Luận văn thạc sỹ: Tăng cường quản lý nhà nuớc về chống hoạt động cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam - Pdf 26

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận
được sự giúp đỡ quý báu của Ban giám đốc, các giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ,
các thầy, cô giáo của Học viện Hành chính, đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn
và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với GS.TS. Lê Sỹ Thiệp – Học viện
Hành chính, người hướng dẫn khoa học đã rất nhiệt tình và trách nhiệm để tôi
hoàn thành được luận văn.
Tôi cũng xin cảm ơn Lãnh đạo Cục quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh
tranh, các Sở, ban, ngành, các cơ quan, đơn vị, cá nhân, các doanh nghiệp trên
địa bàn thành phố Hà Nội … các bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều
kiện thuận lợi trong thời gian tôi tìm hiểu tình hình thực tế và cung cấp tài
liệu, số liệu để tôi hoàn thành luận văn.
Do sự hạn chế về thời gian nghiên cứu nên luận văn có thể có nhiều
thiếu sót. Tôi mong được sự góp ý chỉ bảo của các thầy, các cô và các bạn
đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
TRẦN QUỲNH ANH
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, Luận văn Thạc sỹ quản lý hành chính công:
“Tăng cường quản lý nhà nuớc về chống hoạt động cạnh tranh
không lành mạnh ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng
tôi, dưới sự hướng dẫn của GS. TS. Lê Sỹ Thiệp, Khoa Quản lý nhà
nước về kinh tế - Học viện Hành chính.
Các thông tin, số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một luận văn
nào trước đây.
Tác giả
TRẦN QUỲNH ANH

dạng, có mặt ở khắp các ngành, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh trong nước,
tồn tại gần như hiển nhiên, thậm chí, vấn đề CTKLM đã trở nên hiểu nhiên
đối với nhiều doanh doanh, còn người tiêu dùng đã quá quen thuộc với vấn đề
này. Sở dĩ thế là vì nhiều lý do kinh tế - xã hội khác nhau, trong đó có lí do là
vì “túi tiền có hạn” và người tiêu dùng chưa thấy hết mối nguy hại từ những
thứ hàng hóa, được tạo ra từ sự CTKLM này.
Trong nhiều năm qua, rất nhiều khuyết tật của doanh nhân Việt Nam đã
được đưa lên báo chí, công luận, một số không nhỏ loại doanh nhân này đã bị
1
ra tòa và hiện còn đang chấp hành án tù. Số bị xử phạt hành chính thì không
thể thống kê nổi. Nội dung chính của các cáo trạng đối với lớp doanh nhân
này chính là phần buộc tội liên quan đến rất nhiều hành vi cạnh tranh không
lành mạnh.
Ba là, vì nền kinh tế quốc dân Việt Nam đã gia nhập các tổ chức kinh tế
quốc tế như ASEAN và WTO, nơi nghiêm cấm sự CTKLM
Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những đường lối chiến lược phát
triển kinh tế để nước ta nhằm làm cho dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ văn minh. Điều đó có nghĩa là, chúng ta phải coi trọng những quy tắc
ứng xử của các tổ chức kinh tế quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập. Không thể
“vô tổ chức, vô kỷ luật” đối với tổ chức mà mình đã tình nguyện gia nhập, đã
cam kết tuân thủ thể chế của tổ chức đó. Vì thế, vai trò của nhà nước không chỉ
là phải can thiệp vào hành vi sản xuất kinh doanh của các doanh nhân nhằm
loại bỏ những hành vi không lành mạnh trong cạnh tranh, mà còn phải định
hướng cho công dân - doanh nhân nước mình biết luật chơi, ngăn chặn rồi đi
đến triệt tiêu hẳn mọi lối “chơi xấu” của doanh nhân - công dân nước mình.
Khi còn là nền kinh tế đóng, những hành vi CTKLM nói trên còn có thể
tồn tại được ở chừng mực nhất định. Nhưng khi hàng hóa Việt Nam đã tham
gia sâu, rộng vào thị trường thế giới, nơi có những quy định khắt khe về sở
hữu trí tuệ, về bảo hộ hàng hóa và quyền lợi người tiêu dùng, thì những hành
vi CTKLM nói trên cùng hàng hóa và dịch vụ của chúng ta sẽ bị cô lập.

luật dân sự, Hà Nội, 2008; “Những hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam”, Tác giả Nguyễn Đình
Quang, Nguyễn Bá Linh, Tổng công ty Bảo Hiểm Bảo Việt, Hà Nội, 2009;
3
“Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh”, Tác giả T.S Đinh Thị Mỹ Loan, Nguyên
Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương, Hà Nội, 2008; “Pháp
luật chống canh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền liên quan
đến quyền sở hữu công nghiệp ở nước ta”, Tác giả Nguyễn Thanh Tâm, Tạp
chí Thương mại, Hà Nội, 2003; “Một số vấn đề lý luận về hạn chế và thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh”, Võ Duy Thái, Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công
Thương, Hà Nội, 2009; “Xu hướng thảo thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt
Nam”, Tác giả Võ Duy Thái, Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương, Hà
Nội, 2009; “Giới thiệu về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh”, Tác
giả Tích Phước, Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương, Hà Nội, 2009.
Trước hết phải nói rằng, những công trình nghiên cứu trên là có giá trị.
Chúng đã góp phần rất lớn vào việc hình thành lý thuyết QLNN đối với cạnh
tranh và chống CTKLM, trong đó, phần rất lớn liên quan đến sự hoàn thiện
pháp luật Việt Nam về chống CTKLM.
Tuy thế, chúng tôi vẫn thấy, đối tượng quản lý của nhà nước về
CTKLM, do các công trình trên đề cập, có phần chưa đủ. Các công trình trên
thường chỉ chú ý đến các hành vi thương mại, mà chưa chú ý đến các hành vi
“tiền thương mại”. Trong khi, chính các hành vi tiền thương mại mới là cái
làm nên sự cạnh tranh lành mạnh hay không lành mạnh.
Nhưng loại hành vi này đã có vị trí chưa đủ mức trong các công trình
nghiên cứu nói trên, trong khi, chính chúng mới là đối tượng cần hạn chế
hàng đầu.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn nhằm mục đích đóng góp một phần lý
luận và thực tiễn trong việc tăng cường QLNN về chống CTKLM, để nhà
nước quản lý tốt hơn cuộc cạnh tranh của các doanh nhân, doanh nghiệp Việt

8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, nội dung, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: CỞ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
CHỐNG HOẠT ĐỘNG CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỐNG
HOẠT ĐỘNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
Ở VIỆT NAM
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC NHẰM BẢO ĐẢM CẠNH
TRANH LÀNH MẠNH TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT
NAM
6
Chương 1
CỞ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CHỐNG HOẠT ĐỘNG CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH
1.1. Cạnh tranh không lành mạnh, đối tượng kiểm soát của QLNN về
kinh tế trong thời đại ngày nay
1.1.1. Một số vấn đề về cạnh tranh
1.1.1.1. Định nghĩa
Cạnh tranh là một trong những hiện tượng kinh tế, được nhiều giới và
nhiều thời đại quan tâm.
Sự quan tâm đến cạnh tranh có mục đích là để tỏ thái độ với hiện tượng
này. Thái độ đó có thể là đồng tình, từ đó tạo điều kiện cho nó phát triển,
cũng có thể là phản đối, từ đó tìm biện pháp loại trừ, ngăn cản.
Để sự đồng tình hay phản đối cạnh tranh được bày tỏ đúng đối tượng,
vấn đề hàng đầu, được đặt ra cho những người quan tâm đến cạnh tranh, là
vấn đề “thế nào là cạnh tranh”, để từ đó tìm ra một định nghĩa đúng bản chất

tranh, xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau về chủ thể cạnh tranh, môi
trường cạnh tranh và đối tượng cạnh tranh. Nhưng các cách tiếp cận này đều
nói lên bản chất của hành vi cạnh tranh. Do vậy, có thể hiểu một cách thống
nhất về hành vi cạnh tranh như sau:
“Cạnh tranh là sự tranh giành giữa nhiều chủ thể hành động về một giá
trị nào đó bằng hệ thống hành vi, có tác dụng như là những tác động gián
tiếp để vật tranh giành kia thuộc về mình”.
8
1.1.1.2. Đặc trưng của cạnh tranh
+ Tính phổ biến
Cạnh tranh là hoạt động có tính phổ biến, hành vi này tồn tại ở mọi sự
vật sống, từ thực vật đến động vật, từ sinh vật tự nhiên đến con người xã hội.
Riêng trong thế giới loài người, hoạt động cạnh tranh càng đa dạng và phức
tại, tồn tại ở mọi thời đại, mọi hoạt động. Chúng ta thường nói “đấu tranh sinh
tồn là lẽ tự nhiên”, “cạnh tranh là động lực của sự phát triển”. Đó chính là sự
thừa nhận trên thực tế về tính phổ biến của hoạt động cạnh tranh trong đời
sống tự nhiên và xã hội.
+ Tính có điều kiện
Tính có điều kiện của cạnh tranh không phủ định hoặc không trái với
tính phổ biến của cạnh tranh, mà chúng tôi vừa nêu ở trên.
Cạnh tranh là bản năng sin tồn của muôn loài, là sự tiềm ẩn trong muôn
loài. Nhưng sự tiềm ẩn này chỉ biến thành hiện thực trong những điều kiện
nhất định. Điều đó cũng giống như sự nẩy mầm là bản năng của hạt. Không
có hạt lành lặn nào không nẩy mầm. Nhưng không có điều kiện khí hậu và
nước, hạt không thể này mầm.
Với cạnh tranh, điều kiện đó là:
Thứ nhất, “đa cá thể” có cùng lợi ích: Người ta chỉ tranh giành nhau khi
cùng muốn một giá trị nào đó. Nếu có hai thứ khác nhau, và mỗi người thích
một thứ, thì không có sự tranh giành.
Thứ hai, lợi ích có tính cá thể: Tức là các chủ thể tranh giành phải có

+ Mặt xấu: Trong hoạt động cạnh tranh, bên cạnh những mặt tích cực thì
cũng tồn tại nhiều mặt xấu, cụ thể:
- Cạnh tranh dễ dẫn đến triệt tiêu đồng loại: Cạnh tranh thương trường
dẫn đến độc quyền, mà sự độc quyền của một hãng nào đó sẽ hạn chế sự lựa
10
chọn của người tiêu dùng, như sự độc quyền của đường sắt Việt Nam, Điện
lực Việt Nam hiện nay.
- Cạnh tranh dễ dẫn đến hành vi gian dối, vi phạm các chuẩn mực đạo
đức con người.
1.1.2. Cạnh tranh thương trường (CTTT)
1.1.2.1. Định nghĩa CTTT
Từ định nghĩa hay quan niệm về cạnh tranh nói chung, như đã nêu, có
thể đi đến một định nghĩa như sau về CTTT
CTTT là sự giành giật lợi nhuận hoặc những giá trị làm nên lợi nhuận giữa
các doanh nghiệp, doanh nhân bằng những biện pháp chính đáng hoặc không
chính đáng có tính chất nghiệp vụ kinh tế - kỹ thuật và quản trị kinh doanh
1.1.2.2. Đặc trưng của CTTT
Trên cơ sở đặc trưng chung của cạnh tranh, đã được nêu ở trên, vận dụng
vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh có thể thấy, CTTT có những đặc trưng mà
những đặc trưng này cũng chính là những ý sâu xa của định nghĩa về CTTT,
mà chúng tôi vừa đưa ra ở trên.
Các đặc trưng đó là:
+ CTTT là thuộc tính của nền kinh tế đa sở hữu
Biểu hiện cụ thể của nền kinh tế đa sở hữu là có sự tồn tại của nhiều
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu khác
nhau. Kinh tế học đã chỉ rõ cạnh tranh là hoạt động của các chủ thể kinh
doanh nhằm tranh dành hoặc mở rộng thị trường, do đó cần phải có sự tồn tại
của nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế trên thị trường. Khi
trong thị trường nhất định nào đó chỉ có một doanh nghiệp tồn tại hoặc có
nhiều doanh nghiệp nhưng các doanh nghiệp này đều thuộc về một thành

quản lý nhà nước khác.
12
1.1.2.3. Điều kiện để có CTTT
+Thứ nhất, nền kinh tế đa sở hữu
Phải có nền kinh tế đa sở hữu mới có cạnh tranh, bởi vì nếu là nền kinh
tế thuần sở hữu nhà nước và kinh tế tập thể, nhưng kinh tế tập thể lại ở dạng
HTX cao cấp, thì cũng coi như kinh tế nhà nước sẽ không có cạnh tranh. Chỉ
khi nào mỗi doanh nghiệp thuộc sự sở hữu khác nhau, có quyền lợi riêng thì
mới có cạnh tranh.
+ Pháp luật toàn diện, đồng bộ
Khoa học pháp lý đã có sự giải thích về tính đồng bộ của hệ thống pháp
luật. Trong phạm vi luận văn này, điều cần nói là mối quan hệ giữa sự toàn
diện và đồng bộ của pháp luật với sự CTTT, trả lời câu hỏi: vì sao để có
CTTT phải có pháp luận đồng bộ và toàn diện.
Lý do là ở chỗ:
- Phải có Luật vì CTTT là hành vi tranh giành lợi ích, thứ tranh giành
khốc liệt. Sự tranh giành này có giới hạn của nó. Mà giới hạn này rất mong
manh và để xác định đâu là gianh giới thì cần căn cứ cứ vào quy định của
pháp luật về điều đó chứ không thể suy lý được. Nếu không có hệ quy chiếu
cho hành vi này thì mọi hành vi cạnh tranh đều có thể tùy sự yêu ghét cá nhân
mà bị kết tội hay được tuyên công.
- Luật phải toàn diện vì CTTT là tổng thể hành vi, bao chùm nhiều lĩnh
vực kinh tế xã hội. Vì thế, để điều chỉnh quan hệ CTTT cần có không chỉ một
Luật, mà cần cả hệ thống Luật. Trong đó, có thể có những đạo luật chỉ được
vận dụng một vài Điều-Khoản. Nhưng vẫn phải có.
- Luật phải đồng bộ, vì CTTT là tổng thể nhiều quan hệ kinh tế - xã hội,
có sự gắn bó hệ hữu cơ với nhau. Nếu luật không đồng bộ, tức là, Đạo luật
này cho phép, Đạo luật kia lại cấm, Đạo luật này quy định hành vi cạnh tranh
này là quan hệ Dân sự, Đạo luật nào đó nữa lại coi là quan hệ Hình sự. Sự
13

Nhưng nếu cạnh trạnh trong môi trường xã hội kém phát triển hơn so với các
hoạt động kinh tế này cạnh tranh vẫn có thể diễn ra, nhưng là cạnh tranh đi
xuống. Điều đó chỉ làm hạn chế sự phát triển xã hội. Điều này đang diễn ra
trên thị trường âm nhạc nói riêng, nghệ thuật biểu diễn ở nước ta nói chung.
Môi trường xã hội tốt còn có nghĩa là mức sống của nhân dân. Một nhân
dân chỉ mơ đủ ăn, đủ mặc, mơ ăn no, mặc ấm, chưa hề mơ ăn ngon, mặc đẹp
vì thu nhập thấp, thì các doanh nhân không nhất thiết phải cạnh vì mọi nỗ lực
của doanh nhân khi đó chỉ là về gia tăng số lượng và giá thật rẻ, chất lượng
không thành vấn đề.
+ Không có doanh nghiệp nhà nước tham gia
Không có DNNN tham gia cạnh tranh, chứ không phải là không có
doanh nghiệp nhà nước trong nền KTQD.
DNNN là một sản phẩm đặc biệt của nhà nước trong nền kinh tế quốc
dân, được nhà nước lập ra để thực thi những nghĩa vụ thiêng liêng nhất định,
nó không có sứ mạng làm giầu, nên không nhất thiết phải tham gia hoạt động
cạnh tranh. Nhưng nếu có DNNN tham gia cạnh tranh thì nó sẽ tạo nên sự
nghi ngờ về sự công tâm, vô tư của các nhà QLNN. Không có gì bảo đảm
rằng, các nhà chức trách không “bênh” các doanh nhân nhà nước khi họ có
hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
1.1.2.4. Ý nghĩa của CTTT
Nếu cạnh tranh lành mạnh, nếu người cạnh tranh dùng các biện pháp tổ
chức kinh tế, kỹ thuật và quản trị kinh doanh hiện đại để chiến thắng đối thủ,
thì cạnh tranh đó đồng nghĩa với khoa học hóa, hiện đại hóa, văn minh hóa,
nhân văn hóa hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả là:
15
- Bản thân doanh nghiệp và các doanh nhân sẽ giành chiến thắng một
cách bền vững vì có chiều sâu khoa học và công nghệ được bảo đảm. Mọi sự
nỗ lực chân chính sẽ làm cho doanh nghiệp và doanh nhân lớn mạnh thật sự
chứ không là “mạnh ảo”. Đó là nền móng của sự giầu mạnh vững bền của đất
nước. Mọi sự xảo trá, dối lừa trước sau cũng bị vạch trần, nền kinh tế của

vệ loại cạnh tranh này xuất hiện, khi loại cạnh tranh này có nguy cơ bị chặn
lại bằng sự QLNN. Người bảo vệ cạnh tranh tự do điển hình là Adam Smith.
Ông đã chỉ ra rằng: “Trong khi chạy theo tư lợi thì có một "bàn tay vô hình"
buộc con người kinh tế đồng thời phải thực hiện một nhiệm vụ không nằm
trong dự kiến là đáp ứng lợi ích xã hội và đôi khi họ còn đáp ứng lợi ích xã
hội tốt hơn ngay cả khi họ có ý định làm điều đó từ trước”[1;tr217].
Theo ông, "Bàn tay vô hình" đó chính là các quy luật kinh tế khách quan
tự phát, hoạt động chi phối hoạt động của con người. Do đó, việc nhà nước
can thiệp vào kinh tế sẽ làm giảm bớt sự tăng trưởng của cải và sử dụng
không hợp lý tài nguyên.
Nhiều nhà khoa học đồng thời với Adam Smith cũng cho rằng, cạnh
tranh tự do là quy luật đặc thù của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, ở
đó, giá cả phải được tự do vận động lên xuống theo sự chi phối của quan hệ
cung cầu, của các thế lực trên thị trường. Những điều tự do đó chính là tác
nhân, là động lực của tích tụ và tập trung tư bản trên nền tảng "tự do được
nuôi dưỡng bởi chính tự do".
- Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước
Đó chính là thứ cạnh tranh mà ta đang chấp nhận, xuất hiện từ sau các
cuộc khủng hoảng kinh tế của những thập niên 20-30, được Samuelson đề
sướng, với hình tượng “vỗ tay bằng hai bàn tay”. Theo lối cạnh tranh này,
Nhà nước xác lập hành lang cạnh tranh nhất định, các doanh nghiệp và doanh
nhân được phép hoạt động trong hành lang định sẵn đó.
17
+ Căn cứ vào tính chất, mức độ biểu hiện của cạnh tranh, có:
- Cạnh tranh hoàn hảo
“Hoàn hảo” có nghĩa là “Điều kiện hoàn hảo để cạnh tranh”. Sự hoàn
hảo này thể hiện trên các mặt sau đây:
Số lượng các doanh nghiệp tham gia thị trường và số lượng khách hàng
rất lớn, đủ để không một ai trong số họ có khả năng tác động đến thị trường.
Sản phẩm tham gia trên thị trường phải đồng nhất và tiêu chuẩn hóa

kinh doanh được nhà nước và xã hội chấp nhận; Tính công bằng với sự kết hợp
hài hoà lợi ích của người kinh doanh với lợi ích của người khác, lợi ích công.
- Cạnh tranh không lành mạnh
Chúng tôi sẽ có mục riêng nói về loại cạnh tranh này. Vì thế, xin không
trình bày ở đây. Nhưng hành vi này chính là cặp tương phản với cạnh tranh
lành mạnh.
1.1.2.6. Các hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp-doanh nhân
Hành vi cạnh tranh rất đa dạng. Vì thế, khó có thể kiệt kê hết các hành vi
cạnh tranh của doanh nghiệp và doanh nhân.
Để có thể đưa ra các hành vi cạnh tranh, cần dựa vào những tiền đề sau
đây: Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi nhuận tối đa và lợi nhuận, được
quyết định bởi các đại lượng cơ bản sau đây:
Một là, sản lượng tiêu thụ (càng lớn càng tốt), trong đó sản lượng lại phụ
thuộc vào xã hội có nhu cầu về loại hàng hóa do được sản xuất ra hay không;
Chất lượng hàng hóa và giá bán như thế nào và chính sách hậu mãi của hãng
như thế nào?
Hai là, giá thành đơn vị sản phẩm (càng nhỏ càng tốt), trong đó giá thành
phụ thuộc vào năng xuất lao động, trình độ máy móc, thiết bị và công nghệ của
doanh nghiệp tiên tiến hay lạc hậu; Nguyên liệu được dùng trong doanh nghiệp
19
có chất lượng tốt hay xấu, được cung ứng ổn định hay thất thường; hoạt động
quản trị kinh doanh được tổ chức và trang bị hiện đại hay lạc hậu.
Ba là, giá cả, điều này phụ thuộc vào mức giá bình quân của thị
trường hàng hoá cùng loại; sự tín nhiệm của khách hàng về thương hiệu
của doanh nghiệp.
Căn cứ vào cái nhìn trên, có thể thấy việc cạnh tranh của doanh nghiệp và
doanh nhân được thể hiện qua việc thực hiện các hoạt động sau đây:
+ Thực thi các hoạt động tổ chức lại sản xuất nội bộ doanh nghiệp, hiện
đại hoá kỹ thuật và công nghệ nhằm làm cho hạ giá thành và nâng cao chất
lượng sản phẩm

ý nghĩa quyết định chiến thắng, với ý tưởng là “ai có nguyên liệu người đó sẽ
chiến thắng”.
+ Thực thi các chính sách hậu mãi
Chăm sóc khách hàng là tên gọi chung của hoạt động này. Yêu cầu
chung đối với hoạt động chăm sóc khách hàng là “vui lòng khách đến, vừa
lòng khách đi”. Hoạt động này có thể được thực hiện ở nhiều khâu từ bán
hàng, bảo hành sản phẩm,…
+ Xây dựng thương hiệu bền vững và ấn tượng
Thương hiệu có bản chất là Uy tín, là “Tiếng thơm” về một Hãng hay về
một loại sản phẩn nào đó của Hãng, được biểu tượng hóa bằng một Hình
tượng nào đó, mà mỗi khi khách hàng hoặc toàn xã hội trông hay nghe thấy
biểu tượng đó là người ta nghĩ ngay đến tất mọi điều tốt đẹp của hãng này,
sản phẩm này, như một phản xạ có điều kiện vậy. Việc xây dựng thương hiệu
phải được thực hiện trên hai mặt:
Một là, tạo cái tốt thật sự, liên tục để toàn xã hội thừa nhận và tin dùng;
21

Trích đoạn Kinh nghiệm của Nhật Bản Kinh nghiệm của Hoa Kỳ Kinh nghiệm EU Những điều có giá trị, rút ta từ thực tiễn chống CTKL Mở các nước nói trên Một số hành vi CTKLM điển hình
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status