Quản lý nhà nước đối với sở hữu trí tuệ nhãn hiệu hàng hóa của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (National office of intellectual property of Viêt Nam) tại địa bàn Hà Nội - Pdf 11

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA MARKETING
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: Quản lý nhà nước đối với sở hữu trí tuệ nhãn hiệu hàng
hóa của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (National office of intellectual
property of Viêt Nam) tại địa bàn Hà Nội
Họ và tên sinh viên: Phan Văn Hùng
Chuyên ngành: Marketing
Lớp: Quảng Cáo
Khóa: 46
Hệ: Chính quy
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Lưu Văn Nghiêm
HÀ NỘI, NĂM 2008
1
Phụ lục
Lời mở đầu ............................................................................................................................1
o
Lời mở đầu
Trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu hóa, mỗi sản phẩm hóa/ dịch vụ
không mang nhãn đều cung ứng cho người tiêu dùng một số giá trị vật chất và phi vật
chất nào đó và thông thường, luôn có nhiều nhà sản xuất khác nhau cùng đưa ra thị
trường một loại sản phẩm tương tự nhau về cấu tạo, chức năng và thẩm mỹ. Vậy làm
cách nào để có thể phân biệt được đâu là hàng hóa chúng ta cần? Các DN nên làm gì
để người tiêu dùng có thể dễ dàng nhận ra sản phẩm nào là do DN đó sản xuất? Cách
duy nhất là tạo dựng một nhãn hiệu riêng, dễ nhận biết, từ đó xác lập quyền sở hữu
nhãn hiệu bằng cách đăng ký độc quyền nhãn hiệu hàng hóa.
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói chung và bảo hộ nhãn hiệu nói riêng đóng
vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế. BHNH
tạo điều kiện thuận lợi cho các DN quảng bá, lưu động, bảo vệ, phát triển các sản
phẩm của mình trên thị trường nội địa và quốc tế, đồng thời bảo đảm một môi trường
cạnh tranh lành mạnh để thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế. BHNH - bảo hộ tài

ty nào đó mà không truyền đạt tới đối tượng mục tiêu thông điệp hay thuộc tính gì thì
không thể gọi là một nhãn hiệu. Các thuộc tính của nhãn hiệu tồn tại trong mắt của
người sở hữu và phản ánh sự tích luỹ các thông điệp truyền thông mà đối tượng mục
tiêu đã nhận được liên quan đến sản phẩm, dịch vụ hay Công ty và những “kinh
3
nghiệm" mà người tiêu dùng đó đã trải qua với sản phẩm, dịch vụ hay Công ty đó.
b/ Lịch sử của quản trị nhãn hiệu
Nhãn hiệu đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử. Những người cổ đại thời kỳ đồ đá
vẫn thường trao đổi với nhau những vũ khí được thiết kế khác biệt với vẻ ngoài đem
lại cảm tưởng sẽ giúp họ thành công hơn trong săn bắn. Những người đóng tàu
Viking cũng có những "nhãn hiệu” tàu biển khác nhau. Về sau này, khi loài người biết
đúc kim loại, nhiều người đã đúc lên sản phẩm tên họ của mình như một chứng tích
khẳng định chất lượng của sản phẩm.
Trên thực tế, định nhãn, hay việc sử dụng các biểu tượng để truyền đạt các thông
tin về một sản phẩm hay dịch vụ có thể được coi là một hoạt động chỉ riêng gặp ở con
người. Đây cũng là nền tảng của thương mại: nếu không có thông tin về danh tiếng
của một người sản xuất hay người bán, hoạt động thương mại hẳn nhiên sẽ bị ngừng
trệ. Tuy nhiên, quyền lực thực sự của các nhãn hiệu lại có từ khi dấu hiệu này được
truyền từ một cá nhân nào đó sang một cộng đồng kinh doanh lớn hơn. Quá trình
chuyển đổi này tăng cường giá trị nhãn hiệu, mở rộng mức độ ảnh hưởng của nó và
kết quả là nó tạo ra của cải vật chất cho người sở hữu.
Josiah Wedgood thường được coi là cha đẻ của quản lý nhãn hiệu hiện đại Từ những
năm 1760, Wedgwood đã đặt tên của ông lên các bình gốm sứ để chỉ rõ nguồn gốc và
chất lượng của chúng. Tuy nhiên, ông này không chỉ dừng lại ở đó. Gần 200 năm
trước khi các phương tiện truyền thông đại chúng được phát minh, Wedgwood đã biết
sử dụng chiêu "tiếp thị truyền khẩu”, ông dùng các sản phẩm tinh xảo của mình tặng
cho Hoàng gia, rồi dùng các hình ảnh Hoàng gia làm công cụ để tạo ra lối truyền
miệng về giá trị của các sản phẩm gốm sứ do ông sáng tạo từ đó tăng thêm giá trị
nhãn hiệu của mình.
Về sau, quản trị nhãn hiệu đã thoát thai từ cách làm của Wedgwood để du hành

5
mở rộng ra thành mối quan bệ lâu đài giữa người tiêu dùng với nhãn hiệu và sự tương
tác qua lại giữa hai chủ thể này.
Kết quả của các quá trình trên là có nhiều quan niệm sai lầm về nhãn hiệu đã tồn
tại trong bối cảnh hiện nay. Việc hiểu rõ các quan niệm sai lầm này có tác dụng lớn
tới việc xem xét lại chiến lược nhãn hiệu của mỗi tập đoàn.
Các quan niệm sai lầm khác:
* Nhãn hiệu chủ yếu được xây dựng thông qua quảng cáo trên các phương tiện
thông tin đại chúng
Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, có một yếu tố đang dần thay thế vai trò chủ
đạo của quảng cáo đại chúng đối với quá trình xây dựng nhãn hiệu: kinh nghiệm của
người tiêu dùng. Yếu tố này bao gồm tổng hoà các tương tác của một người tiêu dùng
đối với một Công ty mà theo các mức độ khác nhau, các tương tác này có thể làm
mạnh lên hoặc suy yếu nhãn hiệu. Một "kinh nghiệm" tích cực mà người tiêu dùng
cảm nhận được khi sử dụng sản phẩm hay nhãn hiệu của Công ty sẽ có vai trò rất
quan trọng đối với việc xây dựng nhãn hiệu của tập đoàn và duy trì lòng trung thành
của người tiêu dùng đó. Hành động mua hàng, trước đây được xem là kết thúc của mô
hình marketing truyền thống vẫn thường được giảng dạy trong các rường đại học, giờ
trở thành sự khởi đầu của một mối quan hệ giữa công ty-khách hàng và sự hình thành
của các yếu tố vô hình của sản phẩm (dịch vụ hậu mãi và nhu cầu thoả mãn của người
tiêu dùng).
Do có sự xuất hiện của yếu tố "kinh nghiệm của người tiêu dùng", nhiều nhãn
hiệu lớn ngày nay đang được xây dựng nhờ kích thích kinh nghiệm của người tiêu
dùng thay cho quảng cáo truyền thống. Trước khi quảng cáo ồ ạt, nhà cung cấp dịch
vụ Internet lớn nhất thế giới American Online đã gửi Email đến để khách hàng có thể
thử nghiệm dịch vụ ngay trên Email rồi từ đó quyết định đăng ký thuê bao AOL.
Harley Davidson xây fựng một trong những nhãn hiệu mạnh nhất bằng cách tăng
cường kinh nghiệm của người tiêu dùng mục tiêu như thành lập các câu lạc bộ chủ xe
6
Harley và tổ chức các cuộc đua. Yếu tố "kinh nghiệm người tiêu dùng" rõ ràng đang

tế. Một trong những khái niệm được sử dụng lâu nay là “vốn nhãn hiệu” (hay còn gọi
là giá trị nhãn hiệu - brand equity) hiện đang được sử dụng ngày càng rộng rãi. Việc
tăng giá trị của "vốn nhãn hiệu” được coi là một trong những mục tiêu chủ đạo của
các nhà quản lý nhãn hiệu ngày nay.
* Nhãn hiệu là trách nhiệm của phòng marketing.
Cũng như việc nhiều người cho rằng quảng cáo là công cụ duy nhất để xây dựng
nhãn hiệu, đây là một hiểu lầm khá phổ biến. Bởi vì nhãn hiệu được coi như một lời
cam kết ngầm định giữa Công ty và người tiêu dùng, nên lời cam kết này có vai trò rất
quan trọng. Lâu nay không ai phủ nhận chính sản phẩm là yếu tố để thực hiện “lời
cam kết ngầm" của Công ty với khách hàng. Tuy nhiên, trong nền kinh tế mới, khi vai
trò của ngành dịch vụ tăng lên nhanh chóng, không chỉ sản phẩm mà chính là toàn bộ
các nhân viên của một tập đoàn mới là người thực hiện "lời cam kết ngầm" với khách
hàng. Vì thế, nhiệm vụ của các nhà quản trị cao cấp là làm sao phải cung cấp phương
tiện cho nhân viên thoả mãn toàn bộ các "kinh nghiệm" của khách hàng khi tiếp cận
với sản phẩm của mình. Do đó, thực hiện "lời cam kết ngầm" hàm chứa trong nhãn
hiệu, toàn bộ các nhân viên của một tổ chức kinh doanh đều phải có trách nhiệm đối
với nhãn hiệu của mình chứ không chỉ riêng phòng marketing.
Hiện nay, nhãn hiệu chiếm lĩnh một vị trí quan trọng trong thương mại. Nhãn hiệu
có thể được mua bán hoặc có thể cho thuê quyền sử dụng. Nhãn hiệu có thể được bảo
hộ trong nước hoặc trên quốc tế.
1.2/ Ở Việt Nam
Nhãn hiệu là những dấu hiệu để phân biệt hàng hoá,dịch vụ cùng loại của các cơ
sở sản xuất,kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu có thể là từ ngữ,hình ảnh hoặc sự kết
8
hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc. ( Định nghĩa nhãn
hiệu trong luật sở hữu trí tuệ)
Các loại nhãn hiệu
Nhãn hiệu hàng hóa : là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa nhất định cùng loại
do một doanh nghiệp cụ thể sản xuất với các sản phẩm cùng loại của các doanh
nghiệp khác.

nhận rằng các sản phẩm mang biểu tượng đó. Được làm từ 100 % len mới và tuân thủ
các chỉ tiêu kĩ thuật nghiêm ngặt do công ty quy định. Nhãn hiệu này được đăng kí tại
hơn 140 nước và được cấp Li-xăng cho các nhà sản xuất có đủ khả năng đáp ứng các
tiêu chuẩn kĩ thuật tại 67 nước.
Nhãn hiệu nổi tiếng : Là nhãn hiệu được coi là nổi tiếng trên thị trường và được cơ
quan có thẩm quyền của quốc gia mà nhãn hiệu đó chứng nhận và bảo hộ. Nhãn hiệu
nổi tiếng có thể được bảo hộ thậm chí khi nhãn hiệu đó không được đăng kí (hoặc
chưa bao giờ được sử dụng) trên một lãnh thổ cụ thể. Hơn nữa, trong khi nhãn hiệu
được bảo hộ nhằm chống lại các nhãn hiệu tương tự gây nhầm lẫn chỉ khi chúng được
dùng cho các sản phẩm trùng hoặc tương tự , còn nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ
nhằm chống lại các nhãn hiệu tương tự gây nhầm lẫn ngay cả khi chúng được dùng
cho sản phẩm không cùng loại nếu thỏa mãn một số điều kiện cụ thể. Mục đích chính
của việc bảo hộ mạnh hơn này là ngăn chặn việc các công ty lơi dụng danh tiếng của
nhãn hiệu nổi tiếng và/hoặc gây thiệt hại cho uy tín và danh tiếng của nhãn hiệu nổi
tiếng đó. VD: Giả sử nhãn hiệu Wondercola là một nhãn hiệu nổi tiếng dùng cho nước
ngọt. Sau đó công ty được hưởng lợi từ việc bảo hộ tự động ở các nước dành sự bảo
hộ mạnh hơn cho các nhãn hiệu nổi tiếng và ở các nước mà nhãn hiệu của họ là nổt
tiếng cho sản phẩm nước ngọt. Sự bảo hộ đó cũng sẽ được áp dụng cho các hàng hóa
dịch vụ không liên quan. Điều này có nghĩa là nếu một công ty khác quyết định đưa ra
10
thị trường các sản phẩm khác từ áo phông cho đến kính mát sử dụng nhãn hiệu
wondercola thì công ty đó phải xin phép công ty hoặc có thể bị kiện ra tòa vì vi phạm
quyền đối với nhãn hiệu.
* Nhãn hiệu trên internet
Việc sử dụng nhãn hiệu trên internet làm phát sinh một loạt vấn đề pháp lý gây nhiều
tranh cãi cùng với các giải pháp không hề dễ dàng và thống nhất. Một vấn đề quan
trọng phát sinh từ thực tê rằng quyền đối với nhãn hiệu có tính lãnh thổ (có nghĩa là
các quyền đó chỉ được bảo hộ trong lãnh thổ của quốc gia hoặc khu vực mà nhãn hiệu
đó đã được đăng kí hoặc sử dụng), trong khi sự tiếp cận với internet lại mang tính
chất toàn cầu. Điều này gây nên khó khăn khi giải quyết tranh chấp giữa các cá nhân

phẩm đó, có khả năng họ sẽ mua hoặc sử dụng sản phẩm đó trong tương lai. Vì vậy
nhãn hiệu cần phân biệt được dễ dàng trong số các sản phẩm giống hoặc tương tự.
Bằng việc giúp các công ty phân biệt sản phẩm của họ với sản phẩm của các công ty
khác, nhãn hiệu đóng vai trò quan trọng trong chiến lược nhãn hiệu và tiếp thị của các
công ty, góp phần xây dựng hình ảnh và danh tiếng sản phẩm của các công ty trong
con mắt người tiêu dung. Hình ảnh và danh tiếng của sản phẩm tạo niềm tin, làm cơ
sở để hình thành những khách hàng trung thành và nâng cao danh tiếng của công ty.
Người tiêu dùng thường hình thành một sự gắn kết tình cảm với một số nhãn hiệu
nhất định, dựa trên một số phẩm chất hoặc đặc điểm mà họ mong muốn từ sản phẩm
mang những nhãn hiệu đó. Một ví dụ điển hình về giá trị mạng lại từ nhãn hiệu đối
với một công ty là Coca-cola hoặc IBM, giá trị của những nhãn hiệu nổi tiếng này lên
tới hơn 50 tỉ đô la Mĩ. Hơn nữa nhãn hiệu cũng tạo ra một động lực khuyến khích các
công ty đầu tư vào việc duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm của mình nhằm đảm
bảo rằng các sản phẩm mang nhãn hiệu của họ một danh tiếng tốt. Bởi thế sở hữu một
12
nhãn hiệu với một hình ảnh và danh tiếng tốt tạo cho công ty một lợi thế cạnh tranh so
với các đối thủ khác.
Phân biệt nhãn hiệu với một số thuật ngữ dễ hiểu lầm
- Nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình
ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc
nhiều màu sắc dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với
hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.
- Nhãn hàng hóa là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh
được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của
hàng hóa dùng để thể hiện các nội dung cơ bản, cần thiết về hàng hóa. (Nhãn hàng
hóa được qui định tại NĐ số 89/2006/NĐ-CP ngày 30.8.2006 của Chính phủ).
* Nhãn hiệu và thương hiệu
Nhãn hiệu Thương hiệu
• Nhãn hiệu là những dấu hiệu dùng để
phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại

(1) Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học;
(2) Chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, các bản ghi âm và chương trình
phát thanh, truyền hình
(3) Sáng chế và giải pháp hữu ích trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người
(4) Các phát minh khoa học
(5) Kiều dáng công nghiệp;
(6) Nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn thương mại và tên thương mại
(7) Bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh
Kể từ khi thông qua công ước này, quyền sở hữu trí tuệ còn được mở rộng thêm,
bao gồm đối với giống cây trồng, mạch dẫn tích hợp bán dẫn, bí mật thương mại và
thông tin bí mật và thể hiện nghệ thuật truyền thống dân gian. Một danh mục đầy đủ
hơn về các quyền sở hữu trí tuệ được liệt kê trong phần II của hiệp định TRIPS với
danh nghĩa là các đối tượng của hiệp định nay, cụ thể là quyền tác giả và quyền liên
quan, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, thiết kế bố trí mạch
tích hợp bán dẫn và thông tin bí mật
Sở hữu trí tuệ được chia thành hai nhánh: Sở hữu công nghiệp và quyền tác giả và
quyền liên quan đến tác giả.
14
Tuy nhiên đứng trên góc độ người nghiên cứu xin mạnh dạn đưa ra một số ý hiểu
về lĩnh vực SHTT:
Sở hữu: là thuật ngữ dùng để chỉ quyền của mỗi người đối với tài sản mà người
đó hay còn gọi là quyền sở hữu. Quyền sở hữu bao gồm ba quyền năng: quyền chiếm
hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản tương ứng.
Tài sản: là đối tượng của sở hữu, bao gồm: tài sản vật chất và tài sản trí tuệ.
Tài sản vật chất: bao gồm vật có thực, tiền, các giấy tờ trị giá bằng tiền và các
quyền về tài sản; chúng được chia thành bất động sản (đất đai, nhà ở, công trình xây
dựng...) và động sản (những tài sản không phải là bất động sản: đồ dùng cá nhân,
các phương tiện đi lại, trang thiết bị gia đình....).
Tài sản trí tuệ: là sản phẩm do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng
tạo, bao gồm các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật (tiểu thuyết thơ ca, các tác

việc tiếp nhận và xử lý hàng trăm đơn khiếu nại xác lập quyền, đơn yêu cầu chấm dứt,
huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ, Cục SHTT đã tích cực hỗ trợ nhiều cơ quan, tổ
chức, cá nhân và tham gia các hoạt động tư pháp,tố tụng liên quan đến giải quyết
khiếu nại và tranh chấp quyền SHCN tại Toà án; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan
thực thi xử lý rất nhiều vụ vi phạm hành chính và xâm phạm quyền SHTT. Đặc
biệt,Cục SHTT đang chủ trì nghiên cứu, tu chỉnh và trình Chính phủ phê duyệt Đề án
"Nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHTT" nhằm từng bước đẩy lùi tình trạng xâm
phạm,vi phạm về SHTT
16
Chương II
Thực trạng quản lý nhà nước về SHTT nhãn hiệu hàng hóa trong giai đoạn
2005-2007
1/ Thực trạng về SHTT nhãn hiệu hàng hóa
1.1/ Thực trạng chung
Việc sản xuất hàng giả, hàng nhái đã trở thành một ngành công nghiệp có qui mô
lớn nằm rải rác khắp nơi. Có thể tìm thấy dễ dàng trên đường Nguyễn Trãi hay
Nguyễn Đình Chiểu (TP.HCM) những áo thun từ xuất xứ trong nước đến Hong Kong,
TQ, Thái Lan, Indonesia, Ý... với số lượng lớn, có giá thượng vàng hạ cám từ
60.000-300.000 đồng/chiếc, gồm các nhãn hiệu CK, Dolce & Gabbana hay Chanel,
Versace... nổi tiếng. Ngay đồ chơi trẻ em, công nghiệp sản xuất hàng nhái, hàng giả
tại TQ và Đông Nam Á đã chiếm tỉ lệ 80% trên thị trường thế giới, thu về hằng năm
trên 4 tỉ đôla chứ không còn là hàng thủ công như xưa kia.
Trong lĩnh vực sản xuất xe máy: Honda bị vi phạm quyền SHCN nhiều nhất vì
đây là thương hiệu mạnh. Không chỉ một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong nước
mà một số liên doanh nước ngoài cũng làm nhái kiểu dáng, phụ tùng của Honda. Cứ
mỗi khi có một dòng xe mới ra đời, không bao lâu sau trên thị trường đã xuất hiện
những chiếc xe "hệt 100%", chỉ khác tên gọi. Dòng xe Best của Suzuki, Jupiter của
Yamaha được làm nhái khá nhiều.Giá một chiếc Honda giả, nhái có từ 5,2-12 triệu
không kể cả giá cao ngất trời của một chiếc Dylan hay SH chính gốc Nhật là
7.000-8.000 đôla (tương đương giá một chiếc ôtô mới cỡ nhỏ ở Mỹ), trong khi hàng

Không ít doanh nghiệp vẫn thờ ơ, thậm chí thiếu hiểu biết về bảo hộ sở hữu công
nghiệp hay lợi ích thực sự của việc làm này. Trong khi đó, pháp luật về sở hữu trí tuệ
18
của VN chưa hoàn chỉnh, còn nhiều kẽ hở. Đây là một thực tế khiến tình trạng vi
phạm diễn ra ngày càng nghiêm trọng và phức tạp.
Theo thống kê, mỗi năm Cục Quản lý thị trường phát hiện và xử lý khoảng 5.000
vụ sản xuất và tiêu thụ hàng giả, trong đó hình thức "mượn" nhãn hiệu có tên tuổi
chiếm phần lớn. Thực trạng này đang gây thiệt hại rất lớn cho các doanh nghiệp cả về
uy tín và doanh thu. Theo ông Trịnh Sỹ, Phó Giám đốc Công ty Bánh kẹo Tràng An,
do sự gia tăng của các sản phẩm bánh kẹo giả, doanh thu của công ty năm nay đã
giảm 30% so với năm ngoái. Tương tự như vậy, các sản phẩm bánh kẹo giả mạo sản
phẩm của Công ty Hải Hà đã làm giảm 40% sản lượng của công ty so với trước đây.
Những đối tượng vi phạm ngày càng có nhiều hành vi tinh vi hơn. Thậm chí, hành vi
của nhiều đối tượng còn có một lực lượng hậu thuẫn giúp việc "tư vấn" để lách luật
Trên thực tế là nhiều doanh nghiệp không thể lường trước được việc nhãn hiệu
hàng hóa uy tín của mình đã có người khác nhanh chân đăng ký bảo hộ "giúp" một
cách hợp pháp. Thậm chí nhiều sản phẩm hàng hóa giả và nhái nhãn mác của họ đã
được sản xuất và tung ra thị trường với số lượng lớn gây sự nhầm lẫn khó phân biệt
cho người tiêu dùng. Nhiều doanh nghiệp phải làm lại từ đầu, bằng cách xây dựng
một nhãn hiệu mới, điều này đồng nghĩa với việc họ tự đánh mất mình. Trước thực tế
trên, nhiều doanh nghiệp nhằm tránh những "vết xe đổ" đi trước, vội vàng làm thủ tục
đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp cho cả những sản phẩm/dịch vụ chưa thực sự
chiếm lĩnh được thị trường.
Tại địa bàn Hà Nội, chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2007 khi Cục quản lý thị trường
tiến hành khảo sát đã có HN có 19 tụ điểm nghi vấn có hoạt động sản xuất, buôn bán
hàng giả, đã lập danh sách 178 đầu mối sản xuất nghi có sản xuất hàng giả, kém chất
lượng. Trong đó, có 33 cơ sở lương thực, thực phẩm, 128 cơ sở hàng tiêu dùng, 7 cơ
sở vật liệu xây dựng, 20 cơ sở thuốc bảo vệ thực vật và thức ăn chăn nuôi. Bên cạnh
đó, còn có 171 điểm giáp ranh mà lực lượng QLTT khó kiểm soát (13 khu vực giáp
ranh với các tỉnh bạn, 55 khu vực giữa các quận, huyện, 103 khu vực giữa các

Viêtbao.vn : http://vietbao.vn/Kinh-te/Thi-truong-Ha-Noi-Nan-hang-gia-o-
muc-bao-dong/65097979/88/)
Bên cạnh đó, việc lợi dụng các nhãn hiệu nổi tiếng để sản xuất và tiêu thụ các mặt
hàng kém chất lượng cũng là tình trạng phổ biến và dễ bắt gặp. Chẳng hạn nhãn vụ
nhãn hiệu Bia Hà nội, một thương hiệu được người dân biết đến như là một thương
hiệu nổi tiếng trong thị trường bia và cũng không ngoại lệ nhãn hiệu này bị các cơ sở
sản xuất khác nhái và cung cấp ra thị trường.
thống kê vi phạm nhãn hiệu – Cục sở hữu trí tuệ
1.3/ Đánh giá, kết luận
21
Xét trên bình diện chung, vi phạm sở hữu trí tuệ nhãn hiệu hàng hóa có thể được
xem như một vấn nạn mà nền kinh tế nói riêng và toàn xã hội nói chung phải ghánh.
Qua thực trạng trên ta thấy mặc dù các cơ quan chức năng ngày càng nâng cao khả
năng kiểm soát cũng như nhận thức của các cá thể kinh tế đã thay đổi khá nhiều
nhưng về căn bản do còn quá nhiều mâu thuẫn cũng như bất cập và yếu kém đã làm
cho vấn đề này không được giải quyết thấu đáo và hiệu quả mà ngược lại nó càng
diễn ra phức tạp, sâu rộng và khó kiểm soát. Bản thân người làm chuyên đề khi khảo
sát cũng như tìm hiểu cũng thực sự ngạc nhiên là thực trạng của vấn đề này lại lại
phức tạp và mang tính thời sự hơn là những nhận định và cái nhìn cục bộ trước đó
nhiều đến như vậy. Do đặc thù về địa bàn mà Hà nội là một trong nhưng trọng điểm
của vấn đề sở hữu trí tuệ nhãn hiệu hàng hóa. Điểm sáng thì ít nhưng điểm tối lại dễ
thấy và nhiều hơn nhiều lần so với những thống kê vì trên thực tế rất khó kiểm soát
nếu không có một cơ chế, một nền tảng của pháp chế thực thi và kiểm soát gắn liền
với thực tế. Vậy các cơ quan chức năng và một trong số đó là Cục Sở hữu trí tuệ đã
quản lý lĩnh vực này thế nào trong những năm gần đây khi mà Việt Nam đã và đang
đứng trước quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu và đã ra nhập WTO ?
2/ Thực trạng quản lý nhà nước đối với SHTT nhãn hiệu trong Cục sở hữu trí
tuệ Việt Nam giai đoạn 2005-2007 tại địa bàn Hà Nội
2.1/ Hệ thống các văn bản Luật và dưới luật liên quan đến quản lý SHTT nhãn
hiệu hàng hóa

xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký. Như vậy cũng như
quyền sở hữu công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa chỉ được công nhận và xác lập quyền
sở hữu trí tuệ khi nó được đăng kí bảo hộ tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
như Cục Sở hữu trí tuệ, tuân theo quy định tại luật SHTT và các điều ước quốc tế Việt
Nam tham gia như Thỏa ước Marid về đăng kí quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, Công ước
23
Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp... Nếu nhãn hiệu hàng hóa không đăng kí hoặc
đăng kí chậm thì nhãn hiệu đó mất quyền bảo hộ SHTT; bị loại trừ không được tồn tại
và lưu hành trong các hoạt động kinh tế và xã hội. Như vậy bộ luật nhấn mạnh vào
điều kiện để một nhãn hiệu hàng hóa được bảo hộ sở hữu trí tuệ là phải đăng kí đầu
tiên và có đầy đủ điều kiện để thẩm định nhãn hiệu theo quy định của pháp luật. Điều
này nghe có vẻ không phức tạp nhưng trên thực tế do sự thiếu hiểu biết và không nắm
được luật mà có cá nhân doanh nghiệp bị thiệt hại rất lớn. Điển hình là các nhãn hiệu
của Việt Nam bị mất quyền bảo hộ quốc tế hay bị kiện vì vi phạm quyền sở hữu trí
tuệ. Trong điều 6 này có một thuật ngữ không phải ai cũng hiểu rõ đó là ”nhãn hiệu
nổi tiếng”. Theo giải thích từ ngữ trong bộ luật có ghi” Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn
hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam”. Tuy nhiên
để hiểu rõ nhãn hiệu khi nào trở thành nhãn hiệu nổi tiếng cần có những tiêu chí như
đánh giá như :(Theo điều 75 trong bộ luật này)
Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua mua bán sử
dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo
Phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành
Doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số
lượng hàng hóa đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp
Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu
Uy tín rộng rãi của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu;
Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;
Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu nổi tiếng;
Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị gop vốn đầu tư cảu
nhãn hiệu.

25

Trích đoạn Một số nghị định, thông tư liên quan đến SHTT nhãn hiệu Yếu tố vi phạm đối với nhãn hiệu hàng hoá, kể cả nhãn hiệu nổi tiếng, và tên gọi xuất xứ hàng hoá có thể thuộc một trong hai dạng sau đây: Một số hiệp ước quốc tế liên quan đến SHTT nhãn hiệu hàng hóa */ Hiệp ước marid Hệ thống quản trị sở hữu công nghiệp-IPAS
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status