Quản lý nhà nước đối với hoạt động cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế thị trường ở việt nam - Pdf 30

Quản lý Nhà nước đối với hoạt động cạnh tranh
không lành mạnh trong nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam

Nguyễn Thành Hải

Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS chuyên ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Quốc Việt
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Phân tích làm sáng tỏ khái niệm, nội dung chủ yếu của các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh (CTKLM) trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
(XHCN). Nghiên cứu, tìm hiểu về môi trường thể chế và các công cụ quản lý hoạt động
CTKLM . Khái quát thực trạng vi phạm của doanh nghiệp và công tác quản lý của Nhà
nước đối với hoạt động cạnh tranh không lành mạnh tại Việt nam hiện nay. Nghiên cứu
những điển hình trong việc tạo dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh thông qua
việc kiểm soát các hành vi CTKLM trên thế giới có so sánh với Việt Nam. Đề xuất các
gợi ý chính sách để quản lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt nam cả về mặt
pháp luật, thể chế, tuyên truyền giáo dục,

Keywords: Kinh tế chính trị; Quản lý nhà nước; Cạnh tranh không lành mạnh; Kinh tế
thị trường; Việt Nam Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, và chủ trương của Nhà nước cho
phép nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển đã chứng minh cho thấy hiệu quả đúng

tranh không lành mạnh, tuy nhiên, những tài liệu nghiên cứu này hoặc là chỉ đề cập đến khía
cạnh pháp luật của những hành vi liên quan đến hạn chế cạnh tranh hoặc nếu có đề cập đến hành
vi CTKLM thì cũng ở mức khái quát, chưa có những phân tích, bình luận chuyên sâu mang tính
toàn diện về bức tranh tổng thể về thực trạng CTKLM ở Việt Nam hiện thời. Các đề xuất chủ
yếu liên quan đến pháp Luật Cạnh tranh nói chung, chưa có những đề xuất tổng thể mang tính
chuyên sâu liên quan đến cơ chế tạo dựng môi trường trường thực thi có hiệu quả để chống hành
vi CTKLM ở Việt Nam.
Từ việc đánh giá tình hình nghiên cứu môi trường về cạnh tranh không lành mạnh ở Việt
Nam, cho thấy chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệ
thống các vấn đề lý luận, thực trạng môi trường và cơ chế bảo đảm kiểm soát có hiệu quả hành vi
CTKLM và đưa ra những đề xuất cho việc sửa đổi những quy phạm pháp luật hiện hành cũng
như sửa đổi liên quan tới thể chế, công cụ thực thi đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế thị trường có
nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự hình thành và
phương hướng hoàn thiện việc quản lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong bối cảnh nền
kinh tế thị trường ở Việt nam.
Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Phân tích làm sáng tỏ khái niệm, nội dung chủ yếu của các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN;
- Nghiên cứu, tìm hiểu về môi trường thể chế và các công cụ quản lý hoạt động CTKLM;
- Khái quát thực trạng vi phạm của doanh nghiệp và công tác quản lý của Nhà nước đối
với hoạt động cạnh tranh không lành mạnh tại Việt nam hiện nay;
- Nghiên cứu những điển hình trong việc tạo dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh
thông qua việc kiểm soát các hành vi CTKLM trên thế giới có so sánh với Việt Nam;
- Đề xuất các gợi ý chính sách để quản lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt
nam cả về mặt pháp luật, thể chế, tuyên truyền giáo dục,
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn này tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn, các chính sách, khuôn khổ luật

Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại Việt
Nam trong thời kỳ 2006-2011
Chương 3: Phương hướng và giải pháp quản lý hành vi CTKLM trong bối cảnh nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam

Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý Nhà nước về hoạt động cạnh tranh không lành mạnh
1.1 Khái niệm và nhận diện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Hiện nay, trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về CTKLM trong đó quan niệm phổ biến
nhất cho rằng CTKLM là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái
với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến
lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh khác hoặc người tiêu
dùng.
Quan niệm thứ 3 về CTKLM cũng là quan niệm được quy định tại Luật Cạnh tranh 2004 của
Việt Nam (khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh2004). Đây cũng là quan niệm theo tác giả là phù hợp
và được sử dụng trong luận án này để từ đó có cách hiểu thống nhất về pháp luật chống CTKLM
và trong các chương tiếp theo của luận văn.
- Nhóm hành vi trực tiếp xâm hại lợi ích của đối thủ cạnh tranh, gồm các hành vi sau:
+ Ngăn cản: Ngăn cản đối thủ khác trong quá trình cạnh tranh là loại hành vi CTKLM khá phổ
biến. Các doanh nghiệp bị ngăn cản ở đây là những thành viên hiệu hữu, những doanh nghiệp
đang tồn tại trong một loại thị trường hàng hoá, dịch vụ hay thị trường liên quan.
Hành vi ngăn cản đối thủ cạnh tranh được thực hiện chủ yếu thông qua thủ thuật bán phá giá.
Pháp luật chống CTKLM dưới dạng chống bán phá giá chủ yếu thông qua việc quy định cấm bán
hàng dưới giá vốn trong điều kiện bình thường. Như vậy, pháp luật cũng cho phép các doanh
nghiệp bán hàng dưới giá vốn trong một số trường hợp được coi là không bình thường như:
Hàng có nguy cơ hư hỏng nhanh do điều kiện ngoại cảnh bất thường; Bán hàng dọn kho do thay
đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh; Hàng hoá thuộc tài sản phá sản; Các hoạt động khuyến mại
thông qua việc hạ giá sản phẩm trong những điều kiện cụ thể và ở mức độ nhất định.
Ngoài ra, thuộc nhóm hành vi ngăn cản đối thủ còn bao gồm hành vi tẩy chay, thâu tóm
khách hàng của đối thủ cũng được pháp luật chống CTKLM điều chỉnh.
+ Dèm pha bôi nhọ đối thủ: Biểu hiện của loại hành vi này là: bôi nhọ, tung tin nói xấu, lăng

quen mua hàng được khuyến mại trở thành phản xạ có điều kiện, khách hàng sẽ ít để ý đến chất
lượng của sản phẩm. Tính không lành mạnh và sự nguy hiểm của khuyến mại chính là ở chỗ nó
làm tạo những bất lợi cho người tiêu dùng, tạo thiệt thòi cho người tiêu dùng và đồng thời làm
méo mó nhu cầu của thị trường.
Thực tế còn có nhiều hiện tượng hỗ trợ thương mại khác nhưng không được coi là khuyến mại
như: Hỗ trợ về điều kiện tín dụng; một số bảo đảm đặc biệt liên quan đến bảo hành; giảm giá
trong những điều kiện và mức độ nhất định; sản phẩm hay dịch vụ phụ có giá trị không đáng kể
và những phụ tùng, phụ kiện được cấp kèm theo như trong thông lệ thương mại,
+ Quảng cáo sai lệch: Quảng cáo, đưa tin không trung thực về mọi dữ liệu liên quan đến hàng
hoá và phương thức, điều kiện thương mại là hành vi CTKLM rất phổ biến. Dữ liệu về sản phẩm,
hàng hoá được hiểu ở đây là mọi hình thức mô tả về hàng hoá và những điều kiện bán hàng, tồn
tại dưới dạng hình ảnh, chữ viết hay các hình thức khác.
Hành vi quảng cáo sai lệch nhằm lừa dối khách hàng là hành vi CTKLM được pháp Luật Cạnh
tranh của nhiều nước quy định.

1.2 Khái niệm Quản lý Nhà nước đối với hoạt động CTKLM
Theo cách hiểu chung nhất thì quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền
lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà
nước được xem là một hoạt động chức năng đặc biệt của Nhà nước trong quản lý xã hội bao
gồm toàn bộ hoạt động của bộ máy Nhà nước từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp
cho tới hoạt động tư pháp.
Từ cách hiểu này, quản lý Nhà nước đối với hoạt động CTKLM được hiểu là sự tác động
có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các hoạt động của doanh nghiệp để
duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, qua đó tạo dựng môi trường
cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng cho các doanh nghiệp hoạt động, đồng thời hướng tới bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng.

1.3 Vai trò quản lý của Nhà nước đối với hoạt động cạnh tranh không lành mạnh trong nền
kinh tế thị trường
Một chức năng quan trọng của Nhà nước trong quá trình thực hiện điều tiết nền kinh tế thị

lành mạnh trong một đạo luật về thương mại hay cạnh tranh. Đồng thời, trong nhiều năm gần
đây, đã có những nỗ lực để thống nhất các quy định về cạnh tranh không lành mạnh giữa các
nước thành viên EU trong khuôn khổ chương trình hài hoà hoá pháp luật chung của Cộng đồng
châu Âu. Dựa trên Công ước Paris về Bảo hộ Sở hữu Công nghiệp, các quốc gia châu Âu đã phát
triển các quy định chung theo nhiều hình thức, cấp độ, từ các nguyên tắc cơ bản về cạnh tranh tại
Hiệp ước Ro me 1957 đến những thoả thuận nhóm như Luật Nhãn hiệu chung của khối Benelux
1971 và những hướng dẫn chung từ EC đến các nước thành viên
1.5.2 Quản lý hoạt động cạnh tranh không lành mạnh tại Hoa Kỳ
Mặc dù đã phát triển hệ thống các quy định về hạn chế cạnh tranh từ rất lâu (Luật
Sherman - 1890), các quy định về cạnh tranh không lành mạnh của Hoa Kỳ lại tương đối phân
tán. Các nhà lập pháp của Hoa Kỳ kết hợp cả hai cách tiếp cận của châu Âu trong việc quản lý
các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh, sử dụng các các quy định chung về bồi thường thiệt
hại dân sự cũng như một số quy định chuyên ngành, và thậm chí có sự khác biệt giữa pháp luật
liên bang và pháp luật các tiểu bang.

1.5.3 Quản lý hoạt động cạnh tranh không lành mạnh tại châu Á
Việc quản lý cạnh tranh không lành mạnh của các quốc gia, vùng lãnh thổ trong khu vực
như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan có những nét tương đồng và chịu ảnh hưởng của Hoa Kỳ.
Điểm đặc biệt trong pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh của các quốc gia, vùng lãnh thổ
này là sự tồn tại song song hai hệ thống quy định về cạnh tranh không lành mạnh, một hệ thống
gắn liền với pháp luật về sở hữu trí tuệ, một hệ thống nằm trong khuôn khổ pháp luật cạnh tranh.
1.5.4 Quản lý hoạt động cạnh tranh không lành mạnh tại các quốc gia có nền kinh tế
chuyển đổi
Đối với các quốc gia chuyển đổi từ hệ thống tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường,
quá trình quản lý các hành vi cạnh tranh nói chung và hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói
riêng có những đặc thù riêng nhằm đảm bảo các đối tượng liên quan, bao gồm cả doanh nghiệp
và các cơ quan quản lý có điều kiện làm quen và thích ứng với các hoạt động thị trường trong
môi trường mới.
Nhận xét chung về kinh nghiệm quốc tế trong việc quản lý hoạt động CTKLM.
Qua phân tích các mô hình quản lý hoạt động cạnh tranh không lành mạnh tại Hoa Kỳ, châu Âu,

Cục Quản lý cạnh tranh của Việt Nam được thiết lập là một đơn vị thuộc Bộ (Trước đây là Bộ
Thương mại, nay là Bộ Công Thương) thực hiện chức năng thống nhất quản lý Nhà nước về
CTKLM. Cơ quan này có thể thực hiện các hoạt động điều tra và xử phạt đối với hành vi
CTKLM.
2.2.2 Các cơ quan quản lý chuyên ngành khác
- Cục Sở hữu trí tuệ, Cục Sở hữu trí tuệ, cơ quan này đã đánh giá và cho ý kiến chuyên môn
về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ căn cứ theo đề nghị
của các cơ quan, tổ chức liên quan. Cần lưu ý Cục Sở hữu trí tuệ là cơ quan quản lý nhà nước
trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tuy nhiên cơ quan này không có chức năng xử lý vi phạm.
- Thanh tra khoa học công nghệ: Đây là cơ quan trực thuộc Bộ Khoa học Công nghệ, hoạt
động của cơ quan này trong thời gian vừa qua tập trung vào các hành vi xâm phạm quyền, số
lượng vụ việc cạnh tranh không lành mạnh không nhiều.

- Lực lượng Quản lý thị trường: Lực lượng quản lý thị trường bao gồm các cơ quan quản lý thị
trường từ Trung ương tới địa phương như Cục Quản lý thị trường trực thuộc Bộ Công Thương
và các chi cục quản lý thị trường tại các địa phương. Đây là lực lượng chịu trách nhiệm chính
trong việc kiểm tra và xử lý gian lận thương mại và các vi phạm khác trong hoạt động thương
mại trên thị trường.

2.3 Thực trạng công tác phát hiện và xử lý các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh tại
Việt Nam trong giai đoạn 2006-2011
2.3.1. Thực trang vi phạm CTKLM qua các số liệu thống kê
Số lượng các vụ việc vi phạm pháp luật về CTKLM đã tăng lên rất nhanh trong thời gian từ
năm 2006 tới nay. Điều này được thể hiện trong số lượng vụ việc mà cơ quan quản lý cạnh tranh
đã phát hiện và xử lý. Từ 7 vụ việc năm 2006 tăng lên 118 vụ năm 2010 và 156 vụ năm 2011.
Trong đó, riêng năm 2011, Cục Quản lý cạnh tranh ra quyết định xử lý vụ việc đối với 30 vụ
việc (trong đó có 06 vụ việc đã bắt đầu điều tra từ năm 2010), thu về ngân sách nhà nước với
tổng số tiền phạt và phí xử lý vụ việc cạnh tranh là 1.425.000.000 VNĐ (Một tỷ bốn trăm hai
mươi lăm triệu đồng)
2.3.2. Một số vụ việc vi phạm điển hình sau khi Luật cạnh tranh có hiệu lực (2006-nay)

hoạt động như ban hành chính sách, luật pháp và xây dựng hệ thống các cơ quan liên quan nhằm
quản lý và xử phạt các hành vi này.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp quản lý hoạt động CTKLM trong bối cảnh nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam
3.1. Bối cảnh mới của nền kinh tế thị trường có tác động tới hành vi cạnh tranh không
lành mạnh tại Việt Nam
3.1.1 Quan điểm của Nhà nước về chống cạnh tranh không lành mạnh trong cơ chế thị
trường
Quan điểm của Đảng và Nhà nước là tăng cường chống các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh, song song với việc thực hiện các biện pháp bảo đảm quyền bình đẳng của các chủ thể kinh
tế. Chính vì vậy, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh đã được coi là bộ phận
cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Quan
điểm này được cụ thể hóa thành các quy định pháp luật sinh động và được đánh giá là phù hợp
với thực tiễn phát triển kinh tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
3.1.2 Những tác động của các thành phần kinh tế tới môi trường cạnh tranh bình đẳng,
lành mạnh tại Việt Nam trong thời gian qua
Quan điểm của Đảng trong việc đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh đồng thời xác
định vai trò quan trọng của kinh tế nhà nước là tôn trọng cạnh tranh bình đẳng theo cơ chế thị
trường.
Việc đặt các doanh nghiệp có vốn nhà nước vào môi trường hợp tác và cạnh tranh bình đẳng
với các doanh nghiệp khác để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh. Thu hẹp tối đa diện Nhà
nước độc quyền kinh doanh, xoá bỏ đặc quyền kinh doanh của doanh nghiệp. Có cơ chế giám sát
và chính sách điều tiết đối với những doanh nghiệp chưa xoá bỏ được vị thế độc quyền kinh
doanh. Chỉ thành lập mới doanh nghiệp nhà nước khi hội đủ các điều kiện và trong những lĩnh
vực sản xuất, cung ứng những sản phẩm, dịch vụ thật cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội và
chủ yếu dưới hình thức công ty cổ phần.

3.2 Giải pháp quản lý các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh trong bối cảnh nền
kinh tế thị trường tại Việt Nam

lành mạnh, tác giả đã làm rõ những mặt được và những vấn đề bất cập còn tồn tại trong môi
trường quản lý hoạt động này tại Việt Nam trong thời gian từ năm 2005-2011, đặc biệt đặt trong
bối cảnh Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Môi trường chính sách luật pháp đã được hoàn thiện đáng kể kể từ năm 2005 với rất nhiều
các văn bản hướng dẫn thi hành đã được ban hành. Tuy nhiên nếu xét về nội dung các văn bản
này thì còn những thiếu sót và chưa hoàn thiện đòi hỏi Nhà nước phải rà soát và sửa đổi bổ sung
để bắt kịp với đòi hỏi mới của nền kinh tế.
Hệ thống các cơ quan nhà nước liên quan tới việc quản lý hoạt động CTKLM đã hình thành
rõ nét trong đó cơ quan chủ yếu thực thi công tác này là Cục Quản lý cạnh tranh.
Công tác tuyên truyền, phổ biến, vận động doanh nghiệp thực thi theo đúng các quy định của
luật pháp được tiến hành đã được Nhà nước chú trọng và thực thi khá hiệu quả đã góp phần rất
tích cực vào việc lành mạnh hóa môi trường cạnh tranh trong những năm vừa qua.
Cũng từ những kết quả nghiên cứu về thực trạng, tác giả đã đề xuất một định hướng tổng
quát, chứa đựng những giải pháp cơ bản, đặt trong mối quan hệ so sánh, trên cơ sở tiếp thu có
chọn lọc kinh nghiệm của một số nước để tạo dựng môi trường chống cạnh tranh không lành
mạnh.
Những giải pháp đề xuất cụ thể bao gồm cả những giải pháp mang tính vĩ mô và vi mô như:
bổ sung, sửa đổi một số quy định liên quan đến chủ thể áp dụng, bổ sung một số hành vi cạnh
tranh vào nhóm hành vi thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật chống cạnh tranh không lành
mạnh; hoàn thiện một số quy định về bán hàng đa cấp, bán hàng đa cấp bất chính trong pháp luật
về cạnh tranh và một số quy định về trình tự, thủ tục xử lý đối với các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh.
Bên cạnh đó là một số giải pháp có tính vi mô được đưa ra liên quan đến việc xây dựng đạo
đức kinh doanh, nâng cao hiểu biết, khả năng tự bảo vệ của doanh nghiệp, của người tiêu dùng;
cho đến công tác tuyên truyền phổ biến, nâng cao nhận thức của các chủ thể về pháp Luật Cạnh
tranh nói chung, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh nói riêng.
Tác giả hiện đang công tác tại Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thương - một cơ quan quản
lý trực tiếp đối với hoạt động CTKLM, thường xuyên tiếp cận với công tác quản lý của các cơ
quan/bộ/ngành liên quan đã thực sự cố gắng nghiên cứu, thu thập, tổng hợp số liệu, từ đó góp
thêm ý kiến cá nhân của mình trong việc tạo dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình

14. Đặng Vũ Huân (2004), Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống CTKLM ở Việt Nam,
Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội.
15. Trần Đình Hảo (2001), Pháp luật về cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Cạnh tranh và xây dựng
pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay, Nxb công an nhân dân, Hà Nội.
16. Nguyễn Hữu Huyên (2004), Luật cạnh tranh của Pháp và liên minh châu Âu, Nxb Tư
pháp, Hà Nội.
17. Trịnh Duy Huy (2003), Vai trò của đạo đức kinh doanh và việc xây dựng đạo đức kinh
doanh ở nước ta hiện nay, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội.
18. Bùi Nguyên Khánh (2004), “Hiện đại hoá Luật CTKLM của CHLB Đức trên nền tảng của
quá trình hài hoà hoá pháp luật về CTKLM của liên minh Châu Âu”, Tạp chí Nhà nước và pháp
luật, số 11/2004.
19. Phùng Trung Lập (2004), Các yếu tố của quyền sở hữu trí tuệ, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
20. Nguyễn Duy Lãm và các tác giả (2002), Báo cáo đánh giá nhu cầu phát triển hệ thống
thông tin pháp luật và công tác phổ biến giáo dục pháp luật đến năm 2010 tại Việt Nam, Hà Nội.
21. Khánh Ngọc (2005), “Vụ kiện giải thưởng khuyến mãi: LG Vina Cosmetics thua kiện”,
Báo tuổi trẻ, (9), tr.4.
22. Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh (2001), Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh
trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
23. Nguyễn Như Phát (2001), Pháp luật chống CTKLM, Cạnh tranh và xây dựng pháp luật
cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay, Nxb công an nhân dân, Hà Nội.
24. Nguyễn Như Phát (2003), Báo cáo tổng hợp đề tài xây dựng thể chế cạnh tranh thị trường
của Việt Nam, Bộ Thương mại.
25. Nguyễn Như Phát, Lê Anh Tuấn (2006), “Một số quy định về tố tụng cạnh tranh theo Luật
cạnh tranh Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (1), tr.5.
26. Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Phân tích và luận giải các quy định của Luật
cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh
tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
27. Đoàn Tử Tích Phước (2009), “Chế định CTKLM trong pháp luật cạnh tranh”, Bài viết
tham dự Tọa đàm “Chế định CTKLM trong pháp luật cạnh tranh”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status