Quản lý Nhà nước đối với hoạt động cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THÀNH HẢI

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Hà Nội – 2012 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Danh mục các bảng ii
Danh mục các biểu đồ ii
MỞ ĐẦU 5
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HOẠT
ĐỘNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 12
1.1. Khái niệm và nhận diện các hành vi CTKLM 12
1.2. Khái niệm Quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động CTKLM 16
1.3 Vai trò quản lý của Nhà nƣớc đối với hoạt động CTKLM trong nền kinh
tế thị trƣờng 21
1.4. Công cụ quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động CTKLM 23
1.5. Quản lý hoạt động CTKLM trên thế giới 25
1.5.1. Quản lý hoạt động CTKLM tại châu Âu 25
1.5.2 Quản lý hoạt động CTKLM tại Hoa Kỳ 27
1.5.3 Quản lý hoạt động CTKLM tại châu Á 29
1.5.4 Quản lý hoạt động CTKLM tại các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi 30
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TẠI VIỆT NAM 33
2.1 Môi trƣờng thể chế, chính sách quản lý các hoạt động CTKLM tại Việt Nam 33
2.2. Hệ thống cơ quan quản lý, kiểm soát các hoạt động CTKLM tại Việt Nam 36
2.2.1 Cục Quản lý cạnh tranh 36
2.2.2 Các cơ quan quản lý chuyên ngành khác 37
2.3 Thực trạng công tác phát hiện và xử lý các hoạt động CTKLM tại Việt
Nam trong giai đoạn 2006-2011 38
3
2.4. Một số vụ việc CTKLM điển hình sau khi Luật cạnh tranh ra đời và hoạt
động quản lý của Nhà nƣớc (2005-nay) 40
Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

Cạnh tranh không lành mạnh
3
EU
Liên minh châu Âu
4
EC (European
Commission)
Ủy ban châu Âu
5
OECD
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
6
SHTT
Sở hữu trí tuệ
7
TRIPS (Trade-related
Aspects of
Intellectual Property
Rights)
Thoả thuận về những khía cạnh liên quan
tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
8
USFTC
Uỷ ban Thương mại liên bang Hoa Kỳ
9
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
i
6
Trong những năm gần đây, quản lý hoạt động cạnh tranh không lành
mạnh là vấn đề đƣợc sự quan tâm của nhiều giới, nhiều nhà khoa học và một
số công trình nghiên cứu vì: sự vận động của các quan hệ kinh tế trong nền
kinh tế thị trƣờng đòi hỏi Nhà nƣớc phải thực sự trở thành công cụ điều tiết có
hiệu quả vừa góp phần bình ổn các quan hệ kinh tế vừa điều chỉnh quan hệ
kinh tế để nền kinh tế phát triển một cách lành mạnh, ổn định, có tổ chức,
theo định hƣớng, mục tiêu đã định.
Vì lợi ích sống còn của doanh nghiệp, các doanh nghiệp nhiều khi
không trừ một biện pháp nào để nhằm loại bỏ đối thủ ra khỏi thị trƣờng hoặc
làm xấu hình ảnh các doanh nghiệp khác để tạo lợi thế bất chính. Các hoạt
động CTKLM trên thị trƣờng giữa doanh nghiệp nƣớc ngoài với doanh
nghiệp trong nƣớc; giữa hàng nội và hàng ngoại; giữa các doanh nghiệp thuộc
khu vực kinh tế tƣ nhân và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế quốc
doanh vẫn đã và đang diễn ra vô cùng sôi động
Vì thế, việc quản lý và chống CTKLM có tầm quan trọng đặc biệt
nhằm cải thiện môi trƣờng pháp lý, khuyến khích hơn nữa các hoạt động đầu
tƣ, sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế trong và ngoài nƣớc, tạo môi
trƣờng lành mạnh, bình đẳng, an toàn cho các doanh nghiệp và đồng thời bảo
vệ quyền và lợi ích của ngƣời tiêu dùng.
Đặc biệt trong bối cảnh các doanh nghiệp có các hành vi CTKLM
nhƣng không không biết là mình vi phạm, đáng chú ý là các hanh vi nhƣ: Lừa
dối khách hàng; quảng cáo gian dối; sản xuất, buôn bán hàng giả; lƣu hành
sản phẩm kém chất lƣợng; kinh doanh trái phép; trốn thuế, bán hàng đa cấp
bất chính,
Rõ ràng sự nhận thức, nhận diện đầy đủ, cặn kẽ bản chất các hình thức
biểu hiện của cạnh tranh nói chung và CTKLM nói riêng cả về lý luận lẫn
thực tiễn của xã hội nói chung còn nhiều hạn chế. Do vậy, việc nghiên cứu
8
bản những cuốn sách chuyên khảo về cạnh tranh nhƣ: "Tiến tới xây dựng
pháp luật về cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng ở
Việt Nam" của Phó Giáo sƣ, Tiến sỹ Nguyễn Nhƣ Phát và Tiến sĩ Bùi Nguyên
Khánh năm 2001. Bên cạnh đó cần phải kể đến nhiều bài báo khoa học đƣợc
đăng trên một số tạp chí chuyên ngành nhà nƣớc của các chuyên gia nhƣ:
Giáo sƣ, Tiến sỹ khoa học Đào Trí úc; Phó Giáo sƣ, Tiến sỹ Nguyễn Nhƣ
Phát; Phó Giáo sƣ, Tiến sỹ, Trần Đình Hảo; Phó Giáo sƣ, Tiến sỹ Phạm Duy
Nghĩa Các công trình nghiên cứu này đã đề cập các vấn đề về chính sách
cạnh tranh, cơ sở lý luận của kiểm soát cạnh tranh, nội dung của pháp luật
cạnh tranh, thực trạng CTKLM và kiểm soát đối với các hoạt động CTKLM.
Các nghiên cứu này đƣợc tiếp cận dƣới nhiều góc độ khác nhau và đều nhằm
mục đích là xây dựng luận cứ, đề xuất các định hƣớng về nội dung, phạm vi
điều chỉnh, phƣơng thức thực hiện và đƣa ra các khuyến nghị về việc hoàn
thiện hơn môi truờng canh tranh ở Việt Nam. Hay nói cách khác, các công
trình này đƣợc nghiên cứu trƣớc khi ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004.
Nhằm góp phần vào công tác tuyên truyền phổ biến và tạo dựng môi
trƣờng cạnh tranh, sau khi ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004, gần đây cũng
đã có một số cuốn sách giới thiệu về hoạt động CTKLM đƣợc viết dƣới dạng
phân tích, bình luận. Chẳng hạn nhƣ cuốn "Bình luận khoa học Luật cạnh
tranh" của Tiến sỹ Lê Hoàng Oanh, năm 2005; "Phân tích và luận giải về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trƣờng, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh
tranh" của Phó Giáo sƣ, Tiến sỹ Nguyễn Nhƣ Phát và Thạc sỹ Nguyễn Ngọc
Sơn, năm 2008, “Giáo trình Luật cạnh tranh" xuất bản vào năm 2010 do 3 tác
giả là PGS. TS. Lê Danh Vĩnh, Nguyên Thứ trƣởng Bộ Công Thƣơng kiêm
Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh, ThS. Nguyễn Ngọc Sơn và ThS. Hoàng Xuân
Bắc với sự phối hợp của Dự án EU - Việt Nam - MUTRAP III Bộ Công
Thƣơng. Tuy nhiên, những tài liệu nghiên cứu này hoặc là chỉ đề cập đến khía
cạnh pháp luật của những hành vi liên quan đến hạn chế cạnh tranh hoặc nếu



10
- Đề xuất các gợi ý chính sách để quản lý hoạt động CTKLM ở Việt
nam cả về mặt pháp luật, thể chế, tuyên truyền giáo dục,
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Theo thông lệ, quản lý cạnh tranh gồm hai nội dung chính là quản lý
CTKLM và quản lý hạn chế cạnh tranh và bao hàm nội dung các hành vi cần
điều chỉnh rất rộng, liên quan chặt chẽ đến chính sách kinh tế, xã hội của mỗi
quốc gia trong từng thời kỳ nhƣng luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu cơ
sở lý luận, thực tiễn, các chính sách, khuôn khổ luật pháp giúp Nhà nƣớc quản
lý hoạt động CTKLM, các cơ quan tổ chức quản lý CTKLM liên quan và đề
xuất phƣơng hƣớng quản lý hoạt động CTKLM ở Việt nam hiện nay. Khi
nghiên cứu, luận văn sẽ xem xét sự ảnh hƣởng của việc quản lý hoạt động
CTKLM tới các nhóm lợi ích liên đới trong xã hội nhƣ: Cơ quan quản lý, các
doanh nghiệp và ngƣời tiêu dùng hay ngƣời dân, bắt đầu từ sau thời điểm
Luật cạnh tranh có hiệu lực năm 2005 cho tới nay.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Phƣơng pháp nghiên cứu có tính chất bao trùm đƣợc quán triệt để thực
hiện luận văn là phƣơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác -Lênin, theo đó vấn đề nghiên cứu phải đƣợc đặt trong bối cảnh
lịch sử, cụ thể của quá trình hình thành và phát triển của môi trƣờng cạnh
tranh hình thành trong nền kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta, đặc biệt là nghiên cứu
từ mốc thời gian sau khi có Luật Cạnh tranh có hiệu lực năm 2005. Tại luận
văn này phƣơng pháp so sánh đƣợc sử dụng phổ biến vì:
- Ở nƣớc ta, kiểm soát hoạt động CTKLM còn là lĩnh vực mới, chƣa có
kinh nghiệm trong công tác quản lý nhà nƣớc;
- Phƣơng pháp so sánh cho phép chúng ta tìm hiểu quan điểm tiếp cận
chống CTKLM từ thực tiễn quản lý của nƣớc ngoài cũng nhƣ thấy đƣợc khía
cạnh quốc tế của CTKLM.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phƣơng pháp phân tích, tổng hợp để

Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp quản lý hoạt động CTKLM
trong bối cảnh nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam
12
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ HOẠT ĐỘNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH

1.1. Khái niệm và nhận diện các hành vi CTKLM
Cho đến nay, cạnh tranh lành mạnh mặc dù đã đƣợc tiếp cận, nghiên
cứu và phản ánh trong nhiều học thuyết, song đều không đƣa ra đƣợc nội hàm
cụ thể cho khái niệm này. Tƣơng tự nhƣ vậy, pháp luật về cạnh tranh của các
quốc gia trên thế giới cũng không đƣa ra khái niệm thống nhất về thế nào là
cạnh tranh lành mạnh. Tuy vậy, dƣới góc độ thực tiễn, các quốc gia đều có sự
thống nhất về bản chất của cạnh tranh lành mạnh. Theo đó, cạnh tranh lành
mạnh đƣợc hiểu là cạnh tranh trung thực, công bằng, hợp pháp, hợp đạo đức,
tập quán kinh doanh; là hình thức cạnh tranh đẹp, trong sáng, cạnh tranh bằng
tiềm năng vốn có của bản thân doanh nghiệp, vì lợi ích của bản thân trên tinh
thần tôn trọng lợi ích của các chủ thể kinh doanh khác, của ngƣời tiêu dùng và
lợi ích công cộng.
Qua đây có thể thấy rằng, cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp
có một số đặc điểm là:
+ Tuân thủ đúng pháp luật;
+ Tôn trọng truyền thống, tập quán kinh doanh;
+ Phù hợp với đạo đức kinh doanh;
+ Phù hợp với thông lệ quốc tế;
+ Là động lực phát triển kinh tế-xã hội.
Qua các đặc điểm trên cho thấy, cạnh tranh lành mạnh có nội hàm rất

cụ thể là Điều 10bis (đƣợc bổ sung vào Công ƣớc năm 1900), theo đó: "Bất
kỳ hành vi cạnh tranh nào đi ngƣợc lại các hành động trung thực, thiện chí
trong công nghiệp hoặc trong thƣơng mại đều là hành vi CTKLM". Điều 14
10bis cũng giải thích rõ gồm 3 loại hành vi chính: (i) thực hiện các hành vi có
bản chất gây nhầm lẫn về cơ sở kinh doanh, hàng hoá, hoạt động kinh doanh,
công nghiệp của một đối thủ cạnh tranh; (ii) đƣa ra những cáo buộc sai sự thật
nhằm hạ thấp uy tín về cơ sở kinh doanh, về hàng hoá hoặc về hoạt động
thƣơng mại, công nghiệp của một đối thủ cạnh tranh; (iii) sử dụng những chỉ
dẫn gây nhầm lẫn cho công chúng về bản chất, quá trình sản xuất, đặc điểm,
tính năng, công dụng của hàng hoá.
Quan niệm thứ ba cho rằng CTKLM là hành vi cạnh tranh của doanh
nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với chuẩn mực thông thƣờng về đạo
đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nƣớc,
quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh khác hoặc ngƣời tiêu dùng.
Nhƣ vậy, với 3 cách quan niệm nhƣ đã nêu, chúng ta có thể thấy, với
quan niệm thứ nhất thì việc nhận dạng các hành vi đƣợc coi là CTKLM sẽ là
rất rộng, có sự hoà lẫn giữa những hành vi đƣợc coi là hạn chế cạnh tranh và
những hành vi CTKLM và từ đó sẽ tạo ra sự thiếu phân hóa trong cơ chế xử
lý giữa hai nhóm hành vi này. Trong khi đó, tuy đều là hành vi cạnh tranh
biểu hiện cách hành xử của doanh nghiệp trên thƣơng trƣờng, làm hại đến sự
vận động bình thƣờng và tính lành mạnh của thị trƣờng, song chúng có những
đặc điểm khác biệt về bản chất, tính chất, mức độ nguy hại cho thị trƣờng và
theo đó dẫn tới việc sử dụng phƣơng thức áp dụng pháp luật và tính cƣơng
quyết trong việc trừng trị của pháp luật cũng khác nhau đối với hai nhóm
hành vi này.
Nếu quan niệm theo cách thứ hai thì chỉ đề cập tới các hành vi “không
trung thực trong hoạt động thƣơng mại và công nghiệp”. Quan niệm thứ ba có

cạnh tranh của mình. Và những đối thủ của nhau này phải cùng cạnh tranh
trong một thị trƣờng hàng hoá, dịch vụ hoặc thị trƣờng liên quan. Những hành
vi thoả mãn những yếu tố trên, nhƣng không phải là hành vi xuất phát từ đối 16
thủ cạnh tranh, không vì mục tiêu cạnh tranh sẽ không bị coi là hành vi
CTKLM và do đó sẽ bị xử lý bởi pháp luật chung – pháp luật dân sự.
Nhận diện các hành vi CTKLM
Xét trên phƣơng diện lập pháp, tuy không đƣợc quy định thống nhất ở
các quốc gia, nhƣng khi xem xét trên tổng thể, thông thƣờng có hai nhóm
hành vi của doanh nghiệp, đó là: (i) nhóm hành vi xâm hại đến lợi ích của đối
thủ cạnh tranh và (ii) nhóm hành vi xâm hại lợi ích khách hàng.
- Nhóm hành vi trực tiếp xâm hại lợi ích của đối thủ cạnh tranh, gồm
các hành vi sau:
+ Ngăn cản: Ngăn cản đối thủ khác trong quá trình cạnh tranh là loại
hành vi CTKLM khá phổ biến. Các doanh nghiệp bị ngăn cản ở đây là những
thành viên hiện hữu, những doanh nghiệp đang tồn tại trong một loại thị
trƣờng hàng hoá, dịch vụ hay thị trƣờng liên quan.
Hành vi ngăn cản đối thủ cạnh tranh đƣợc thực hiện chủ yếu thông qua
thủ thuật bán phá giá. Pháp luật chống CTKLM dƣới dạng chống bán phá giá
chủ yếu thông qua việc quy định cấm bán hàng dƣới giá vốn trong điều kiện
bình thƣờng. Nhƣ vậy, pháp luật cũng cho phép các doanh nghiệp bán hàng
dƣới giá vốn trong một số trƣờng hợp đƣợc coi là không bình thƣờng nhƣ:
Hàng có nguy cơ hƣ hỏng nhanh do điều kiện ngoại cảnh bất thƣờng; Bán
hàng dọn kho do thay đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh; Hàng hoá thuộc tài sản
phá sản; Các hoạt động khuyến mại thông qua việc hạ giá sản phẩm trong
những điều kiện cụ thể và ở mức độ nhất định.
Ngoài ra, thuộc nhóm hành vi ngăn cản đối thủ còn bao gồm hành vi
tẩy chay, thâu tóm khách hàng của đối thủ cũng đƣợc pháp luật chống CTKLM

phạm và đƣợc điểu chỉnh bởi pháp luật hình sự. Tuy nhiên, theo quan điểm
của các quốc gia thì hàng giả, hàng nhái không phải là vấn đề của pháp luật
hình sự. Bởi khách thể bị xâm hại là lợi ích của các hãng sản xuất "chính 18
hiệu"- các đối thủ cạnh tranh, do đó, những hành vi này không phải là hành vi
nguy hiểm cho xã hội. Liên quan đến nhóm hành vi bóc lột là rất nhiều các
hành vi hay quan hệ xã hội đƣợc điều chỉnh gần gũi với pháp luật về sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá.
Những phân tích trên đây chỉ là một trong vô số hành vi thuộc nhóm
hành vi bóc lột trong cạnh tranh. Có thể chỉ ra đây những thủ thuật khác cũng
thuộc nhóm này mà pháp luật của nhiều nƣớc cũng quy định nhƣ hành vi
quảng cáo dựa dẫm, quảng cáo so sánh. Hai phƣơng thức quảng cáo này cũng
là những hành vi vi phạm pháp luật chống CTKLM. Đây cũng là những hành
vi có tiền đề là lạm dụng, bóc lột đối thủ cạnh tranh.
- Nhóm hành vi trực tiếp xâm hại lợi ích của khách hàng:
Có những hành vi CTKLM cùng lúc có thể xâm hại đến lợi ích của cả
đối thủ cạnh tranh và khách hàng (hay ngƣời tiêu dùng).
Nhóm hành vi xâm hại lợi ích của khách hàng cũng khá đa dạng, bao
gồm nhữngnhóm hành vi sau đây:
+ Can thiệp vào quyền tự do định đoạt của khách hàng
Với sự vận hành theo cơ chế thị trƣờng, tự do kinh doanh ắt sẽ kéo theo
tự do định đoạt của khách hàng. Cũng bởi vậy, pháp luật thƣờng có những
quy định nhằm bảo vệ khách hàng từ phía những doanh nghiệp bán hàng qua
các quy định của pháp luật về bảo vệ ngƣời tiêu dùng, quyền khởi kiện của
hiệp hội ngƣời tiêu dùng; quyền huỷ hợp đồng đặc biệt của khách hàng khi có
hiện tƣợng không lành mạnh từ phía ngƣời bán hàng.
Một trong những hành vi tác động vào sự tự do quyết định của khách
hàng phải kể đến là hành vi lừa dối nhằm quyến rũ khách hàng, gây cho họ

tuyết đó càng to, mà Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam gọi là "Bán hàng đa
cấp bất chính" [9].
+ Khuyến mại nhằm CTKLM: ở Việt Nam, khuyến mại đƣợc coi là sự
ƣu việt trong nền kinh tế thị trƣờng. Tuy nhiên, ở nhiều nƣớc có nền kinh tế
thị trƣờng phát triển, nhiều hành vi khuyến mại đƣợc coi là hành vi CTKLM
và do đó có thể bị cấm thực hiện. 20
Sở dĩ bị cấm thực hiện vì khuyến mại tạo tâm lý, thói quen và sự lệ
thuộc dần của khách hàng đối với ngƣời bán hàng có khuyến mại. Khách
hàng luôn nhìn thấy cái "lợi" trƣớc mắt cho mình nên ít quan tâm đến hàng
hoá của đối thủ cạnh tranh khác Khi thói quen mua hàng đƣợc khuyến mại
trở thành phản xạ có điều kiện, khách hàng sẽ ít để ý đến chất lƣợng của sản
phẩm. Tính không lành mạnh và sự nguy hiểm của khuyến mại chính là ở chỗ nó
làm tạo những bất lợi cho ngƣời tiêu dùng, tạo thiệt thòi cho ngƣời tiêu dùng và
đồng thời làm méo mó nhu cầu của thị trƣờng.
Một số hoạt động khuyến mại chỉ là để ngụy trang cho việc giảm giá.
Trên cơ sở của "hứa thƣởng" mà khách hàng có quyền đòi hỏi những sản
phẩm hay dịch vụ phụ. Nói cách khác, việc cung cấp sản phẩm hay dịch vụ
phụ là nội dung của hợp đồng thì không phải là khuyến mại. Trong trƣờng hợp
này, giá trả cho sản phẩm hay dịch vụ chính bao gồm cả phần sản phẩm phụ.
Thực tế còn có nhiều hiện tƣợng hỗ trợ thƣơng mại khác nhƣng không
đƣợc coi là khuyến mại nhƣ: Hỗ trợ về điều kiện tín dụng; một số bảo đảm
đặc biệt liên quan đến bảo hành; giảm giá trong những điều kiện và mức độ
nhất định; sản phẩm hay dịch vụ phụ có giá trị không đáng kể và những phụ
tùng, phụ kiện đƣợc cấp kèm theo nhƣ trong thông lệ thƣơng mại,
Tuy nhiên, khuyến mại bao gồm cả việc cho dùng thử hay biếu không
sản phẩm mà đó chính là sản phẩm đang hoặc sẽ đƣợc bán. Đây là phƣơng
pháp mà một số hãng thuốc lá ngoại và một số liên doanh sản xuất xà phòng

Một chức năng quan trọng của Nhà nƣớc trong quá trình thực hiện điều
tiết nền kinh tế thị trƣờng là phải duy trì và bảo đảm đƣợc môi trƣờng cạnh
tranh lành mạnh, bình đẳng, hiệu quả giữa các chủ thể tham gia thị trƣờng.
Tuy nhiên, việc bảo đảm môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh và hiệu quả nhƣ
thế nào còn phụ thuộc vào mức độ và nguyên tắc can thiệp của Nhà nƣớc đối
với nền kinh tế. 22
Chức năng bảo đảm môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh của Nhà nƣớc
trong nền kinh tế thị trƣờng là Nhà nƣớc phải tạo ra một khuôn khổ pháp lý
theo nghĩa “Quy tắc của cuộc chơi” cho nền kinh tế thị trƣờng, trong đó, quy
luật cạnh tranh đƣợc tồn tại và duy trì nhƣ một nguyên tắc cơ bản của quá
trình vận động.
Trên cơ sở nghiên cứu quan điểm xây dựng chính sách cạnh tranh của
một số trƣờng phái kinh tế cho thấy về nguyên tắc chung là thiết lập một cơ
sở pháp lý cho hoạt động của nền kinh tế thị trƣờng mà ở đó:
- Tồn tại hệ thống giá cả có tính cạnh tranh
- Đảm bảo quyền lợi hợp pháp, bảo hộ quyền sở hữu của các chủ thể
kinh tế thuộcmọi thành phần kinh tế đối với tƣ liệu sản xuất.
- Bảo đảm nguyên tắc tự do kinh doanh, tự do khế ƣớc trên cơ sở tôn trọng
luật pháp, đạo đức xã hội và lợi ích chung của cộng đồng
- Bình đẳng trƣớc pháp luật và tự chịu trách nhiệm về mọi hành vi của các
chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế trong quá trình hoạt động trên thị trƣờng
- Trên nguyên tắc tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật, các chủ
thể kinh doanh đƣợc quyền tự gia nhập và rút lui khỏi thị trƣờng.
- Tôn trọng và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của ngƣời tiêu dùng
Để thực hiện các mục tiêu trên, chính sách của Nhà nƣớc thƣờng bao
hàm các biện pháp nhằm:
- Kiểm soát các hành vi ứng xử trong quan hệ cạnh tranh trên thị trƣờng

không chỉ là đối phó với các hành vi CTKLM, mà bên cạnh nó là hiện
tƣợng hạn chế cạnh tranh, lạm dụng độc quyền thị trƣờng để triệt tiêu
cạnh tranh, nhƣng do nhiều nguyên nhân đặc thù của lĩnh vực này, nên
nhiều nƣớc vẫn chú trọng xây dựng pháp luật chống CTKLM với những
đạo luật riêng nhƣ Thụy Sĩ (1986), Hungari, Bungari (1990), Nhật Bản
(1991), Trung Quốc (1993) 24
Bên cạnh hai lĩnh vực pháp Luật Cạnh tranh cơ bản nêu trên, còn có
các lĩnh vực khác thuộc về hay liên quan đến pháp Luật Cạnh tranh nhƣ:
Pháp luật về SHTT, pháp luật về BVNTD, pháp luật về quảng cáo, pháp
luật về thƣơng mại, pháp luật kinh doanh bảo hiểm, pháp luật về kinh
doanh chứng khoán; và các lĩnh vực pháp luật liên quan đến việc áp dụng
chế tài nhƣ: pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về dân sự,
pháp luật về hình sự
Công cụ thứ hai đó là vai trò của Nhà nƣớc trong việc hình thành lên hệ
thống các cơ quan quản lý và điều chỉnh các hoạt động CTKLM. Tùy theo
điều kiện và trình độ phát triển về kinh tế mà các quốc gia khác nhau thƣờng
có hệ thống khác nhau. Một số quốc gia ở châu Âu nhƣ Pháp, Thụy Sĩ, Đức,
thƣờng đi theo mô hình cơ quan quản lý hành vi CTKLM và cơ quan bảo vệ
quyền lợi ngƣời tiêu dùng. Cơ quan này có thể trực thuộc Bộ chuyên ngành
hoặc đặt trực tiếp dƣới sự điều hành của Thủ tƣớng.
Việc tạo dựng mô hình các cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam còn
tồn tại nhiều ý kiến khác nhau: có thể đặt cơ quan quản lý cạnh tranh nhƣ một
cơ quan ngang bộ; cơ quan trực thuộc bộ; thành lập một tòa án đặc biệt. Cụ
thể về hệ thống các cơ quan này ở Việt Nam, tác giả xin đề cập ở phần sau.
Không thể phủ nhận rằng, việc tạo dựng hệ thống các cơ quan điều
chỉnh hoạt động CTKLM đóng vai trò không kém phần quan trọng trong việc
tạo ra môi trƣờng CTKLM ở các quốc gia.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status