một địa danh nổi tiếng
đối với quảng đại công chúng và địa danh
này không liên quan gì đến chất lượng của
sản phẩm bánh phồng tôm; còn đối với nhãn
hiệu “vang Đà Lạt”, việc cấp giấy chứng
nhận đăng kí nhãn hiệu này căn cứ vào điểm
g khoản 2 Điều 6 Nghị định số 63/CP quy
định chi tiết về sở hữu công nghiệp (được
sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số
06/2001/NĐ-CP), theo đó tên địa danh có
thể được bảo hộ là nhãn hiệu khi có sự cho
phép của cơ quan có thẩm quyền ở nơi có
địa danh tương ứng. Cục SHCN (nay là Cục
sở hữu trí tuệ) đã xem xét và quyết định cấp
văn bằng bảo hộ cho nhãn hiệu “vang Đà
Lạt” căn cứ vào giấy phép của Uỷ ban nhân
dân thành phố Đà Lạt kí ngày 5/9/2002 cho
phép công ti cổ phần thực phẩm Lâm Đồng
được sử dụng tên địa danh Đà Lạt làm nhãn
hiệu cho sản phẩm của công ti.
Tuy nhiên, Luật sở hữu trí tuệ cũng dành
ra trường hợp biệt lệ, khi dấu hiệu chỉ nguồn
gốc địa lí của hàng hóa, dịch vụ đã được
người nộp đơn sử dụng và được biết đến một
cách rộng rãi trong khoảng thời gian nhất
định. Trong trường hợp này, do dấu hiệu đã
trở nên quen thuộc và phổ biến với người
tiêu dùng nên khi dấu hiệu được sử dụng
trên hàng hóa, người tiêu dùng có thể không
có lí do để nghĩ hay liên tưởng rằng dấu hiệu
đó chỉ ra nơi sản xuất hay nguồn gốc sản
phẩm mà chỉ đơn giản xem nó như một dấu
hiệu để phân biệt hàng hóa trên thị trường.
Nhiều trường hợp dấu hiệu chỉ nguồn gốc là
tên địa danh mà tên đó là từ có nghĩa đã
được sử dụng phổ biến trong đời sống.
Theo chúng tôi, nhãn hiệu là đối tượng
thuộc quyền sở hữu và sử dụng độc quyền
của một chủ thể nhất định. Vì vậy, khi một
dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí của hàng hóa
được bảo hộ là nhãn hiệu, chủ sở hữu có
quyền ngăn cấm bất kì chủ thể nào khác sử
dụng dấu hiệu nói trên. Trong khi đó, dấu
hiệu này có khả năng được bảo hộ như chỉ
dẫn địa lí - đối tượng sở hữu trí tuệ thuộc
quyền sử dụng chung của những người sản
xuất sản phẩm ở khu vực địa lí đó. Rõ ràng
là giữa lợi ích của một cá nhân với lợi ích
của tập thể, của cộng đồng thì lợi ích chung
phải được ưu tiên hơn. Đây cũng là lí do mà
tiờu chớ sau cng cn c a ra cõn
nhc, xem xột:
+ Khu vc a lớ m du hiu ch dn ti
khụng phi l mt a danh ni ting hoc
c bit n rng rói i vi qung i
cụng chỳng;
+ Khu vc a lớ (mc dự ni ting hoc
c bit n rng rói) nhng khụng cú mi
liờn h gỡ gia cỏc iu kin a lớ ca ni ú
vi tớnh cht, cht lng ca sn phm mang
nhón hiu. Núi cỏch khỏc, sn phm c
sn xut ti a phng ú khụng cú cht
lng hoc tớnh cht c thự hon ton khỏc
bit so vi sn phm cựng loi c sn xut
ti a phng khỏc.
Quy nh nh vy mi bo m vic cp
ng kớ mt du hiu ch ngun gc a lớ l
nhón hiu c quyn cho mt nh sn xut
a phng l cụng bng v hp lớ, trỏnh tỡnh
trng ch dn a lớ gn vi mt sn phm
ni ting ca a phng nhng li tr thnh
ti sn riờng ca mt cỏ th sn xut.
b. Cỏc du hiu ch ngun gc a lớ
c bo h di dng nhón hiu tp th
nhiu quc gia khụng cú h thng bo
h riờng cho ch dn a lớ thỡ cỏc du hiu
ch ngun gc a lớ ca sn phm vn c
bo h di dng nhón hiu tp th. Khon
17 iu 4 Lut s hu trớ tu nh ngha:
Nhón hiu tp th l nhón hiu dựng
sn xut, cht lng ; u chu s kim soỏt
vic s dng nhón hiu cng nh kim soỏt
v cht lng sn phm.
Tuy nhiờn, nhón hiu tp th cú mt s
im khỏc bit vi ch dn a lớ.
Th nht, nhón hiu tp th l du hiu
dựng phõn bit sn phm hoc dch v
ca cỏc thnh viờn hip hi vi sn phm, nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 10/2007 51
dịch vụ của các cơ sở không phải thành viên.
Dấu hiệu này chỉ dẫn về nguồn gốc thương
mại của sản phẩm, dịch vụ, nó cho biết xuất
xứ của hàng hóa, dịch vụ là từ một hiệp hội.
Vì vậy, nhãn hiệu tập thể có thể là bất kì dấu
hiệu nào để phân biệt sản phẩm, hàng hóa,
dịch vụ của hiệp hội đó với hàng hóa, dịch
vụ của những người khác không phải là
thành viên. Ví dụ: “Vinataba” là một nhãn
hiệu tập thể sử dụng bởi các công ti sản xuất
thuốc lá thuộc Tổng công ti thuốc lá Việt
Nam
(1)
hay VNPT là nhãn hiệu tập thể của
Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam.
Trong khi chỉ dẫn địa lí bắt buộc phải là
những dấu hiệu chỉ ra nguồn gốc địa lí của
thể có thể chuyển giao cho tổ chức, cá nhân
là thành viên của tổ chức tập thể trong khi
quyền sử dụng chỉ dẫn địa lí không thể
chuyển giao cho chủ thể khác.
Thứ sáu, về nguyên tắc, quyền sở hữu đối
với nhãn hiệu được bảo hộ hữu hạn trong thời
hạn 10 năm, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp
còn chỉ dẫn địa lí được bảo hộ vô thời hạn.
Trên thực tế, ở Việt Nam, đã có một số
lượng không nhỏ các dấu hiệu chỉ nguồn gốc
địa lí được đăng kí như là nhãn hiệu tập thể.
Nhãn hiệu tập thể xác định nguồn gốc xuất
xứ địa lí thường được đăng kí cho các loại
nông sản, thực phẩm như: Vải Thanh Hà,
cam Vinh, bưởi Phúc Trạch, gạo Nàng Thơm
chợ Đào, quít Lai Vung, bưởi Năm Roi Bình
Minh, chè Thái Nguyên
(2)
Hiện nay, tiếp
tục có nhiều tên địa lí như vú sữa Kim Vĩnh,
xoài cát Hoà Lộc chủ thể nộp đơn đăng kí
chỉ dẫn địa lí nhưng khi nhận thấy khó có
khả năng được bảo hộ là chỉ dẫn địa lí, người
nộp đơn đã tự yêu cầu chuyển sang đăng kí
nhãn hiệu tập thể.
Việc bảo hộ chỉ dẫn địa lí có nhiều ưu
thế hơn so với bảo hộ nhãn hiệu tập thể.
Nhãn hiệu tập thể chỉ đơn thuần là dấu hiệu
được sử dụng cho sản phẩm, dịch vụ, nó
không bảo đảm về chất lượng của sản phẩm
chưa đủ điều kiện để đăng kí tên gọi xuất xứ
hàng hóa (theo Bộ luật dân sự năm 1995),
hiệp hội sản xuất và tiêu thụ vải thiều Thanh
Hà đã lựa chọn nộp đơn đăng kí dấu hiệu
này là nhãn hiệu tập thể vào ngày
25/03/2004 và được cấp văn bằng bảo hộ
nhãn hiệu tập thể ngày 07/03/2005.
(3)
Trong
thời gian này, UBND huyện Thanh Hà phối
hợp với Sở khoa học công nghệ tỉnh Hải
Dương tiếp tục hoàn thiện hồ sơ xin đăng kí
chỉ dẫn địa lí “vải thiều Thanh Hà” và ngày
31/05/2007, “vải thiều Thanh Hà” đã được
Cục sở hữu trí tuệ ra quyết định bảo hộ chỉ
dẫn địa lí. Tương tự như vậy, trước đây,
“cam Vinh” được đăng kí như là nhãn hiệu
tập thể, ngày 08/03/2007, UBND tỉnh Nghệ
An đã nộp đơn đăng kí chỉ dẫn địa lí cho
“cam Vinh” và ngày 31/05/2007, “cam Vinh”
được chấp nhận bảo hộ chỉ dẫn địa lí.
(4)
c. Các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí được
bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu chứng nhận
Điều 4 khoản 18 Luật sở hữu trí tuệ quy
định: “Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu
mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức,
cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ
của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các
không trực tiếp sử dụng, khai thác chỉ dẫn
địa lí mà chỉ quản lí việc sử dụng của các
thành viên.
Thứ ba, đối với nhãn hiệu chứng nhận,
không xác định được cụ thể về những người
được sử dụng nhãn hiệu, vì sau khi nhãn
hiệu đăng kí, việc cấp phép sử dụng thuộc
quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu. Đối với chỉ
dẫn địa lí, việc đăng bạ chỉ dẫn địa lí chỉ xác
định tổ chức quản lí chỉ dẫn địa lí chứ không
xác định cụ thể những người sử dụng.
- Những điểm khác biệt giữa nhãn hiệu
chứng nhận và chỉ dẫn địa lí:
Thứ nhất, chủ sở hữu nhãn hiệu chứng
nhận có quyền chuyển nhượng nhãn hiệu
cho tổ chức khác có thẩm quyền kiểm định
còn chỉ dẫn địa lí là tài sản của Nhà nước, vì
vậy không thể là đối tượng của hợp đồng
chuyển nhượng
Thứ hai, sản phẩm mang nhãn hiệu
chứng nhận không cần phải có những tính
chất, chất lượng khác biệt so với sản phẩm
được sản xuất bởi những chủ thể khác, ở nơi
khác. Đây lại là điều kiện bắt buộc đối với
sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí.
Vì là một loại nhãn hiệu mới được quy
định nên trên thực tế ở Việt Nam, hiện mới
có 2 nhãn hiệu chứng nhận được đăng kí là
nhãn hiệu “Vietnam Value Inside” của Cục
xúc tiến thương mại để chứng nhận sản
những trường hợp loại trừ không được đăng
kí bảo hộ nhãn hiệu theo điểm l, m khoản 2
Điều 74 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005.
Trường hợp 1: Dấu hiệu trùng hoặc
tương tự với chỉ dẫn địa lí đang được bảo hộ
nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm cho
người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc
địa lí của hàng hóa.
Theo quy định trên, nhãn hiệu bị coi là
không có khả năng phân biệt nếu: 1) Dấu
hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lí
đang được bảo hộ; 2) Việc sử dụng dấu hiệu
đó có thể làm người tiêu dùng hiểu sai lệch
về nguồn gốc địa lí của hàng hóa.
Theo điểm a khoản 3 Điều 12 Nghị định nghiªn cøu - trao ®æi
54 t¹p chÝ luËt häc sè 10/2007
số 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở
hữu trí tuệ và quản lí nhà nước về sở hữu trí
tuệ thì dấu hiệu bị coi là trùng với chỉ dẫn
địa lí nếu giống với chỉ dẫn địa lí được bảo
hộ về từ ngữ, kể cả cách phát âm, phiên âm
các chữ cái, ý nghĩa hoặc về hình ảnh, biểu
tượng, thuộc phạm vi bảo hộ của chỉ dẫn địa
lí; một dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức
gây nhầm lẫn với chỉ dẫn địa lí nếu tương tự
rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ
khu vực địa lí mang chỉ dẫn đó.
Trường hợp này, dấu hiệu đăng kí nhãn
hiệu sẽ bị từ chối nếu: 1) Dấu hiệu đó trùng,
hoặc có chứa chỉ dẫn địa lí hoặc được dịch
nghĩa, phiên âm từ chỉ dẫn địa lí đang được
bảo hộ cho rượu vang hoặc rượu mạnh; 2)
Dấu hiệu đó được đăng kí làm nhãn hiệu cho
rượu vang hoặc rượu mạnh; 3) Sản phẩm dự
liệu sẽ gắn nhãn hiệu đó không có nguồn gốc
xuất xứ từ khu vực địa lí mang chỉ dẫn. Đây
là trường hợp loại trừ đăng kí các nhãn hiệu
trùng hoặc có chứa chỉ dẫn địa lí đang được
bảo hộ cho rượu vang và rượu mạnh cho các
sản phẩm là rượu vang và rượu mạnh (kể cả
trường hợp dấu hiệu đăng kí chỉ dịch nghĩa
hoặc phiên âm từ chỉ dẫn địa lí). Trong
trường hợp này, việc bảo hộ chỉ dẫn địa lí đã
được nâng lên một mức độ cao hơn. Ở đây,
không cần xem xét người tiêu dùng có bị
hiểu sai lệch về nguồn gốc của hàng hóa hay
không, chỉ cần sản phẩm không có nguồn
gốc từ khu vực đó thì sẽ bị từ chối bảo hộ.
Quy định như vậy là hợp lí và mới đủ khả
năng ngăn chặn việc sử dụng các dấu hiệu
trùng hoặc tương tự chỉ dẫn địa lí với mục
đích lợi dụng, trục lợi.
b. Quan hệ giữa chỉ dẫn địa lí và nhãn
hiệu đã được bảo hộ trước
Khoản 3 Điều 80 Luật sở hữu trí tuệ năm
chủ sở hữu nhãn hiệu nếu có đủ căn cứ
chứng minh việc sử dụng chỉ dẫn địa lí sẽ
gây ra khả năng nhầm lẫn về nguồn gốc sản
phẩm. Như vậy, ý kiến của chủ sở hữu nhãn
hiệu được coi là “một nguồn thông tin cho
quá trình xử lí đơn đăng kí SHCN” (Điều
6.1 Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN). Nếu
nhận được ý kiến của chủ sở hữu nhãn hiệu,
Cục sở hữu trí tuệ thông báo về ý kiến đó
cho người đăng kí chỉ dẫn địa lí để người
này có ý kiến trả lời bằng văn bản. Sau khi
có những ý kiến phản hồi từ phía người nộp
đơn đăng kí chỉ dẫn địa lí cũng như chủ sở
hữu nhãn hiệu, Cục sở hữu trí tuệ sẽ xử lí
các ý kiến dựa trên những chứng cứ, lập luận
do các bên cung cấp và tài liệu có trong đơn.
Như vậy, trong quá trình thẩm định nội
dung đơn đăng kí chỉ dẫn địa lí, Cục sở hữu
trí tuệ là cơ quan chuyên môn có quyền
đánh giá về khả năng gây nhầm lẫn của chỉ
dẫn địa lí với nhãn hiệu đã đăng kí trước.
Kết luận đánh giá có thể đưa ra hai khả
năng giải quyết xung đột giữa bảo hộ chỉ
dẫn địa lí và nhãn hiệu:
1) Việc bảo hộ nhãn hiệu đăng kí trước
sẽ loại trừ khả năng đăng kí chỉ dẫn địa lí
nếu kết quả thẩm định cho thấy việc sử
dụng chỉ dẫn địa lí gây nhầm lẫn về nguồn
gốc sản phẩm.
2) Khả năng đăng kí chỉ dẫn địa lí trùng
sở hữu trí tuệ thông báo cho chủ sở hữu
nhãn hiệu biết để có ý kiến về việc đăng kí
chỉ dẫn địa lí trong thời hạn 01 tháng kể từ
ngày kí thông báo, trong đó nêu rõ quyền
phản đối đăng kí chỉ dẫn địa lí của chủ sở
hữu nhãn hiệu nếu có đủ căn cứ chứng minh
chỉ dẫn địa lí thuộc trường hợp quy định tại
khoản 3 Điều 80 của Luật sở hữu trí tuệ”
(Điều 45.3 (ii) Thông tư số 01/2007/TT-
BKHCN). Ý kiến của chủ sở hữu nhãn hiệu
sẽ được xử lí theo Điều 6 Thông tư trên. Như
vậy, khả năng đăng kí chỉ dẫn địa lí vẫn có
thể đạt được nếu: 1) Có sự đồng ý của chủ sở
hữu nhãn hiệu về việc thừa nhận sự tồn tại
song song của nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lí; 2)
Mặc dù chủ sở hữu nhãn hiệu phản đối việc
đăng kí chỉ dẫn địa lí nhưng nếu Cục sở hữu
trí tuệ xét thấy ý kiến phản đối đó không có
cơ sở, việc bảo hộ chỉ dẫn địa lí không có
khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc sản
phẩm như khoản 3 Điều 80 Luật sở hữu trí
tuệ quy định.
Quan điểm của Luật sở hữu trí tuệ về
giải quyết mối quan hệ giữa việc bảo hộ một
chỉ dẫn địa lí và một nhãn hiệu đã được đăng
kí bảo hộ trước đã dung hòa được lợi ích
giữa một bên là chủ sở hữu nhãn hiệu và một
bên là những người sử dụng chỉ dẫn địa lí tại
địa phương. Các quốc gia bảo hộ chỉ dẫn địa
lí theo hệ thống đăng kí nhãn hiệu như Mĩ,
dẫn địa lí. Quan điểm này vẫn bảo đảm
nguyên tắc “nộp đơn đầu tiên”, nguyên tắc
bình đẳng, không quá đề cao hay thiên vị
việc bảo hộ chỉ dẫn địa lí hay nhãn hiệu./.
(1),(2),(3). Tra cứu tại website: http://iplib.noip.gov.vn
(4) Nguồn từ Phòng đăng kí chỉ dẫn địa lí, Cục sở hữu
trí tuệ.
(5).Xem: Trần Việt Hùng, “Vai trò của các cá nhân,
tổ chức trong việc quản lí chỉ dẫn địa lí”, Cục sở hữu
trí tuệ, tài liệu hội thảo 07/2005.
(6).Xem: Frank Z. Hellwig, “Why principles of
priority and exclusivity can not be compromised - the
trademark owner’s perspective on geographical
indications and first in time, first in right”.