Vai trũ quản lý của Ngõn Hàng nhà nước đối với việc thành lập mới các Ngân Hàng Thương Mại cổ phần - Pdf 23

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời Nói Đầu.
Năm 2007 đã bắt đầu, nước ta đã tiến thêm một bước dài trên con đường
phát triển kinh tế trong kế hoạch phát triển từ 2000 – 2020. Chúng ta đã chính
thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO từ những ngày cuối
năm 2006. Sự kiện đó đánh dấu một cơ hội lớn và thách thức lại càng lớn hơn
nữa khi chúng ta phải chấp nhận những luật lệ quốc tế và mở cửa tạo điều kiện
cho các công ty, tập đoàn lớn của thế giới xâm nhập vào thị trường Việt Nam
nhưng cũng là cơ hội cho các Doanh nghiệp trong nước tham gia vào các thị
trường lớn trên thế giới khi các hạn ngạch xuẩt khẩu được rỡ bỏ. Còn một sự
kiện là Việt Nam đã tổ chức thành công hội nghị cấp cao APEC vào trung tuần
tháng 11 năm 2006. Sự kiện đã thu hút được sự chú ý của toàn thế giới. Qua sự
kiện đó bộ mặt đất nước đã thay đổi khá nhiều trong con mắt nhà đầu tư nước
ngoài. Qua đó họ thấy được những thế mạnh phát triển của đất nước như con
người, môi trường kinh tế, tài nguyên và hơn nữa là có tình hình an ninh, chính
trị ổn định, vững chắc tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà kinh tế lớn trên thế
giới đầu tư vào Việt Nam.
Theo đánh giá sơ bộ thì có 3 lĩnh vực mà sẽ bị ảnh hưởng sớm nhất đó là lĩnh
vực Ngân hàng, lĩnh vực bán lẻ và lĩnh vực công nghệ bưu chính viễn thông.
Theo đó các tổ chức kinh tế lớn trên thế giới sẽ đổ một khối lượng vốn rất lớn
vào Việt Nam để đầu tư vào tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế thông qua kênh
phân phối chính là các Ngân hàng thương mại ( NHTM). Cùng với đó là sự xuất
hiện của vô số các NHTM nước ngoài xâm nhập vào thị trường tài chính Việt
Nam. Bên cạnh sự xuất hiện của vô số các NHTM của nước ngoài thành lập chi
nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam là sự thành lập của vô số các Ngân
hàng thương mại cổ phần ( NHTMCP) trong nước.
Năm 2006 là một năm phát triển bùng nổ của các NHTM, thị trường chứng
khoán cũng như công ty chứng khoán của các NHTM. Các ngân hàng liên tục
tăng vốn qua niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán và góp vốn đầu tư
1
của các cổ đông. Cuối năm lợi nhuận của các NHTM lớn hơn rất nhiều so với

đình, các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế- xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng.
Thu nhập từ ngân hàng có khi là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều gia đình,
đối với các Doanh nghiệp thì Ngân hàng thường là tổ chức cung cấp tín dụng để
phục vụ cho việc mua hàng hoá, dự trữ hoặc xây nhà máy, mua sắm trang thiết
bị. Khi các cá nhân, doanh nghiệp cần thanh toán các khoản tiền mua hàng hoá
và dịch vụ họ thường dùng Séc, thẻ tín dung hay tài khoản điện tử....Khi họ cần
những thông tin tài chính, cần tư vấn lập kế hoạch kinh doanh họ sẽ tìm đến
Ngân hàng.
Trong nền kinh tế, Ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài
chính quan trọng nhất, ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặc bịêt là
các chính sách tiền tệ, vì vậy nhờ Ngân hàng chính phủ có thể ổn định nền kinh
tế bằng các chính sách tiền tệ của mình.
Tóm lại, Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với mọi nền
kinh tế. Để đưa ra được định nghĩa chính xác về ngân hàng là rất khó nhưng có
thể định nghĩa Ngân hàng thông qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà
chúng thực hiện trong nền kinh tế. Luật các tổ chức tín dụng của nước cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi:” Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh
tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử
dụng số tiền này để cấp tín dụng và các dịch vụ thanh toán.”
3
Qua cách tiếp cận Ngân hàng trên phương diện những loại hình mà chúng
cung cấp:” Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch
vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và
thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh
nào trong nền kinh tế.”
Nhưng thực tế hiện nay, trong nền kinh tế thị trường rất nhiều các dịch vụ
đa dạng của nhiều tổ chức tài chính – bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng
khoán, công ty môi giới chứng khoán quỹ tương hỗ và các công ty bảo hiểm
hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của Ngân hàng. Ngược lại,
ngân hàng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh( các tổ chức tài chính phi

tin. Sự phân bổ thông tin không đều và năng lực phân tích thông tin trên thị
trường dẫn đến tình trạng “ thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả
của thị trường nhưng tạo ra một khả năng sinh lợi cho ngân hàng vì ngân hàng
có chuyên môn và các công cụ đánh giá các thông tin để đưa ra khả năng lựa
chọn các yếu tố rủi ro - lợi nhuận hấp dẫn nhất.
1.1.2.2 Tạo phương tiện thanh toán.
Trước khi có sự xuất hiện của ngân hàng thì con người vẫn quen với tiền kim
loại như vàng, bạc, kim loại quý...Sau khi có các ngân hàng thợ vàng tạo ra các
giấy nhận nợ với khách hàng. Và khi giấy nhận nợ được ngân hàng phát hành
với ưu điểm nhất định đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi được nhiều
người chấp nhận. Như vậy, ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán đầu tiên.
Với nhiều ưu thế, dần dần, giấy nợ của ngân hàng đã thay thế tiền kim loại là
phương tiện lưu thông và phương tiện cất trữ; nó đã trở thành tiền tệ.
Việc in tiền mang lại lợi nhuận rất lớn, đồng thời nhu cầu mỗi nước muốn có
đồng tiền riêng đặc trưng cho quốc gia của mình, từ đó việc in tiền tập trung vào
một tổ chức hoặc bộ tài chính hoặc ngân hàng trung ương. Từ đó chấm dứt việc
các ngân hàng thương mại tạo ra các giấy bạc riêng của mình.
1.1.2.3Trung gian thanh toán.
5
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá,
dịch vụ. Để thanh toán nhanh chóng, hiệu quả và tiết kiệm chi phí, ngân hàng
đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán, như thanh toán bằng Séc, uỷ
nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ... cung cấp các mạng lưới thanh toán điện tử, kết
nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần.
Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử
dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy, nhiều hình thức thanh toán được
chuẩn hoá, góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các
ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới.
Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh

Cho vay:
* Cho vay thương mại:
Ngân hàng cho người mua vay tiền để họ có tiền mua và dự trữ hàng hoá.
* Cho vay tiêu dùng:
Ngân hàng thường không hay cho người tiêu dùng vay tiền vì rủi ro khá cao
nhưng hiện nay do sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh
trong cho vay của các ngân hàng nên buộc các ngân hàng phải hướng đến người
tiêu dùng như một khách hàng tiềm năng.
* Tài trợ cho dự án:
Bên cạnh các khoản cho vay ngắn hạn và trung hạn thì ngân hàng con cho
vay các khoản vay dài hạn, ngân hàng ngày càng trở nên năng động hơn trong
tài trợ cho các dự án. Tuy rằng loại tài trợ này rủi ro rất cao nhưng lợi nhuận
khổng lồ đã khiếm cho các ngân hàng không thể đứng ngoài cuộc. Thậm chí còn
có các ngân hàng cho vay để đầu tư vào đất, bất động sản.
Bảo quản vật có giá:
Ngày nay do điều kiện thuận lợi là lưu giư tiền cần an ninh tốt nhất nên các
ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, trang sức, đá quý và các vật có giá khác
của khách hàng trong kho bảo quản. Ngân hàng giữ đồ và giao lại cho khách
7
hàng giấy biên nhận. Khách hàng có thể lấy bất cứ lúc nào với tờ giấy biên nhận
của mình nhưng phải trả một khoản phí cho ngân hàng.
Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
Khi các thương gia gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận thấy ngân hàng không
chi thực hiện việc bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả thanh toán cho
khách hàng của họ. Thanh toán qua ngân hàng mở đầu cho thanh toán không
dùng tiền mặt. Các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng họ có quyền viết giấy
thanh toán cho khách hàng ( Sec) và khách hàng cầm tờ Sec đó đến ngân hàng
và được ngân hàng thanh toán quy ra tiền mặt. Khi ngân hàng mở rộng quy mô,
liên tục gia tăng các chi nhánh tạo nhiều thuận lợi cho các doanh nhân khi thanh
toán. Vì vậy, càng khuyến khích các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng va nhờ

Hơn nữa hiện nay các tập đoàn kinh tế lớn trong nước như Tổng công ty bưu
chính viễn thông Việt Nam, Điện lực Việt Nam (EVN) hay tập đoàn dầu khí, tập
đoàn bảo hiểm, Tổng công ty XD Sông đà….. đang đứng trước nhu cầu về vốn
và trong tay cũng có đầy đủ những yêu cầu để thành lập một NHTM CP. Và có
vẻ đi cùng với thành công của NHTM CP Quân Đội thì không sớm thì muộn
những Tổng công ty hay tập đoàn này sẽ nhảy vào lĩnh vực tài chính đầy cơ hội
và hấp dẫn này.
Nhưng hiện nay, chính NHNN cần phải cân nhắc cấp giấy phép thành lập cho
các NHTMCP vì có rất nhiều NHTM mới thành lập có kết quả kinh doanh
không mấy khả quan.Theo “ báo điện tử diendandoanhnghiep” thì họ đã có cuộc
phỏng vấn với thống đốc NHNN Vịêt Nam bài viết có tựa đề “ Hạn chế thành
lập Ngân Hàng mới (13/04/2006)” .
Nội dung bài phỏng vấn: “Ngân hàng nhà nước (NHNN) đang gấp rút xây
dựng quy định về quản trị ngân hàng. Theo chủ trương này, NHNN sẽ hạn
chế thành lập các ngân hàng mới, thay vào đó là củng cố nâng cao chất
lượng của hệ thống ngân hàng đang hoạt động. Để hiểu rõ hơn vấn đề này,
DĐDN đã có cuộc PV Thống đốc NHNN Lê Đức Thuý.
9
- Hiện nay, một số TCty lớn chuyển sang tập đoàn đều có chủ trương thành lập
ngân hàng mới. Nhưng với quy chế đang soạn thảo, NHNN lại hạn chế thành lập
các ngân hàng mới. Tại sao vậy, thưa Thống đốc?
Chúng ta đã mở cửa cho đối tác nước ngoài, vậy không lý do gì lại khép cửa đối
với các nhà đầu tư trong nước. Tuy nhiên, kinh doanh ngân hàng là kinh doanh
có điều kiện, nó gắn liền với sự ổn định an toàn của hệ thống nền kinh tế,vì vậy
không phải ai muốn kinh doanh ngân hàng cũng được. Hai năm vừa qua hoạt
động ngân hàng có lợi nhuận cao, do vậy nhiều người đang muốn nhảy vào kinh
doanh lĩnh vực này mà không hiểu được rằng các ngân hàng đã phải trả giá rất
đắt mới đạt được kết quả hiện nay. Tôi lấy ví dụ không ít ngân hàng như VP
Bank mới được chấm dứt kiểm soát đặc biệt 1 năm qua, rồi Eximbank nợ quá
hạn 1.200 tỷ, đến nay vẫn tồn đọng cần xử lý tiếp, và thậm chí nhiều ngân hàng

Thực tế cho thấy có rất ít các NHTMCP mới thành lập mà có thể thu hút sự quan
tâm và lòng tin của khách hàng đến gửi tiền và gửi tiết kiệm. Như NHTM CP
Toàn Cầu ( G- Bank) với những tiện ích trong quản lý tài khoản của khách hàng
nhưng với tâm lý người Việt Nam luôn luôn đặt an toàn cho đồng vốn của mình
lên hàng đầu lòng tin cho một NHTMCP mới thành lập chắc chắn không cao.
Hơn nữa đối tượng cho vay của các NHTMCP mới thành lập thường chưa có độ
tin cậy, chưa có mức độ an toàn cần thiết nên dẫn đến tình trạng nợ quá hạn và
các khoản nợ xấu trong các NHTM CP là tương đối lớn và là một vấn đề rất khó
giải quyết trong nay mai.
1.2.2 Cơ sở pháp lý.
NHTM là một tổ chức tín dụng chịu sự quản lý của NHNN và hoạt động như
một doanh nghiệp độc lập. Nên hoạt động của một NHTM phải tuân theo quy
định của NHNN và Luật Doanh nghiệp nhưng trong vấn đề thành lập mới một
NHTM ta chỉ xét theo luật các tổ chức tín dụng.
11
Trong luật các tổ chức tín dụng của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam được quốc hội thông qua ngày 12/12/1997 có quy định về các thủ tục, điều
kiện để nhà nước cho phép thành lập mới một ngân hàng như sau:
Điều 21: Thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và hoạt động:
Ngân hàng nhà nước là cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và hoạt
động cho tổ chức tín dụng và cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng
cho các tổ chức khác theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp
luật.
Điều 22: Điều kiện để cấp giấy phép thành lập và hoạt động:
1. Điều kiện để cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng đối với tổ
chức tín dụng gồm có:
a) Có nhu cầu hoạt động ngân hàng trên địa bàn xin hoạt động;
b) Có vốn quy định tại điều 83 của luật này; (Điều 83: Vốn pháp định: Mức
vốn pháp định của mỗi loại tổ chức tín dụng do Chính phủ quy định.)
c) Thành viên sáng lập là tổ chức, cá nhân.. có uy tín về năng lực tài chính;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status