Quản lý Nhà nước đối với hoạt động cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam : Luận văn ThS. Kinh tế: 60 31 01 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

---------------------

NGUYỄN THÀNH HẢI

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Hà Nội – 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

NGUYỄN THÀNH HẢI

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số

: 60 31 01


2.2. Hệ thống cơ quan quản lý, kiểm soát các hoạt động CTKLM tại Việt Nam ... 36
2.2.1 Cục Quản lý cạnh tranh ....................................................................... 36
2.2.2 Các cơ quan quản lý chuyên ngành khác ............................................. 37
2.3 Thực trạng công tác phát hiện và xử lý các hoạt động CTKLM tại Việt
Nam trong giai đoạn 2006-2011 ................................................................... 38

2


2.4. Một số vụ việc CTKLM điển hình sau khi Luật cạnh tranh ra đời và hoạt
động quản lý của Nhà nƣớc (2005-nay) ........................................................ 40
Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG BỐI CẢNH NỀN KINH
TẾ THỊ TRƢỜNG Ở VIỆT NAM ................................................................ 48
3.1. Bối cảnh mới của nền kinh tế thị trƣờng có tác động tới hoạt động
CTKLM tại Việt Nam .................................................................................. 48
3.1.1 Quan điểm của Nhà nƣớc về chống CTKLM trong cơ chế thị trƣờng .. 48
3.1.2 Những tác động của các thành phần kinh tế tới môi trƣờng cạnh tranh
bình đẳng, lành mạnh tại Việt Nam trong thời gian qua ................................ 51
3.2. Giải pháp quản lý các hoạt động CTKLM trong bối cảnh nền kinh tế thị
trƣờng tại Việt Nam ..................................................................................... 53
3.2.1 Hoàn thiện môi trƣờng thể chế, chính sách .......................................... 54
3.2.2 Hoàn thiện hệ thống các cơ quan quản lý............................................. 60
3.2.3 Các công cụ và biện pháp hỗ trợ khác.................................................. 63
KẾT LUẬN .................................................................................................. 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 69

3



Ủy ban châu Âu

5

OECD

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

6

SHTT

Sở hữu trí tuệ

TRIPS (Trade-related
7

Aspects of

Thoả thuận về những khía cạnh liên quan

Intellectual Property

tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ

Rights)
8

USFTC


tranh – Bộ Công Thƣơng đang ở quá trình phát triển ban đầu. Môi trƣờng
pháp luật cũng còn nhiều bất cập, sau 6 năm có hiệu lực và đi vào đời sống xã
hội, Luật Cạnh tranh ban hành năm 2004 và có hiệu lực năm 2005 ngày càng
chứng tỏ những khiếm khuyết gây những khó khăn cho công tác thực thi và
đứng trƣớc yêu cầu phải có những đổi mới trong thời gian sắp tới. Đồng thời
việc quản lý hoạt động CTKLM còn có những chồng chéo giữa các cơ quan
quản lý khác nhau nhƣ Bộ Công Thƣơng, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế
hoạch và Đầu tƣ,…

5


Trong những năm gần đây, quản lý hoạt động cạnh tranh không lành
mạnh là vấn đề đƣợc sự quan tâm của nhiều giới, nhiều nhà khoa học và một
số công trình nghiên cứu vì: sự vận động của các quan hệ kinh tế trong nền
kinh tế thị trƣờng đòi hỏi Nhà nƣớc phải thực sự trở thành công cụ điều tiết có
hiệu quả vừa góp phần bình ổn các quan hệ kinh tế vừa điều chỉnh quan hệ
kinh tế để nền kinh tế phát triển một cách lành mạnh, ổn định, có tổ chức,
theo định hƣớng, mục tiêu đã định.
Vì lợi ích sống còn của doanh nghiệp, các doanh nghiệp nhiều khi
không trừ một biện pháp nào để nhằm loại bỏ đối thủ ra khỏi thị trƣờng hoặc
làm xấu hình ảnh các doanh nghiệp khác để tạo lợi thế bất chính. Các hoạt
động CTKLM trên thị trƣờng giữa doanh nghiệp nƣớc ngoài với doanh
nghiệp trong nƣớc; giữa hàng nội và hàng ngoại; giữa các doanh nghiệp thuộc
khu vực kinh tế tƣ nhân và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế quốc
doanh... vẫn đã và đang diễn ra vô cùng sôi động
Vì thế, việc quản lý và chống CTKLM có tầm quan trọng đặc biệt
nhằm cải thiện môi trƣờng pháp lý, khuyến khích hơn nữa các hoạt động đầu
tƣ, sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế trong và ngoài nƣớc, tạo môi
trƣờng lành mạnh, bình đẳng, an toàn cho các doanh nghiệp và đồng thời bảo

Viện nghiên cứu thị trƣờng giá cả tiến hành năm 1996. Tiếp đó là các công
trình nghiên cứu liên quan đến cạnh tranh thuộc dự án VIE/94/003-Tăng
cƣờng năng lực pháp luật tại Việt Nam (năm 1998); Viện nghiên cứu quản lý
kinh tế trung ƣơng (năm 2001 và 2002), Viện nghiên cứu nhà nƣớc và pháp
luật (năm 2001)...Đây là những công trình đầu tiên nghiên cứu cả về lý luận
và thực tiễn về những vấn đề có liên quan đến kiểm soát hành vi cạnh tranh,
pháp luật cạnh tranh, và môi trƣờng cạnh tranh đã tạo luận cứ cũng nhƣ tiền
đề khuyến nghị đến việc cần xây dựng môi trƣờng cạnh tranh ở Việt Nam.
Bên cạnh những công trình đó, đã có nhiều luận án tiến sỹ nghiên cứu
về cả chống hạn chế cạnh tranh và chống CTKLM. Một số chuyên gia đã xuất

7


bản những cuốn sách chuyên khảo về cạnh tranh nhƣ: "Tiến tới xây dựng
pháp luật về cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng ở
Việt Nam" của Phó Giáo sƣ, Tiến sỹ Nguyễn Nhƣ Phát và Tiến sĩ Bùi Nguyên
Khánh năm 2001. Bên cạnh đó cần phải kể đến nhiều bài báo khoa học đƣợc
đăng trên một số tạp chí chuyên ngành nhà nƣớc của các chuyên gia nhƣ:
Giáo sƣ, Tiến sỹ khoa học Đào Trí úc; Phó Giáo sƣ, Tiến sỹ Nguyễn Nhƣ
Phát; Phó Giáo sƣ, Tiến sỹ, Trần Đình Hảo; Phó Giáo sƣ, Tiến sỹ Phạm Duy
Nghĩa.... Các công trình nghiên cứu này đã đề cập các vấn đề về chính sách
cạnh tranh, cơ sở lý luận của kiểm soát cạnh tranh, nội dung của pháp luật
cạnh tranh, thực trạng CTKLM và kiểm soát đối với các hoạt động CTKLM.
Các nghiên cứu này đƣợc tiếp cận dƣới nhiều góc độ khác nhau và đều nhằm
mục đích là xây dựng luận cứ, đề xuất các định hƣớng về nội dung, phạm vi
điều chỉnh, phƣơng thức thực hiện và đƣa ra các khuyến nghị về việc hoàn
thiện hơn môi truờng canh tranh ở Việt Nam. Hay nói cách khác, các công
trình này đƣợc nghiên cứu trƣớc khi ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004.
Nhằm góp phần vào công tác tuyên truyền phổ biến và tạo dựng môi

Luật cạnh tranh có hiệu lực năm 2005 cho tới nay.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Phƣơng pháp nghiên cứu có tính chất bao trùm đƣợc quán triệt để thực
hiện luận văn là phƣơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác -Lênin, theo đó vấn đề nghiên cứu phải đƣợc đặt trong bối cảnh
lịch sử, cụ thể của quá trình hình thành và phát triển của môi trƣờng cạnh
tranh hình thành trong nền kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta, đặc biệt là nghiên cứu
từ mốc thời gian sau khi có Luật Cạnh tranh có hiệu lực năm 2005. Tại luận
văn này phƣơng pháp so sánh đƣợc sử dụng phổ biến vì:
- Ở nƣớc ta, kiểm soát hoạt động CTKLM còn là lĩnh vực mới, chƣa có
kinh nghiệm trong công tác quản lý nhà nƣớc;
- Phƣơng pháp so sánh cho phép chúng ta tìm hiểu quan điểm tiếp cận
chống CTKLM từ thực tiễn quản lý của nƣớc ngoài cũng nhƣ thấy đƣợc khía
cạnh quốc tế của CTKLM.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phƣơng pháp phân tích, tổng hợp để
làm rõ cơ sở lý luận về cạnh tranh nói chung và CTKLM nói riêng; phƣơng

10


pháp thống kê để làm rõ thực trạng CTKLM và sự quản lý Nhà nƣớc đối với
các hoạt động CTKLM ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, luận văn có sử dụng công tác nghiên cứu tại bàn thông
qua các tài liệu thứ cấp là các chuyên đề, đề tài nghiên cứu và các tài liệu hội
thảo, hội nghị của Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thƣơng, từ thời gian
2005 tới nay liên quan tới công tác kiểm soát hoạt động CTKLM của các
quốc gia, khu vực cũng nhƣ tại Việt Nam.
6. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC CỦA LUẬN VĂN
Đây là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận, khái
niệm, nội dung của các hoạt động CTKLM. Việc làm này có ý nghĩa đặc biệt

cạnh tranh lành mạnh. Tuy vậy, dƣới góc độ thực tiễn, các quốc gia đều có sự
thống nhất về bản chất của cạnh tranh lành mạnh. Theo đó, cạnh tranh lành
mạnh đƣợc hiểu là cạnh tranh trung thực, công bằng, hợp pháp, hợp đạo đức,
tập quán kinh doanh; là hình thức cạnh tranh đẹp, trong sáng, cạnh tranh bằng
tiềm năng vốn có của bản thân doanh nghiệp, vì lợi ích của bản thân trên tinh
thần tôn trọng lợi ích của các chủ thể kinh doanh khác, của ngƣời tiêu dùng và
lợi ích công cộng.
Qua đây có thể thấy rằng, cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp
có một số đặc điểm là:
+ Tuân thủ đúng pháp luật;
+ Tôn trọng truyền thống, tập quán kinh doanh;
+ Phù hợp với đạo đức kinh doanh;
+ Phù hợp với thông lệ quốc tế;
+ Là động lực phát triển kinh tế-xã hội.
Qua các đặc điểm trên cho thấy, cạnh tranh lành mạnh có nội hàm rất
rộng và từ đó rất khó có thể quy định cụ thể, đầy đủ thế nào là hành vi cạnh
tranh lành mạnh. Điều đó đã dẫn đến việc tiếp cận pháp luật từ mặt trái của
hành vi và không triệt để trong việc xác định về mặt nội dung. Và do đó có

12


chuyên gia cho rằng, nếu xuất phát từ nguyên tắc các chủ thể kinh doanh đƣợc
làm tất cả những gì pháp luật không cấm (chứ không phải chỉ đƣợc làm những
gì mà pháp luật quy định) thì có thể thấy không thể xây dựng đƣợc khái niệm
chuẩn đúng trong mọi trƣờng hợp và cũng không thể xây dựng đƣợc pháp
Luật Cạnh tranh điều chỉnh các hành vi cạnh tranh mang tính tích cực và từ
đó quy định đó là hành vi cạnh tranh hợp pháp, mà ngƣợc lại về mặt phƣơng
pháp phải xác định hoạt động CTKLM và quy định thành điều cấm. Đối lập
với cạnh tranh lành mạnh là CTKLM. Việc xác định là lành mạnh hay không

Quan niệm thứ ba cho rằng CTKLM là hành vi cạnh tranh của doanh
nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với chuẩn mực thông thƣờng về đạo
đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nƣớc,
quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh khác hoặc ngƣời tiêu dùng.
Nhƣ vậy, với 3 cách quan niệm nhƣ đã nêu, chúng ta có thể thấy, với
quan niệm thứ nhất thì việc nhận dạng các hành vi đƣợc coi là CTKLM sẽ là
rất rộng, có sự hoà lẫn giữa những hành vi đƣợc coi là hạn chế cạnh tranh và
những hành vi CTKLM và từ đó sẽ tạo ra sự thiếu phân hóa trong cơ chế xử
lý giữa hai nhóm hành vi này. Trong khi đó, tuy đều là hành vi cạnh tranh
biểu hiện cách hành xử của doanh nghiệp trên thƣơng trƣờng, làm hại đến sự
vận động bình thƣờng và tính lành mạnh của thị trƣờng, song chúng có những
đặc điểm khác biệt về bản chất, tính chất, mức độ nguy hại cho thị trƣờng và
theo đó dẫn tới việc sử dụng phƣơng thức áp dụng pháp luật và tính cƣơng
quyết trong việc trừng trị của pháp luật cũng khác nhau đối với hai nhóm
hành vi này.
Nếu quan niệm theo cách thứ hai thì chỉ đề cập tới các hành vi “không
trung thực trong hoạt động thƣơng mại và công nghiệp”. Quan niệm thứ ba có
phần hẹp hơn quan niệm thứ nhất, nhƣng rộng hơn quan niệm thứ hai, theo đó
hành vi CTKLM gồm bất cứ hành vi nào “trái với chuẩn mực thông thƣờng
về đạo đức kinh doanh” và điều này sẽ bao gồm cả hành vi “không trung

14


thực” và cả hành vi đƣợc coi là “trung thực” nhƣng trái với chuẩn mực thông
thƣờng về đạo đức kinh doanh. Với cách định nghĩa theo cách thứ ba này thì
hành vi CTKLM không bị bó hẹp trong việc cấm đoán các hành vi CTKLM
chỉ trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp mà còn mở rộng sang các lĩnh vực khác.
Quan niệm thứ 3 về CTKLM cũng là quan niệm đƣợc quy định tại Luật
Cạnh tranh2004 của Việt Nam (khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh2004). Đây

hành vi của doanh nghiệp, đó là: (i) nhóm hành vi xâm hại đến lợi ích của đối
thủ cạnh tranh và (ii) nhóm hành vi xâm hại lợi ích khách hàng.
- Nhóm hành vi trực tiếp xâm hại lợi ích của đối thủ cạnh tranh, gồm
các hành vi sau:
+ Ngăn cản: Ngăn cản đối thủ khác trong quá trình cạnh tranh là loại
hành vi CTKLM khá phổ biến. Các doanh nghiệp bị ngăn cản ở đây là những
thành viên hiện hữu, những doanh nghiệp đang tồn tại trong một loại thị
trƣờng hàng hoá, dịch vụ hay thị trƣờng liên quan.
Hành vi ngăn cản đối thủ cạnh tranh đƣợc thực hiện chủ yếu thông qua
thủ thuật bán phá giá. Pháp luật chống CTKLM dƣới dạng chống bán phá giá
chủ yếu thông qua việc quy định cấm bán hàng dƣới giá vốn trong điều kiện
bình thƣờng. Nhƣ vậy, pháp luật cũng cho phép các doanh nghiệp bán hàng
dƣới giá vốn trong một số trƣờng hợp đƣợc coi là không bình thƣờng nhƣ:
Hàng có nguy cơ hƣ hỏng nhanh do điều kiện ngoại cảnh bất thƣờng; Bán
hàng dọn kho do thay đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh; Hàng hoá thuộc tài sản
phá sản; Các hoạt động khuyến mại thông qua việc hạ giá sản phẩm trong
những điều kiện cụ thể và ở mức độ nhất định.
Ngoài ra, thuộc nhóm hành vi ngăn cản đối thủ còn bao gồm hành vi
tẩy chay, thâu tóm khách hàng của đối thủ cũng đƣợc pháp luật chống CTKLM
điều chỉnh.
+ Dèm pha bôi nhọ đối thủ: Việc đƣa tin thất thiệt về ngƣời khác là
điều không thể loại bỏ trong cuộc sống. Để chống lại cách hành xử này, mọi

16


quốc gia đều có những quy định nhằm bảo vệ nhân phẩm, danh sự, uy tín của
mọi pháp nhân, thể nhân (gồm cả thƣơng gia). Bên cạnh những quy định
chung của Bộ luật dân sự, thông thƣờng vẫn có các quy định riêng cụ thể, dành
cho các thƣơng gia với tính cách là các đối thủ cạnh tranh trong thƣơng trƣờng.

kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá.
Những phân tích trên đây chỉ là một trong vô số hành vi thuộc nhóm
hành vi bóc lột trong cạnh tranh. Có thể chỉ ra đây những thủ thuật khác cũng
thuộc nhóm này mà pháp luật của nhiều nƣớc cũng quy định nhƣ hành vi
quảng cáo dựa dẫm, quảng cáo so sánh. Hai phƣơng thức quảng cáo này cũng
là những hành vi vi phạm pháp luật chống CTKLM. Đây cũng là những hành
vi có tiền đề là lạm dụng, bóc lột đối thủ cạnh tranh.
- Nhóm hành vi trực tiếp xâm hại lợi ích của khách hàng:
Có những hành vi CTKLM cùng lúc có thể xâm hại đến lợi ích của cả
đối thủ cạnh tranh và khách hàng (hay ngƣời tiêu dùng).
Nhóm hành vi xâm hại lợi ích của khách hàng cũng khá đa dạng, bao
gồm nhữngnhóm hành vi sau đây:
+ Can thiệp vào quyền tự do định đoạt của khách hàng
Với sự vận hành theo cơ chế thị trƣờng, tự do kinh doanh ắt sẽ kéo theo
tự do định đoạt của khách hàng. Cũng bởi vậy, pháp luật thƣờng có những
quy định nhằm bảo vệ khách hàng từ phía những doanh nghiệp bán hàng qua
các quy định của pháp luật về bảo vệ ngƣời tiêu dùng, quyền khởi kiện của
hiệp hội ngƣời tiêu dùng; quyền huỷ hợp đồng đặc biệt của khách hàng khi có
hiện tƣợng không lành mạnh từ phía ngƣời bán hàng.
Một trong những hành vi tác động vào sự tự do quyết định của khách
hàng phải kể đến là hành vi lừa dối nhằm quyến rũ khách hàng, gây cho họ
không hoàn toàn tự chủ trong khi quyết định tham gia quan hệ mua bán. Bên
cạnh phƣơng thức này còn có những lừa dối về quyền đặc biệt của khách hàng
khi họ tham gia quan hệ mua bán. Những nhà bán hàng dạng này thƣờng lừa
dối thông qua phƣơng thức quảng cáo, vì thông lệ, nội dung của quảng cáo chƣa

18


phải là nội dung của chào hàng.

Sở dĩ bị cấm thực hiện vì khuyến mại tạo tâm lý, thói quen và sự lệ
thuộc dần của khách hàng đối với ngƣời bán hàng có khuyến mại. Khách
hàng luôn nhìn thấy cái "lợi" trƣớc mắt cho mình nên ít quan tâm đến hàng
hoá của đối thủ cạnh tranh khác...Khi thói quen mua hàng đƣợc khuyến mại
trở thành phản xạ có điều kiện, khách hàng sẽ ít để ý đến chất lƣợng của sản
phẩm. Tính không lành mạnh và sự nguy hiểm của khuyến mại chính là ở chỗ nó
làm tạo những bất lợi cho ngƣời tiêu dùng, tạo thiệt thòi cho ngƣời tiêu dùng và
đồng thời làm méo mó nhu cầu của thị trƣờng.
Một số hoạt động khuyến mại chỉ là để ngụy trang cho việc giảm giá.
Trên cơ sở của "hứa thƣởng" mà khách hàng có quyền đòi hỏi những sản
phẩm hay dịch vụ phụ. Nói cách khác, việc cung cấp sản phẩm hay dịch vụ
phụ là nội dung của hợp đồng thì không phải là khuyến mại. Trong trƣờng hợp
này, giá trả cho sản phẩm hay dịch vụ chính bao gồm cả phần sản phẩm phụ.
Thực tế còn có nhiều hiện tƣợng hỗ trợ thƣơng mại khác nhƣng không
đƣợc coi là khuyến mại nhƣ: Hỗ trợ về điều kiện tín dụng; một số bảo đảm
đặc biệt liên quan đến bảo hành; giảm giá trong những điều kiện và mức độ
nhất định; sản phẩm hay dịch vụ phụ có giá trị không đáng kể và những phụ
tùng, phụ kiện đƣợc cấp kèm theo nhƣ trong thông lệ thƣơng mại,...
Tuy nhiên, khuyến mại bao gồm cả việc cho dùng thử hay biếu không
sản phẩm mà đó chính là sản phẩm đang hoặc sẽ đƣợc bán. Đây là phƣơng
pháp mà một số hãng thuốc lá ngoại và một số liên doanh sản xuất xà phòng
đã thực hiện ở Việt Nam thời gian qua.
+ Quảng cáo sai lệch: Quảng cáo, đƣa tin không trung thực về mọi dữ
liệu liên quan đến hàng hoá và phƣơng thức, điều kiện thƣơng mại là hoạt
động CTKLM rất phổ biến. Dữ liệu về sản phẩm, hàng hoá đƣợc hiểu ở đây là
mọi hình thức mô tả về hàng hoá và những điều kiện bán hàng, tồn tại dƣới
dạng hình ảnh, chữ viết hay các hình thức khác.

20




Chức năng bảo đảm môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh của Nhà nƣớc
trong nền kinh tế thị trƣờng là Nhà nƣớc phải tạo ra một khuôn khổ pháp lý
theo nghĩa “Quy tắc của cuộc chơi” cho nền kinh tế thị trƣờng, trong đó, quy
luật cạnh tranh đƣợc tồn tại và duy trì nhƣ một nguyên tắc cơ bản của quá
trình vận động.
Trên cơ sở nghiên cứu quan điểm xây dựng chính sách cạnh tranh của
một số trƣờng phái kinh tế cho thấy về nguyên tắc chung là thiết lập một cơ
sở pháp lý cho hoạt động của nền kinh tế thị trƣờng mà ở đó:
- Tồn tại hệ thống giá cả có tính cạnh tranh
- Đảm bảo quyền lợi hợp pháp, bảo hộ quyền sở hữu của các chủ thể
kinh tế thuộcmọi thành phần kinh tế đối với tƣ liệu sản xuất.
- Bảo đảm nguyên tắc tự do kinh doanh, tự do khế ƣớc trên cơ sở tôn trọng
luật pháp, đạo đức xã hội và lợi ích chung của cộng đồng
- Bình đẳng trƣớc pháp luật và tự chịu trách nhiệm về mọi hành vi của các
chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế trong quá trình hoạt động trên thị trƣờng
- Trên nguyên tắc tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật, các chủ
thể kinh doanh đƣợc quyền tự gia nhập và rút lui khỏi thị trƣờng.
- Tôn trọng và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của ngƣời tiêu dùng
Để thực hiện các mục tiêu trên, chính sách của Nhà nƣớc thƣờng bao
hàm các biện pháp nhằm:
- Kiểm soát các hành vi ứng xử trong quan hệ cạnh tranh trên thị trƣờng
để ngăn cấm các hành vi CTKLM
- Kiểm tra cấu trúc thị trƣờng để ngăn ngừa những cấu trúc có thể tạo ra
hành vi CTKLM
- Kiểm soát chi phí sản xuất, giá cả sản phẩm và lợi nhuận của những
doanh nghiệp đƣợc coi là có vị trí độc quyền hoặc khống chế thị trƣờng
- Xác định những lĩnh vực ngoại lệ trong việc áp dụng đối với chính



23


Bên cạnh hai lĩnh vực pháp Luật Cạnh tranh cơ bản nêu trên, còn có
các lĩnh vực khác thuộc về hay liên quan đến pháp Luật Cạnh tranh nhƣ:
Pháp luật về SHTT, pháp luật về BVNTD, pháp luật về quảng cáo, pháp
luật về thƣơng mại, pháp luật kinh doanh bảo hiểm, pháp luật về kinh
doanh chứng khoán; và các lĩnh vực pháp luật liên quan đến việc áp dụng
chế tài nhƣ: pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về dân sự,
pháp luật về hình sự...
Công cụ thứ hai đó là vai trò của Nhà nƣớc trong việc hình thành lên hệ
thống các cơ quan quản lý và điều chỉnh các hoạt động CTKLM. Tùy theo
điều kiện và trình độ phát triển về kinh tế mà các quốc gia khác nhau thƣờng
có hệ thống khác nhau. Một số quốc gia ở châu Âu nhƣ Pháp, Thụy Sĩ, Đức,...
thƣờng đi theo mô hình cơ quan quản lý hành vi CTKLM và cơ quan bảo vệ
quyền lợi ngƣời tiêu dùng. Cơ quan này có thể trực thuộc Bộ chuyên ngành
hoặc đặt trực tiếp dƣới sự điều hành của Thủ tƣớng.
Việc tạo dựng mô hình các cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam còn
tồn tại nhiều ý kiến khác nhau: có thể đặt cơ quan quản lý cạnh tranh nhƣ một
cơ quan ngang bộ; cơ quan trực thuộc bộ; thành lập một tòa án đặc biệt. Cụ
thể về hệ thống các cơ quan này ở Việt Nam, tác giả xin đề cập ở phần sau.
Không thể phủ nhận rằng, việc tạo dựng hệ thống các cơ quan điều
chỉnh hoạt động CTKLM đóng vai trò không kém phần quan trọng trong việc
tạo ra môi trƣờng CTKLM ở các quốc gia.
Bên cạnh vai trò của Nhà nƣớc trong việc tạo dựng hệ thống pháp luật,
hệ thống cơ quan cạnh tranh, các quốc gia còn sử dụng một công cụ nữa đó là
tuyên truyền phổ biến pháp luật về CTKLM. Thực tế cho thấy rằng, đây là
một công cụ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hạn chế các hành vi
này. Việc điều tra và xử lý của các cơ quan chức năng đƣợc giảm gánh nặng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status