VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN TUYNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC THU THUẾ XUẤT
NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA TỔNG CỤC HẢI QUAN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Đức Độ
Hà Nội, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Văn Tuynh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT
NHẬP KHẨU HÀNG HÓA TẠI NGÀNH HẢI QUAN ........................................ 7
1.1. Một số khái niệm cơ bản ..................................................................................... 7
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
Chữ viết tắt
ACV
Tiếng Anh
Agreement Customs Valuation
Tiếng Việt
Hiệp định về trị giá hải quan
của WTO
AFTA
ASEAN Free Trade Area
Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN
APEC
ASEAN
Asia Pacific Economic
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu
Cooperation
Á - Thái Bình Dương
Electronic Data Interchange
Trao đổi dữ liệu điện tử
EU
European Ụnion
Liên minh Châu Âu
GATT
General Agreement of Trade
Hiệp định chung về Thương
and Tariff
mại và Thuế quan
HS
Harmonized System
Hệ thống Hài hòa
SH
Système Harmonisé
Total quality Management
Quản lý chất lượng tổng thể
TRIPs
Agreement on Trade-Related
Hiệp định về khía cạnh liên
Aspects of Intellectural Property quan đến thương mại của quyền
Rights
sở hữu trí tuệ
USD
The United State s Dollar
Đô la Mỹ
VAT
Valua Added Tax
Thuế giá trị gia tăng
WAN
Công nghệ thông tin
CQHQ
:
Cơ quan hải quan
CSDL
:
Cơ sở dữ liệu
DN
:
Doanh nghiệp
HĐH
:
Hiện đại hóa
HQVN
:
:
Nhập khẩu
NNT
:
NSNN
:
Ngân sách nhà nước
PLHH
:
Phân loại hàng hóa
QC
:
Quá cảnh
QLNN
:
Tạm nhập tái xuất
TPHCM
:
Thành phố Hồ Chí Minh
TTĐB
:
Tiêu thụ đặc biệt
TTHQ
:
Thủ tục hải quan
XNC
:
Xuất nhập cảnh
XNK
:
lại được tiến hành với những hình thức tinh vi hơn. Các hình thức gian lận thuế xuất
khẩu, nhập khẩu đã được thực hiện ngay từ nước xuất khẩu hàng hóa trước khi đến
nước nhập khẩu thông qua các biện pháp chuyển giá, chuyển khẩu, gian lận chứng
từ xuất kho, làm giả hợp đồng mua bán… Việc gian lận không chỉ dừng lại ở địa
bàn một quốc gia như trước mà được tiến hành tại nhiều quốc gia. Nhìn chung hầu
hết các công trình nghiên cứu về quản lý thuế mới chỉ tiếp cận ở góc độ khi Hải
quan còn duy trì phương pháp quản lý thủ công truyền thống. Trong giai đoạn này,
khâu nghiệp vụ của hải quan Việt Nam tập trung vào các công tác như quản lý thuế,
giám sát hải quan, thanh tra, chống buôn lậu…Nhưng trong bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế, Hải quan Việt Nam phải từng bước tiếp thu và sử dụng các biện pháp
nghiệp vụ quản lý hải quan mới như quản lý rủi ro, kiểm tra sau thông quan, quản lý
tuân thủ, kiểm tra giám sát hải quan từ xa…thì mới có thể chống thất thu thuế xuất
khẩu, nhập khẩu có hiệu quả. Việc quản lý Nhà nước đối với việc thu thuế XNK ngày
càng trở nên quan trọng trong bối cảnh lưu lượng, chủng loại hàng hoá XNK, phương
tiện và hành khách XNC không ngừng tăng lên qua các năm, thực sự là một thách thức
không nhỏ đối với việc đảm bảo thu đúng, thu đủ mà vẫn phải đáp ứng nhiệm vụ tạo
thuận lợi hoá thương mại quốc tế của nước ta. Trong những năm vừa qua, với vai trò
quản lý nhà nước, Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan đã tích cực triển khai các hoạt
động quản lý thu thuế hàng hoá XNK theo hướng đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật,
công khai các thủ tục hành chính, phí, lệ phí, thời gian giải quyết công việc cho doanh
nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XNK, đồng thời áp dụng CNTT hỗ
1
trợ trong các khâu cơ bản của quy trình nghiệp vụ Hải quan, trong đó có công tác thu
thuế hàng hoá.
Trên lĩnh vực quản lý thuế hàng hóa NK, Việt Nam đã xây dựng được hệ
thống bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế để thực thi thống nhất các luật
thuế; cơ chế quản lý thuế, quy trình quản lý thuế từng bước được hoàn thiện phù
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Công tác quản lý nhà nước đối với việc thu thuế đối với hàng hóa xuất nhập
khẩu luôn là vấn đề được nhiều tổ chức, cá nhân, nhất là cơ quan quản lý nhà nước
về hải quan, tài chính quan tâm, nghiên cứu. Hiện nay đã có một số công trình
nghiên cứu có đề cập đến quản lý nhà nước đối với việc thu thuế hàng hóa nhập
khẩu dưới các góc độ khác nhau như:
* Tình hình nghiên cứu ngoài nước
- “Báo cáo của Chương trình Columbus” dành cho Hải quan Việt Nam. Đây
là cẩm nang phản ánh một số vấn đề Hải quan Việt Nam cần phải xem xét theo
chuẩn mực chung của WCO. Tài liệu này là một khuyến nghị quan trọng cho ngành
Hải quan trong việc đổi mới phương pháp quản lý thuế và quy trình hiện đại hoá
công tác quản lý thuế theo các chuẩn mực chung của quốc tế.
-“ Sổ tay hiện đại hoá Hải quan” do WB biên soạn năm 2006 cho các nước
thành viên. Trong “sổ tay’’ này ghi nhận những khuyến cáo và các thành quả đạt
được cho các nước thành viên.
-“Allan Willett, The Economic Theory of Risk and Insurance, Philadelphi,
University of Pensylvania Press”, năm 2005. Tài liệu này đề cập đến những rủi ro
thương mại nói chung và là cơ sở để xây dựng chuyên đề tham khảo của ngành Hải
quan phát triển các lý thuyết về rủi ro trong quản lý thuế.
-“Haronori Asakura, World history of the Customs and Tariffs, năm 2003.
Tài liệu này đề cập đến những kinh nghiệm quản lý thu thuế hàng hoá XNK của
một số hải quan các nước trên thế giới. Tài liệu này là cơ sở để tác giả đưa ra các
khuyến cáo trong việc hoàn thiện các chính sách với việc quản lý nhà nước trong
việc thu thuế hàng hoá XNK của hải quan Việt Nam trong thời gian tới.
* Tình hình nghiên cứu trong nước:
- Nghiên cứu của dự án “Hỗ trợ kỹ thuật hiện đại hoá Hải quan’’ do WB tài
trợ cho Tổng cục Hải quan năm 2005. Dự án có sự đánh giá về một số vấn đề thực
trạng của hệ thống CNTT Hải quan, thực trạng thi hành các quy trình thủ tục Hải
quan giai đoạn trước năm 2003 và chưa cập nhật các ứng dụng mới về thông quan
điện tử. Kết quả của Báo cáo này chỉ ra những thuận lợi, khó khăn, điều kiện thực
trong tiến trình gia nhập AFTA của Việt nam”, Luận án tiến sỹ Kinh tế của Nguyễn
Danh Hưng, Học viện Tài chính năm 2003.
- Đề tài: “Đổi mới quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của ngành
Hải quan hiện nay”, Luận án thạc sỹ Kinh tế của Trần Thành Tô, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2006.
- Đề tài: “Một số giải pháp về quản lý chống thất thu thuế xuất nhập khẩu
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, Luận án thạc sỹ Kinh tế của Phan Duy Bình,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2000.
4
- Đề tài: “Quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan
thành phố Hải Phòng”, Luận văn thạc sỹ Kinh tế của Đặng Văn Dũng, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh năm 2011.
Để thực hiện đề tài này, tác giả có kế thừa một số ý tưởng, những tài liệu đã
được công bố trong nước và khảo sát ở nước ngoài để bổ sung cho phần cơ sở lý
luận và kinh nghiệm trong nội dung đề tài. Ngoài ra, đề tài này có tính cập nhật hơn,
đồng thời nhấn mạnh hơn đến những đặc thù của Việt Nam để đưa ra những giải
pháp, đề xuất có tính khả thi đối với lĩnh vực này.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu chính của luận văn là đưa ra các giải pháp nhằm hoàn
thiện công tác quản lý nhà nước với việc thu thuế XNK trong tương lai, tác giả sẽ
giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
- Hệ thống hoá và góp phần bổ sung cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối
với việc thu thuế hàng hoá xuất nhập khẩu gắn với việc hiện đại hoá Hải quan và
các nhân tố hiện đại hoá công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu của Hải quan Việt
Nam.
+ Cơ sở lý luận của việc quản lý nhà nước với việc thu thuế hàng hoá nhập
khẩu của Tổng cục Hải quan?
Phương pháp luận nghiên cứu được sử dụng trong quá trình thực hiện Luận
án là Chủ nghĩa Mác Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Các phương pháp nghiên cứu tổng hợp như: phương pháp phân tích, phương
pháp so sánh, thống kê, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp diễn giải.
Luận văn kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, tiếp thu ý kiến tư vấn của
một số chuyên gia, nhà quản lý, đồng nghiệp hải quan trong nước và nước ngoài về
những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận, đề tài đã góp phần hệ thống hóa các cơ sở lý luận liên quan đến
quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan. Đề tài cũng đã tổng quan được hoạt động
quản lý nhà nước trong lĩnh vực thu thuế XNK thời gian qua, đồng thời đưa ra được
một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, do
đó có ý nghĩa về mặt thực tiễn.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo kết cấu của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước với việc thu thuế xuất
nhập khẩu hàng hóa của ngành Hải quan.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với việc thu thuế xuất nhập khẩu
hàng hóa của Tổng cục Hải quan.
Chương 3: Đề xuất giải pháp về quản lý nhà nước đối với việc thu thuế xuất
nhập khẩu hàng hóa của Tổng cục Hải quan.
6
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ
XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA TẠI NGÀNH HẢI QUAN
1.1.
7
Thứ hai, mối quan hệ trên nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội
đặc biệt. Việc chuyển giao thu nhập có tính bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước
và phải được qui định bằng pháp luật, không có sự bồi hoàn trực tiếp.
Thứ ba, thuế là hình thức phân phối lại một phần của cải xã hội.
Từ các yếu tố trên đây, có thể hiểu: Thuế là một khoản tiền hoặc hiện vật mà
các tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi đóng góp theo luật định cho
Nhà nước theo mức độ, thời hạn cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu chi của Nhà nước,
điều tiết vĩ mô nền kinh tế, phân phối lại một phần thu nhập và của cải của xã hội,
kiểm soát quá trình phân phối và mức chi tiêu trong nền kinh tế, thay đổi tập quán
tiêu dùng của xã hội và không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế. Một
phần thuế (do các tổ chức và cá nhân đóng góp cho Nhà nước) được trả về với
người dân một cách gián tiếp dưới các hình thức như trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội
và các quỹ tiêu dùng khác.
1.1.2. Khái niệm thuế xuất nhập khẩu
Thuế xuất khẩu, nhập khẩu: là sắc thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu hoặc
nhập khẩu trong quan hệ thương mại quốc tế, tức là đánh vào hàng hoá được chuyên
chở qua biên giới hoặc lãnh thổ hải quan. Thuế xuất nhập khẩu hoặc thuế quan
(Custom duty) là cách gọi chung của hai loại thuế trong lĩnh vực thương mại quốc tế
là thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu. Đây là loại thuế mà các nước dùng để đánh vào
hàng hóa XNK tại cửa khẩu nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước,
bảo hộ sản xuất và can thiệp vào quá trình hoạt động ngoại thương, buôn bán trao
đổi hàng hóa giữa các quốc gia. Thông thường, các nước đều không đánh thuế xuất
khẩu để khuyến khích hoạt động xuất khẩu ngoại trừ một số ít mặt hàng là nguyên
liệu thô. Ngược lại, hầu hết các mặt hàng nhập khẩu đều bị đánh thuế nhập khẩu
ngoại trừ một số mặt hàng khuyến khích nhập khẩu.
Thuế xuất khẩu, nhập khẩu, về bản chất, là loại thuế gián thu. Nhà nước sử dụng
thuế xuất khẩu, nhập khẩu để điều chỉnh hoạt động ngoại thương thông qua việc tác
định. Ngoài ra, thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách diễn đạt khác nhau. Với ý nghĩa
thông thường, phổ biến thì quản lý có thể hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách
có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều
chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và
phát triển đối tượng theo những mục tiêu đã định. Quản lý nhà nước là hoạt động
của Chính phủ giao cho một Tổ chức thay mặt mình tác động một cách có tổ chức
và định hướng vào một số đối tượng nhất định trong xã hội để điều chỉnh các quá
trình xã hội và hành vi của con người hoặc tổ chức , nhằm duy trì tính ổn định và
phát triển đối tượng theo những mục tiêu đã định.
Từ những trình bày nêu trên, tác giả tạm đưa ra khái niệm về quản lý nhà
nước với việc thu thuế hàng hoá XNK như sau: Quản lý nhà nước với việc thu thuế
9
hàng hoá Xuất nhập khẩu là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà
nước lên việc thu thuế hàng hoá xuất nhập khẩu nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các
công cụ quản lý vĩ mô như các chính sách ,pháp luật. Qua đó, thông qua các cơ
quan của Chính phủ đứng ra thu thuế, một khoản tiền mà các tổ chức, cá nhân thực
hiện nghĩa vụ và quyền lợi được đóng góp theo luật định cho Nhà nước khi tham
gia XNK hàng hoá theo mức độ, thời hạn cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của
Nhà nước, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, phân phối lại thu nhập và của cải của xã hội,
kiểm soát quá trình phân phối và mức chi tiêu trong nền kinh tế, đảm bảo an ninh
kinh tế quốc gia.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự can thiệp của Nhà nước, quản
lý thu thuế XNK có vai trò hết sức quan trọng, đó là nguồn thu chủ yếu, ổn định của
ngân sách nhà nước, là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần
đảm bảo sự bình đẳng trong chính sách động viên đóng góp cho Nhà nước giữa các
thành phần kinh tế, thực hiện công bằng xã hội.
1.2.
1.2.3. Bảo hộ nền sản xuất trong nước
Khi nói đến vai trò bảo hộ sản xuất trong nước nghĩa là chúng ta đang nói
đến thuế nhập khẩu. Thuế quan bảo hộ được đưa ra với mục đích làm tăng giá một
cách nhân tạo đối với hàng hoá nhập khẩu làm giảm khả năng cạnh tranh của nó đối
với hàng hóa được sản xuất trong nước.Và để thay thế, người tiêu dùng sẽ chuyển
sang sử dụng hàng hoá trong nước sản xuất. Nói chung, thuế quan bảo bộ được tính
toán và đưa ra khi nhà nước cho rằng ở mức thấp hơn thì sản xuất trong nước sẽ gặp
phải sự cạnh tranh rất quyết liệt từ hàng nhập khẩu và về cơ bản thị phần sẽ nằm
trong tay các nhà nhập khẩu.
Trên thực tế thì rất khó có thể phân biệt rạch ròi giữa thuế quan tạo nguồn
thu và thuế quan bảo hộ bởi vì thuế quan đã chứa đựng hai yếu tố là bảo hộ và tạo
nguồn thu. Bảo hộ sản xuất trong nước nhằm hỗ trợ nền sản xuất phát triển, tạo
công ăn việc làm và nguồn thu nội địa. Bảo hộ cũng làm giảm tính cạnh tranh, lãng
phí nguồn lực gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Chính vì vậy việc lựa chọn ngành
nghề bảo hộ, thời gian bảo hộ phù hợp là điều vô cùng quan trọng. Về lâu dài thì
đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý để nâng cao chất lượng, hạ
giá thành sản phẩm để tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế mới là yếu tố
quyết định.
1.2.4. Khẳng định vai trò chủ quyền quốc gia
Mọi hàng hoá đều phải khai báo, kiểm tra và tính thuế (nếu có) trước khi
được xuất nhập khẩu thể hiện việc khẳng định chủ quyền của một quốc gia. Khẳng
định chủ quyền quốc gia còn thể hiện ở việc đánh thuế khác nhau đối với hàng hóa
có xuất xứ từ những quốc gia hay vùng lãnh thổ khác nhau. Ngày nay, việc khẳng
định chủ quyền qua công cụ thuế quan không được đề cao khi hầu hết các nước đều
tham gia các hiệp định song phương hay đa phương.
11
1.3.
luật thống nhất ở mọi nơi trong một quốc gia và ngày một phù hợp với các chuẩn
mực quốc tế.
12
1.3.2. Một số đặc điểm riêng mang tính đặc thù
+ Do thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu có tính gián thu nên người chịu
thuế khó nhận biết mình phải nộp thuế nên ít phản ứng, dễ thu hơn do đó tính chất
quản lý cũng khác với thuế trực thu.
+ Thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu gắn chặt với hoạt động XNK
do đó gắn chặt với hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ.
Vì ngoại thương là một trong những hình thức hoạt động cơ bản của kinh tế đối
ngoại mà thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là công cụ góp phần thực hiện
vai trò quản lý, kiểm soát hoạt động ngoại thương của Nhà nước. Hoạt động kinh tế
đối ngoại của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ không cố định mà luôn vận động và
phát triển theo sự phát triển chung của nhân loại, nên có thể nói thuế đối với hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu gắn chặt với hoạt động kinh tế đối ngoại và luôn vận
động, phát triển theo sự phát triển của quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia.
+ Thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có tính xung đột cao, mâu
thuẫn nhau (lợi ích khác nhau) giữa doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu, người tiêu
dùng và doanh nghiệp sản xuất trong nước, nên nếu bảo hộ cao cho sản xuất trong
nước thì doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu phản ứng và ngược lại. Vì vậy, doanh
nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu người tiêu dùng thường ủng hộ tự do hóa thương mại,
nhưng doanh nghiệp sản xuất trong nước lại muốn duy trì hàng rào thuế quan cao,
lâu dài.
+ Quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu không theo tháng,
quý, kỳ, năm tính thuế, không theo địa bàn như các loại thuế khác mà theo từng tờ
khai hải quan, cơ quan hải quan nào đăng ký tờ khai thì cơ quan đó quản lý số tiền
thuế phải nộp phát sinh của tờ khai đó. Căn cứ để tính thuế tính theo mức thuế suất,
nhu cầu chi tiêu, thực hiện các điều tiết kinh tế mang tính vĩ mô. Mặc dù có nhiệm
vụ quan trọng như vậy nhưng không có nghĩa phải tận thu bằng mọi giá vì thực tế
thuế xuất nhập khẩu tính xung đột do đó trong một tình huống nào đó có thể làm
ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu. Như vậy, để hoàn thành nhiệm vụ quan
trọng nhất của công tác quản lý thuế này thì một mức thuế suất hợp lý và ổn định sẽ
vừa kích thích nền kinh tế phát triển vừa đảm bảo nguồn thu ổn định vào ngân sách
quốc gia.
Để đạt được mục tiêu này trong điều kiện toàn cầu hóa thì cần phải có một
hệ thống chính sách thuế khoa học, thuế suất hợp lý kèm theo đó là công tác quản lý
minh bạch, phù hợp kết hợp với công tác tuyên truyền để có tính tuân thủ pháp luật
về thuế thì mục tiêu này sẽ đạt được một cách hiệu quả.
+ Tạo thuận lợi tối đa cho đối tượng nộp thuế và tối thiểu hóa chi phí trong
công tác quản lý. Mối quan hệ giữa sự tuân thủ pháp luật về thuế của đối tượng nộp
thuế và các quy trình thủ tục liên quan có tính chất qua lại. Chi phí cho công tác
quản lý chính là chi phí hành chính, duy trì hoạt động của cơ quan hải quan, chi phí
để đảm bảo sự tuân thủ của đối tượng nộp thuế chính là ở công tác tuyên truyền
14
pháp luật về thuế và chi phí phổ biến để nâng cao tính tuân thủ của đối tượng nộp
thuế. Như vậy, để giảm bớt chi phí thực hiện công tác quản lý thuế thì cần phải
giảm hai chi phí nói trên. Để giảm bớt chi phí hành chính thì cần phải có một bộ
máy tổ chức thật đơn giản, gọn nhẹ, các công chức thực hiện làm việc thật hiệu quả,
quy trình, thủ tục hải quan thật minh bạch, rõ ràng nhưng vẫn phải đảm bảo công
tác thu đúng, thu đủ. Ngược lại, chính sự minh bạch, rõ ràng của các văn bản pháp
quy, thủ tục, quy trình hải quan sẽ tác động tới làm giảm các chi phí để nâng cao sự
tuân thủ của đối tượng nộp thuế. Bên cạnh đó, trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn
cầu cơ quan quản lý hành chính mang tính cai trị dần chuyển sang cơ quan cung cấp
dịch vụ công được sự ủng hộ rất cao của đối tượng chịu thuế là một nhân tố hay
nhằm giảm giá thành sản phẩm. Thực tế cho thấy, nếu qui định thuế suất quá cao,
đối tượng nộp thuế sẽ tìm cách để trốn lậu thuế, trong khi chi phí để chống trốn lậu
thuế thường cao nên công tác chống gian lận thuế không mang lại kết quả như
mong muốn. Do đó, công tác quản lý thuế cần hướng tới mục tiêu thu đúng, thu đủ
thì mới đảm bảo thu ngân sách nhà nước, tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế và tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển.
1.5.
Những nội dung cơ bản của quản lý thu thuế XNK
- Xây dựng hệ thống văn bản pháp luật về quản lý thuế: Trong bất cứ
quốc gia nào cũng đều có hệ thống các văn bản pháp luật nói chung và quy định về
thuế nói riêng. Tùy theo từng mức độ hiệu lực và nội dung quy định mà văn bản
pháp luật có các cấp độ khác nhau như Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định... các
văn bản cấp thấp hơn nhằm quy định chi tiết các điều khoản mà văn bản cao hơn
chưa cụ thể hoặc hướng dẫn chi tiết các trường hợp cụ thể.
- Xây dựng mô hình bộ máy quản lý thu thuế: Xây dựng mối quan hệ giữa
cơ quan quản lý thuế trong đó có cơ quan hải quan và Chính phủ. Hiện nay, có
nhiều mô hình khác nhau trong đó có kiểu mô hình cơ quan quản lý thuế đặt dưới
sự quản lý của một Bộ thu hay mô hình trực tiếp chịu sự quản lý của Bộ trưởng Bộ
Tài chính như Việt Nam.
- Xây dựng cơ chế quản lý thu thuế: Theo từng tình trạng, hoàn cảnh, trình
độ phát triển, đặc điểm của mỗi quốc gia mà quản lý thuế có những mô hình khác
nhau, nhưng thường là hai dạng: (1) áp đặt - cơ quan quản lý thuế tính thuế và ra
thông báo thuế, (2) trên cơ sở tự nguyện của đối tượng nộp thuế - người nộp thuế tự
tính, tự khai và tự nộp. Cơ quan thu thuế không can thiệp vào quá trình kê khai, nộp
thuế của đối tượng nộp thuế, nhưng sẽ áp dụng các biện pháp xử phạt, cưỡng chế để
xử lý vi phạm khi người nộp thuế không thực hiện nghiêm chỉnh việc kê khai, nộp
thuế này.
- Tổ chức triển khai thực hiện các luật thuế: Đây là một trong những nội
và hải quan nói riêng sẽ cấp mã số thuế cho từng đối tượng nộp thuế khi họ đăng ký
kê khai thuế. Mục tiêu của quản lý đối tượng nộp thuế thông qua mã số thuế nhằm
quản lý chặt chẽ và có thể nhanh chóng tra cứu, kiểm tra đối tượng nộp thuế.
Việc ấn định thuế không phụ thuộc vào cơ chế quản lý thu thuế, tuy nhiên
trong cơ chế người nộp thuế tự khai, tự nộp thì bản chất của việc ấn định thuế được
thể hiện rõ nét hơn. Theo cơ chế tự khai, tự nộp người khai tự căn cứ trên các thông
tin của mình để kê khai số thuế phải nộp nhưng trường hợp người khai không tự
17
tính được số thuế phải nộp hoặc cố tình hoặc không biết đã căn cứ vào các thông tin
không chuẩn xác, không hợp pháp để khai báo hoặc khai báo không đầy đủ để giảm
bớt số thuế phải nộp hoặc cố tình trì hoãn kéo dài thời hạn quy định việc cung cấp
các tài liệu liên quan đến xác định số thuế phải nộp mà cơ quan hải quan có đủ căn
cứ pháp lý đưa ra trị giá giao dịch thực tế của số hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thì
cơ quan hải quan sẽ ấn định thuế và đối tượng nộp thuế có trách nhiệm thực hiện.
Kế toán thuế và thống kê thuế là quá trình tổ chức hệ thống thông tin bằng số
liệu để phản ánh số thuế đã thu, đã hoàn, số thuế phải thu thông qua các bút toán có
thể có sự hỗ trợ của hệ thống công nghệ thông tin. Kế toán thuế được thống nhất từ
trung ương đến địa phương. Thông qua hệ thống thông tin từ thống kê thuế, cơ quan
quản lý thuế đánh giá đúng được hiệu quả của quá trình quản lý thu thuế để rút ra
ưu nhược điểm của quá trình quản lý để hoàn thiện hay đổi mới công tác quản lý
thuế và kịp thời điều chỉnh chính sách.
Bên cạnh việc đánh giá tính hiệu quả của công tác quản lý thuế và quá trình
áp dụng các chính sách thuế, cơ quan quản lý thuế còn phải tổ chức kiểm tra, thanh
tra định kỳ hoặc đột xuất để xem xét các hoạt động của chủ thể quản lý và đối tượng
của quản lý thuế nhằm đảm bảo thực hiện tốt các luật thuế, tránh sai sót.
Cưỡng chế thuế và xử lý tố tụng về thuế: là các chế tài áp dụng trong trường
hợp các đối tượng nộp thuế cố tình không thực hiện nghĩa vụ thuế.
này được Nhà nước sở tại ban hành để điều chỉnh các hoạt động đó tuân theo khuôn
khổ và mục tiêu quản lý, tùy từng thời kỳ, thời điểm mà có những điều chỉnh phù
hợp và bắt buộc các chủ thể phải thực hiện. Hệ thống khung khổ pháp lý bao gồm
các bộ Luật, các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư, Quyết định… do từng
cấp có thẩm quyền ban hành.
Công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu cũng là nội dung được quy định
trong các văn bản này mà đối tượng chịu sự điều chỉnh là các cơ quan quản lý thuế
(ở Việt Nam là cơ quan Hải quan) và đối tượng nộp thuế. Do đó, khi hệ thống pháp
lý về thuế có sự thay đổi hay điều chỉnh nhằm đáp ứng mục tiêu quản lý thuế như
khuyến khích xuất nhập khẩu, hạn chế xuất nhập khẩu thông qua các công cụ thuế
như tăng thuế suất thuế xuất nhập khẩu, điều chỉnh đối tượng được miễn thuế, giảm
thuế, hoàn thuế thì sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến đối tượng nộp thuế và cơ quan hải
quan. Cả hai đối tượng này đều phải có những điều chỉnh để thích nghi với những
thay đổi nhằm thực hiện tốt chức năng của mình. Cơ quan hải quan phải điều chỉnh
trong nội tại ngành bằng những văn bản thuộc thẩm quyền phát hành, điều chỉnh
quy trình thủ tục để quản lý thu thuế xuất nhập khẩu hiệu quả đóng góp vào ngân
sách nhà nước, còn đối tượng nộp thuế nghiên cứu kỹ quy định của Nhà nước và
của cơ quan hải quan để kê khai, nộp thuế đúng quy định.
Hiện nay, xu hướng chung của các quốc gia là xây dựng các quy phạm pháp luật
thuế theo hướng hội nhập quốc tế, đơn giản hóa cơ cấu hệ thống thuế và thuế suất...Tuy
vậy, việc thực hiện xu hướng chung đó không làm triệt tiêu vai trò của pháp luật thuế là
công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Trong điều
19