Tiểu luận môn Ngân sách Nhà nước
CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở
VIỆT NAM GVHD : TS. Nguyễn Thanh Dương
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 5
1. Phạm Thị Kim Oanh
2. Nguyễn Thị Phương
3. Trần Khánh Sang
4. Trần Thị Mộng Tâm
5. Đào Quý Kiên Tâm
6. Dương Thị Thu Thảo
7. Nguyễn Thị Thanh Thảo
8. Đỗ Đình Thi
KHOA : Tài chính ngân hàng
LỚP : Cao học khoá 10
TP.HỒ CHÍNH MINH, THÁNG 03 NĂM 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA T.P HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
1985
2
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NSNN : Ngân sách nhà nước
NSTW : Ngân sách trung Ương
NSĐP : Ngân sách đại phương
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DNTN : Doanh nghiệp tư nhân
THUẾ TNDN : Thuế Thu nhậpp doanh nghiệp
THUẾ TNCN : Thuế Thu nhập cá nhân
THUẾ TTĐB : Thuế tiêu thụ đặc biệt
XNK : Xuất nhập khẩu
GTGT : Giá trị gia tăng
TP.HCM : thành phố Hồ Chí Minh
VN : Việt Nam
XDCB : Xây dựng cơ bản
1.4.4 Quan điểm về ngân sách duy nhất và hai ngân sách........................................................ 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2001-2010 ......................................................................................................................... 22
2.1 Thực trạng Cân đối NSNN của VN trong giai đoạn 2001-2010 ............................................ 22
2.1.1 Thực trạng thu ............................................................................................................... 22
2.1.2 Thực trạng chi .......................................................................................................... 30
2.1.3 Thực trạng Cân bằng ngân sách trong giai đoạn 2001-2010............................................ 38
2.2 Nhận xét về ưu nhược điểm của cân đối NSNN Việt Nam giai đoạn 2001-2010 .............. 43
2.2.1 Ưu điểm: ....................................................................................................................... 43
2.2.2 Nhược điểm: ................................................................................................................. 44
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH GIAI ĐOẠN 2011-2015 VÀ MỘT SỐ
NHẬN ĐỊNH VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CỦA VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG .......................................................... 46
3.1 Định hướng cân đối ngân sách giai đoạn 2011-2015 ............................................................. 46
3.2 Kiến nghị về cân đối NSNN trong giai đoạn 2011 – 2015 ..................................................... 51
3.3 Hoàn thiện cân đối NSNN trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam ..................................... 52
3.3.1 Trong điều kiện bình thường .......................................................................................... 52
3.3.2 Trong điều kiện lạm phát cao. ........................................................................................ 59
4
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Về lý luận: tìm hiểu sâu hơn những khái niệm, lý luận có liên quan đến Cân đối NSNN
trong nền kinh tế thị trường.
- Về thực tiễn: Tìm hiểu thực trạng và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện Cân đối
NSNN tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thu chi ngân sách nhà nước, biện pháp cân đối NSNN
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong cân đối NSNN của Việt Nam trong giai đoạn 2006-
2010 và định hướng cho giai đoạn 2011-2015.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn và phương pháp thảo luận nhóm. Các số liệu được
sử dụng trong đề tài là nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn: các báo, tạp chí
kinh tế, internet, các luận văn thạc sĩ…
6. KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Một số lý luận chung về Ngân sách nhà nước.
Chương 2: Thực trạng cân đối ngân sách nhà nước của Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010
và định hướng cho giai đoạn 2011-2015
Chương 3: Một số nhận định và kiến nghị nhằm hoàn thiện Cân đối ngân sách nhà nước của
Việt Nam trong nền kinh tế thị trường.
6
7
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
nước theo các dự toán kinh phí. Trong cơ chế kinh tế thị trường hiện nay các đơn vị thuộc
lĩnh vực sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế bằng hoạt động của mình họ có nguồn thu dưới
hình thức phí, lệ phí. Nguồn thu này một phần các đơn vị văn hóa, giáo dục, y tế làm nghĩa
vụ tài chính đối với ngân sách (thuế), một phần trang trải các khoản chi tiêu của mình để
giảm bớt gánh nặng cho ngân sách.
♦ Thứ ba: Quan hệ kinh tế giữa ngân sách nhà nước với hộ gia đình và dân cư. Một bộ
phận dân cư làm nghĩa vụ tài chính với nhà nước thông qua các khoản thuế, phí, lệ phí. Một
bộ phận dân cư khác nhận từ ngân sách nhà nước các khoản trợ cấp xã hội theo chính sách
quy định.
♦ Thứ tư: Quan hệ kinh tế giữa ngân sách nhà nước với thị trường tài chính. Xuất phát
từ chính sách tài chính - tiền tệ, từ cung cầu về vốn trên thị trường, nhà nước có thể tham gia
trên thị trường tài chính bằng việc phát hành các loại chứng khoán của kho bạc nhà nước (tín
phiếu, trái phiếu, chứng từ đầu tư) nhằm huy động vốn của tất cả các chủ thể trong xã hội
đáp ứng yêu cầu cân đối vốn của ngân sách nhà nước. Nhà nước tham gia góp vốn cổ phần,
góp vốn liên doanh hoặc cho các đơn vị kinh tế vay dưới hình thức tín dụng nhà nước.
Như vậy, NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các
nguồn tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm
thực hiện các chức năng của nhà nước.
Chức năng của ngân sách nhà nước.
Là một phạm trù kinh tế chứa đựng các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trinh phân phối,
NSNN thực hiện hai chức năng: chức năng phân phối và chức năng giám đốc.
Chức năng phân phối
Chức năng phân phối của NSNN phản ánh sự phân chia tổng sản phẩm quốc dân theo những
tỷ lệ và xu hướng nhất định cho tiết kiệm và tiêu dùng nhằm tích tụ, tập trung vốn để đầu tư
bất kỳ chế độ xã hội và cơ chế kinh tế nào, NSNN đều phải thực hiện và phát huy.
Vai trò điều tiết, quản lý vĩ mô nền kinh tế xã hội của NSNN. Đây là vai trò của NSNN
được xuất phát từ những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể trong một gian đoạn phát triển nhất
định. Thay đổi cơ chế kinh tế ở nước ta hiện nay đã tác động trực tiếp đến NSNN và được
thể hiện ở hai mặt: thay đổi cơ cấu thu và chi của ngân sách nhà nước; thay đổi vai trò và
nhiệm vụ của NSNN trong nền kinh tế, đặc biệt là thay đổi phương pháp cấp phát tài chính
cho các nhu cầu của doanh nghiệp. Nhà nước sử dụng NSNN là công cụ để điều tiết quản lý
vĩ mô nền kinh tế - xã hội theo ba nội dung cơ bản:
9
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
• Kích thích sự tăng trưởng kinh tế theo định hướng kinh tế xã hội.
• Điều tiết thị trường giá cả, chống lạm phát.
• Điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư trong xã hội.
1.2 Khái quát về Cân đối NSNN
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của Cân đối NSNN
Khái niệm về cân đối Ngân sách Nhà nớc
Cân đối NSNN là tổng hợp các khoản thu và chi của NSNN trong một thời kỳ (thường là một
năm) và nguồn bù đắp thiếu hụt hoặc sử dụng kết dư của NSNN. Qua khái niệm nói trên, có
thể hiểu cân đối NSNN theo các nội dung cơ bản sau:
• Cân đối NSNN là cân đối về mặt giá trị, nó phản ánh nguồn lực tài chính được tập trung
dưới sự quản lý của Nhà nước và dùng để phân phối cho các nhu cầu chi tiêu theo những
mục tiêu nhất định.
• Cân đối thu chi NSNN được xác định trên cơ sở thực thu, thực chi ngân sách; thu chi
NSNN bao gồm những yếu tố nào, khoản mục nào, đối tượng phạm vi ra sao thì đối với mỗi
quốc gia cũng có sự khác biệt nhất định, song một nguyên tắc chung đó là trên cơ sở thực tế
có phát sinh.
điểm tài chính lớn của nền kinh tế. Cân đối thu chi NSNN có ảnh hưởng trực tiếp đến sự
phát triển kinh tế của đất nước.
Thông qua cân đối Ngân sách Nhà nước, Nhà nước đưa ra các chính sách tài chính trong
từng thời kỳ và sử dụng quyền lực tài chính của mình để điều tiết thu nhập xã hội, phục
hưng và phát triển kinh tế. Đồng thời thông qua đó Nhà nước thực hiện việc kiểm kê,
kiểm soát các hoạt động kinh tế – xã hội nhằm đảm bảo thực hiện đúng pháp luật và đảm
bảo mục tiêu phát triển kinh tế ở tầm vĩ mô.
1.2.2 Vai trò của Cân đối NSNN trong nền kinh tế thị trường
Cân đối NSNN được bắt đầu từ việc quyết định vai trò của nhà nước, và nó là công cụ để
can thiệp vào hoạt động kinh tế – xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, cân đối NSNN có các
vai trò sau đây:
Cân đối ngân sách nhà nước góp phần ổn định kinh tế vĩ mô
Kinh tế học vĩ mô chỉ ra rằng, cân đối NSNN là một trong ba cân đối quan trọng của nền
kinh tế. Để ổn định kinh tế vĩ mô, ba cân đối này phải đảm bảo:
(S-I) + (T-G) = (X-M)
=> (G - T) = (S-I) + (M-X) (1)
11
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
Trong đó: S là tiết kiệm của khu vực tư nhân; I là đầu tư của khu vực tư nhân; T là thu
NSNN; G là chi tiêu NSNN; X là kim ngạch xuất khẩu và M là kim ngạch nhập khẩu. Từ
công thức (1) ta thấy một trong ba cân đối này không được kiểm soát tốt sẽ ảnh hưởng đến
các cân đối còn lại. Và, chính sách cân đối NSNN thông qua chính sách thuế, chính sách chi
tiêu và quyết định mức bội chi NSNN hàng năm hoàn toàn có thể tác động đến tiết kiệm và
đầu tư của khu vực tư cũng như cán cân thương mại quốc tế. Từ đó, góp phần thực hiện
được các mục tiêu của chính sách ổn định kinh tế vĩ mô như: tăng trưởng GDP thực ở tốc độ
cao và ổn định; tỷ lệ thất nghiệp thực tế được giữ ở mức thất nghiệp tự nhiên; lạm phát được
thiếu hụt ngân sách và tài trợ cho những chương trình, dự án lớn có tính hiệu quả và khả thi
nhằm phục hồi nền kinh tế. Tuy nhiên, việc phát hành trái phiếu chính phủ phải được đặt
trong một khuôn khổ quản lý nợ công hợp lý để giảm thiểu những tác động tiêu cực của nó
đến tiết kiệm và đầu tư của khu vực tư.
Cân đối ngân sách nhà nước góp phần phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính có
hiệu quả
Thật ra, quan hệ giữa cân đối NSNN và phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính có hiệu quả là
mối quan hệ nhân quả liên hoàn. Cân đối NSNN góp phần phân bổ, sử dụng nguồn lực tài
chính có hiệu quả. Ngược lại, phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính hiệu quả sẽ giúp cho cân
đối NSNN kỳ sau thuận lợi hơn. Cân đối NSNN có thể góp phần phân bổ và sử dụng nguồn
lực hiệu quả ngay từ khi lập dự toán NSNN bằng cách lựa chọn trình tự ưu tiên hợp lý trong
phân bổ NSNN và sự gắn kết chặt chẽ giữa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội với công tác
lập kế hoạch ngân sách.
Cân đối ngân sách nhà nước góp phần đảm bảo công bằng xã hội, giảm thiểu sự
bất bình đẳng giữa các địa phương.
Nước ta với mỗi một vùng lại có một điều kiện kinh tế- xã hội khác nhau, có những vùng
điều kiện kinh tế- xã hội rất khó khăn làm ảnh hưởng đến thu nhập và chất lượng cuộc sống
của người dân, có những vùng điều kiện kinh tế- xã hội thuận lợi, phát triển làm cho thu
nhập và cuộc sống của người dân được nâng lên. Vì vậy cân đối NSNN sẽ đảm được sự
công bằng, giảm thiểu sự bất bình đẳng giữa người dân và các vùng miền. Nhà nước có thể
huy động nguồn lực từ những người có thu nhập cao, những vùng có kinh tế phát triển để hỗ
trợ, giúp đỡ những người nghèo có thu nhập thấp và những vùng kinh tế kém phát triển. Bên
cạnh đó, cân đối NSNN góp phần phát huy lợi thế của từng địa phương, tạo nên thế mạnh
13
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
kinh tế cho địa phương đó dựa trên tiềm năng có sẵn của địa phương.
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
Phí là khoản thu nhằm thu hồi chi phí đầu tư cung cấp các dịch vụ công cộng không
thuần túy theo quy định của pháp luật và là khoản tiền mà các tổ chức, cá nhân phải trả
khi sử dụng các dịch vụ công cộng đó. Thu phí sẽ làm tăng thu nhập cho NSNN, từ đó làm
tăng khả năng đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất hàng hóa và các dịch vụ công cộng, đảm bảo
công bằng xã hội. Các khoản thu từ phí cũng có thể là những khoản thu đưa vào NSNN,
cũng có thể là những khoản thu để lại cho các đơn vị thu sử dụng. Đối với các khoản thu về
cho NSNN, đây là một trong những nguồn thu quan trọng của các cấp ngân sách và được
đưa vào cân đối chung của ngân sách các cấp.
Lệ phí là những khoản thu gắn liền với việc cung cấp các dịch vụ hành chính pháp lý của
nhà nước cho các cá nhân và tổ chức nhằm phục vụ cho công việc quản lý hành chính
nhà nước theo quy định của pháp luật. Khoản tiền này không phải là giá dịch vụ mà là
khoản thu phục vụ cho yêu cầu quản lý của nhà nước. Chỉ có một số cơ quan thuộc bộ máy
nhà nước mới được phép thu lệ phí và phải được quy định cụ thể trong văn bản pháp luật
hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Lệ phí là nguồn thu nộp hoàn toàn vào ngân sách
nhà nước và là nguồn thu thường xuyên của ngân sách các cấp.Vì vậy thu lệ phí được bố trí
trong cân đối thu chi của ngân sách các cấp, đảm bảo cho nhu cầu chi bình thường của ngân
sách cấp đó.
Các khoản thu ngoài thuế, phí và lệ phí
Ngoài nguồn thu cơ bản từ thuế, phí và lệ phí thì NSNN còn bao gồm những nguồn thu
khác bổ sung vào ngân sách nhà nước. Những nguồn thu đó không mang tính chất thường
xuyên, ổn định và chỉ là phần đóng góp khá nhỏ vào ngân sách nhà nước nhưng nó cũng
đảm bảo cho Nhà nước có nguồn vốn để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra, góp
phần cân đối giữa hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước.
Thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước: Bao gồm tiền thu hồi vốn của nhà nước tại các
cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của nhà nước đối với các tổ chức và cá nhân, thu nhập
Chi đầu tư phát triển của NSNN là quá trình nhà nước sử dụng một phần vốn tiền tệ đã
được tạo lập thông qua hoạt động thu của NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế,
xã hội, phát triển sản xuất và để dự trữ vật tư hàng hóa nhà nước nhằm thực hiện các mục
tiêu ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế.
Chi đầu tư phát triển là khoản chi quan trọng nhưng không mang tính ổn định. Khoản chi
này tạo ra nguồn tài sản cố định, năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế. Chi đầu tư phát triển
bao gồm những nội dung sau: Chi về đầu tư xây dựng cơ bản; chi để hình thành và bổ sung
vốn lưu động của doanh nghiệp nhà nước; chi cho quỹ dự trữ tài chính; chi bổ sung một
16
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
phần vốn điều lệ của quỹ hổ trợ phát triển để thực hiện các hoạt động tín dụng đầu tư phát
triển,…
Chi thường xuyên
Chi thường xuyên của NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ NSNN để đáp ứng
các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về kinh tế-
xã hội. Hiện nay sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước đã làm cho các khoản chi thường
xuyên tăng lên với nhiều nội dung chi khác nhau như: Các hoạt động sự nghiệp giáo dục,
đào tạo, dạy nghề, y tế,…các hoạt động sự nghiệp kinh tế; các nhiệm vụ về quốc phòng, an
ninh, trật tự an toàn xã hội theo quy định của chính phủ và các văn bản hướng dẫn thực
hiện…; hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam; hoạt động
của các tổ chức chính trị xã hội; hỗ trợ các tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; phần chi thường xuyên trong các chương trình mục tiêu
quốc gia; trợ giá theo chính sách của nhà nước... Các khoản chi này thường mang tính ổn
định.
Các khoản chi khác
Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính: Dự trữ tài chính là nguồn quỹ đặc biệt được dùng để tạm
Khái niệm bội chi ngân sách nhà nước.
Bội chi NSNN được hiểu là chênh lệch giữa tổng số chi và tổng số thu (thu từ thuế và một số
khoản không mang tính chất hoàn trả, không bao gồm các khoản vay) của NSNN.
Nguyên nhân dẫn đến bội chi ngân sách nhà nước
Một nguyên nhân mang tính phổ biến và nổi bật, không chỉ có ở các nước nghèo, các nước
đang phát triển, mà nó còn tồn tại ở các nước có nền kinh tế phát triển, đó là: nhu cầu chi và
thực tế chi của nhà nước cho tiêu dùng không những không thể cắt giảm, mà ngày càng
tăng lên. Trong khi đó việc tăng thu bằng công cụ thuế gặp phải sự chống đối mạnh mẽ từ
mọi phía và hậu quả của tăng thuế lại kèm theo kìm hãm tốc độ tích tụ vốn cho sản xuất, hạn
chế tiêu dùng, tức là dẫn tới khả năng suy thoái kinh tế.
Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước nghèo thì vấn đề bội chi NSNN
dường như không thể tránh khỏi. Điều này bắt nguồn từ: Tình trạnh thu nhập đầu người quá
thấp và không cho phép các chính phủ tăng tỷ trọng động viên từ GDP vào NSNN. Trong
khi đó, các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của chính phủ lại tăng lên. Đặc biệt những dự án
phát triển trong chiến lược phát triển kinh tế thường đòi hỏi nguồn vốn lớn để nhà nước thực
hiện chương trình đầu tư nhằm cải thiện cơ cấu kinh tế và hướng tới sự tăng trưởng.
18
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
Tuy nhiên, bội chi NSNN không phải hoàn toàn tiêu cực. Theo kinh nghiệm thực tiễn kinh
tế thế giới cho thấy nếu bội NSNN ở mức độ nhất định (dưới 5% so với tổng chi ngân
sách nhà nước/năm) là có tác dụng kích thích sản xuất. Những nước có trình độ phát triển
cao người ta vẫn chỉ cố gắng thu hẹp bội chi NSNN chứ chưa loại trừ nó hoàn toàn. Thực
chất bội chi ngân sách là một hiện tượng kinh tế khách quan.
Nguyên tắc quản lý cân đối NSNN.
Một nguyên tắc luôn luôn quán triệt trong việc quản lý cân đối NSNN ở các nước có nền
kinh tế thị trường là phân biệt rạch ròi về ranh giới giữa thu thường xuyên (thu từ thuế và
triển và đảm bảo cân đối NSNN.
♦ Biện pháp đi vay để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước: Là biện pháp được sử dụng ở
hầu hết các nước trên thế giới. Nguồn vay không chỉ để bù đắp thiếu hụt ngân sách, mà
nó còn được sử dụng để cho vay lại hoặc giảm phát. Thông thường đi vay bao gồm:
vay ngân hàng, vay dân và các tổ chức trong xã hội và vay nước ngoài. Ưu điểm của
biện pháp này là đáp ứng được nhu cầu thiếu hụt của NSNN đồng thời góp phần rút bớt
lượng tiền thừa trong lưu thông, trước mắt không có tác dụng làm bùng nổ lạm phát.
Tuy nhiên, vay trong nước hay vay nước ngoài đều phải trả nợ gốc và cả lãi, càng vay
thì gánh nặng về nợ sẽ càng tăng. Nếu về lâu dài sử dụng biện pháp vay nợ để bù đắp
bội chi NSNN thì sẽ gây nhiều áp lực cho chính phủ về nợ và ảnh hưởng nghiêm trọng
đến vấn đề cân đối NSNN, NSNN khó đạt mức cân bằng.
Như vậy, biện pháp sử dụng nguồn vốn vay để bù đắp bội chi NSNN chỉ có tác dụng
tích cực hữu hiệu khi nguồn vốn vay được sử dụng cho mục đích đầu tư phát triển kinh
tế, tuyệt đối không sử dụng vốn vay để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng.
1.4 Các quan điểm về cân đối NSNN
1.4.1 Quan điểm ngân sách cân bằng
Theo trường phái kinh tế học cổ điển, ngân sách phải luôn được giữ cân bằng theo chu kỳ
kinh tế, tức là mỗi năm số thu phải ngang bằng số chi. Nếu số chi vượt số thu, nhà nước phải
tăng thuế, vay nợ hoặc phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt dẫn đến nguy cơ tình trạng nợ
chồng chất, rơi vào lòng lẩn quẩn của lạm phát và suy thoái. Nếu số thu vượt số chi, chứng
tỏ nhà nước đã thu quá mức, số tiền nhà nước thu về một chỗ và không sinh lời, điều đó
kiềm hãm sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
1.4.2 Quan điểm ngân sách chu kỳ
Theo quan điểm này, thì NSNN không nhất thiết phải cân bằng hàng năm mà nên cân bằng
20
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
21
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
Nhận xét:
Mỗi quan điểm về cân đối ngân sách có những khía cạnh, góc độ và thời điểm khác nhau
nhưng đều cùng hướng tới vấn đề là làm sao cho ngân sách được cân bằng và được quản lý
một cách hiệu quả.
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay thì thuyết cổ điển về ngân sách cân bằng không còn
phù hợp nữa vì quá tuyệt đối, chỉ đúng trong bối cảnh nền kinh tế hàng hóa còn sơ khai,
hoặc trong điều kiện nền kinh tế phải rất giàu có, ngân sách có đủ nguồn tài chính đảm bảo
cho nhu cầu chi tiêu hàng năm của nhà nước hoặc trong môi trường kinh tế cạnh tranh hoàn
hảo, không bị giới hạn bởi bất kỳ yếu tố nào như biên giới, hàng rào bảo hộ… Tuy nhiên,
hiện nay thế giới vẫn chưa đạt tới cạnh tranh tự do hoàn hảo và bội chi ngân sách vẫn đang
tồn tại như một hiện tượng bình thường ở nhiều nước trên thế giới. Các thuyết hiện đại thì
đưa ra những biện pháp mạnh hơn để đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước.
Trong điều kiện chuyển đổi và hội nhập như Việt Nam hiện nay, chúng ta cần phải lựa chọn
và vận dụng hợp lý các lý thuyết đó để đưa đất nước phát triển. Đối với nền kinh tế đi lên từ
nghèo nàn lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu thốn, trình độ kỹ thuật công nghệ còn
thấp kém thì đòi hỏi nhà nước phải đứng ra cấp vốn quan trọng cho các chương trình đầu tư
cấu thành sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Điều này đồng nghĩa với việc
triển khai chi tiêu nhiều hơn khả năng thu từ nội bộ nền kinh tế và thâm hụt ngân sách là
điều khó tránh khỏi. Do đó, việc ưu tiên chiến lược là tất yếu. Hoặc là, nhà nước chọn giảm
thâm hụt ngân sách, kiềm chế lạm phát là mục tiêu chiến lược bao trùm tất cả các mục tiêu
khác, tiến tới cân bằng ngân sách thì sẽ duy trì được thế ổn định của nền tài chính nhưng con
đường phát triển kinh tế bị chậm lại. Hoặc là, lấy công nghiệp hóa- hiện đại hóa làm mục
tiêu trọng yếu để phát triển kinh tế, thì mục tiêu kiềm chế thâm hụt ngân sách phải đặt xuống
hàng thứ yếu cho đến khi năng suất lao động xã hội tăng lên đạt tới mức tiến tiến của thế
giới thì phải chấp nhận quan điểm thâm hụt ngân sách.
với thông lệ quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình hội nhập, hệ thống thuế phải đơn
giản và minh bạch. Trên tinh thần đó, Việt Nam đã đổi mới căn bản hệ thống thuế bằng việc
ban hành Luật thuế giá trị gia tăng thay cho Luật thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi, bổ sung;
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, bổ sung hoặc ban hành mới một
số loại thuế phí có tác đông mạnh mẽ đến các hoạt kinh tế như thuế thu nhập cá nhân, thuế
23
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Nhóm 5
tài nguyên, thuế đất, thuế tài sản.
+ Cải cách thuế bước ba: cải cách thuế bước hai tuy đã góp phần hoàn thiện chính sách thuế
cho phù hợp với lộ trình hội nhập, song những nhược điểm cơ bản của hệ thống thuế được
tổng kết thúc đẩy cải cách bước một vẫn chưa được giải quyết triệt để. Cụ thể:
(i) Hệ thống thuế vẫn còn phân biệt đối xử giữa các đối tượng nộp thuế, giữa doanh
nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng ưu đãi cho
các nhà đầu tư nước ngoài, trong khi chính sách phát triển kinh tế là coi trọng nội lực;
(ii) Hệ thống thuế vẫn phức tạp, chồng chéo;
(iii) Mức thuế suất cận biên tối đa của thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập đối
với người có thu nhập cao còn khá cao so với các nước trong khu vực, ảnh hưởng tiêu cực
đến môi trường đầu tư (xem phụ lục số 2.2.1);
(iv) Hệ thống nguồn thu lệ thuộc nhiều vào thuế XNK và bán dầu thô.
Do vậy cải cách thuế bước ba được thực hiện và có hiệu lực từ ngày 1/1/2004. Trọng tâm
của cải cách thuế bước ba là hướng vào thực hiện ba mục tiêu: đơn giản, công bằng, hiệu
quả của hệ thống chính sách thuế. Theo đó, Chính phủ đã tiến hành triển khải bước đầu
công việc cải cách thuế theo lộ trình đã hoạch định. Để khuyến khích đầu tư trên cơ sở vẫn
đảm bảo nguồn thu cho ngân sách, Nhà nước đã giảm gánh nặng thuế qua việc giảm thuế
suất, đơn giản hóa hệ thống thuế, mở rộng đối tượng chịu thuế. Cụ thể:
(i) Đối với thuế thu nhập, thuế TNDN được áp dụng thống nhất, không phân biệt thành
những chuẩn mực quốc tế
Về hoàn thiện công tác hành thu:
Từ năm 2000 đến nay đã thực hiện được một số nội dung quan trọng:
Luật quản lý thuế được ban hành tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế và cơ quan thuế
trong triển khai thực hiện công tác quản lý thuế. Đây là cơ sở pháp lý để cơ quan thuế tổ
chức lại bộ máy quản lý, bảo đảm chế độ tự kê khai của người nộp, đồng thời khuyến khích
sự tuân thủ, tự nguyện trong thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế.
Đồng thời, cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, cụ thể, rõ ràng để tiết kiệm thời
gian và chi phí cho đối tượng nộp thuế như: Triển khai Luật Thuế TNCN, xây dựng quy chế
một cửa thống nhất, thực hiện Đề án 30 của Chính phủ về đơn giản hóa các thủ tục hành
chính, đã cắt giảm được 30% số thủ tục hành chính thuế hiện có.
Ngoài ra, để đáp ứng được yêu cầu quản lý theo cơ chế mới và phù hợp với nguồn lực hiện
có, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin mới để phát huy hiệu quả tích cực cho ngành