Quản lý nhà nước đối với hoạt động cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế thị trường ở việt nam - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

---------------------

NGUYỄN THÀNH HẢI

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Hà Nội – 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

NGUYỄN THÀNH HẢI

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ


2.2.1 Cục Quản lý cạnh tranh................................................................................ 36
2.2.2 Các cơ quan quản lý chuyên ngành khác.................................................... 37
2.3 Thực trạng công tác phát hiện và xử lý các hoạt động CTKLM tại Việt
Nam trong giai đoạn 2006-2011............................................................................ 38

2


2.4. Một số vụ việc CTKLM điển hình sau khi Luật cạnh tranh ra đời và hoạt
động quản lý của Nhà nƣớc (2005-nay)............................................................... 40
Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG BỐI CẢNH NỀN KINH
TẾ THỊ TRƢỜNG Ở VIỆT NAM........................................................................ 48
3.1. Bối cảnh mới của nền kinh tế thị trƣờng có tác động tới hoạt động
CTKLM tại Việt Nam............................................................................................. 48
3.1.1 Quan điểm của Nhà nƣớc về chống CTKLM trong cơ chế thị trƣờng .. 48
3.1.2 Những tác động của các thành phần kinh tế tới môi trƣờng cạnh tranh
bình đẳng, lành mạnh tại Việt Nam trong thời gian qua..................................... 51
3.2. Giải pháp quản lý các hoạt động CTKLM trong bối cảnh nền kinh tế thị
trƣờng tại Việt Nam............................................................................................... 53
3.2.1 Hoàn thiện môi trƣờng thể chế, chính sách................................................ 54
3.2.2 Hoàn thiện hệ thống các cơ quan quản lý................................................... 60
3.2.3 Các công cụ và biện pháp hỗ trợ khác......................................................... 63
KẾT LUẬN............................................................................................................. 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................... 69

3


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

7

Aspects of
Intellectual Property
Rights)

i
4

8

USFTC

9

XHCN


MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong suốt quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, chủ trƣơng của
Nhà nƣớc cho phép nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển đã
chứng minh cho thấy hiệu quả đúng đắn trong suốt những năm đổi mới. Đi
cùng với sự phát triển và nở rộ của mọi thành phần kinh tế, vấn đề tạo ra một
môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng để bảo vệ quyền và lợi ích của
doanh nghiệp và của ngƣời tiêu dùng đang làm nảy sinh nhiều vấn đề bất cập
và đặt ra những thách thức đối với các cơ quan quản lý và cộng đồng xã hội.
Có hai công cụ chính nhằm góp phần tạo ra môi trƣờng cạnh tranh lành
mạnh nói trên đó là quản lý hoạt động CTKLM và quản lý hoạt động hạn chế
cạnh tranh. Xuất phát từ chính những vấn đề từ thực tiễn quản lý các hành vi

tế tƣ nhân và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế quốc doanh... vẫn đã và
đang diễn ra vô cùng sôi động
Vì thế, việc quản lý và chống CTKLM có tầm quan trọng đặc biệt nhằm
cải thiện môi trƣờng pháp lý, khuyến khích hơn nữa các hoạt động đầu tƣ, sản
xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế trong và ngoài nƣớc, tạo môi trƣờng
lành mạnh, bình đẳng, an toàn cho các doanh nghiệp và đồng thời bảo vệ quyền
và lợi ích của ngƣời tiêu dùng.
Đặc biệt trong bối cảnh các doanh nghiệp có các hành vi CTKLM nhƣng
không không biết là mình vi phạm, đáng chú ý là các hanh vi nhƣ: Lừa dối
khách hàng; quảng cáo gian dối; sản xuất, buôn bán hàng giả; lƣu hành sản
phẩm kém chất lƣợng; kinh doanh trái phép; trốn thuế, bán hàng đa cấp bất
chính,....
Rõ ràng sự nhận thức, nhận diện đầy đủ, cặn kẽ bản chất các hình thức
biểu hiện của cạnh tranh nói chung và CTKLM nói riêng cả về lý luận lẫn thực
tiễn của xã hội nói chung còn nhiều hạn chế. Do vậy, việc nghiên cứu

6


một cách có hệ thống vấn đề quản lý các hoạt động cạnh tranh, trong đó có hoạt
động CTKLM là một vấn đề bức xúc đang đƣợc đặt ra, góp phần thực hiện
nghị quyết đại hội Đảng XI, trong đó nhấn mạnh việc hoàn thiện thể chế kinh tế
thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trƣờng cạnh
tranh bình đẳng và cải cách hành chính.
Với mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu về các hoạt động quản lý của Nhà
nƣớc đối với hoạt động CTKLM của doanh nghiệp, qua đó đề xuât các giải
pháp giúp các cơ quan quản lý trong việc xây dựng môi trƣờng cạnh tranh bình
đẳng trong những năm tới, tôi đã chọn đề tài: “Quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt
động cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam”.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

này đƣợc tiếp cận dƣới nhiều góc độ khác nhau và đều nhằm mục đích là xây
dựng luận cứ, đề xuất các định hƣớng về nội dung, phạm vi điều chỉnh,
phƣơng thức thực hiện và đƣa ra các khuyến nghị về việc hoàn thiện hơn môi
truờng canh tranh ở Việt Nam. Hay nói cách khác, các công trình này đƣợc
nghiên cứu trƣớc khi ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004.
Nhằm góp phần vào công tác tuyên truyền phổ biến và tạo dựng môi
trƣờng cạnh tranh, sau khi ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004, gần đây cũng
đã có một số cuốn sách giới thiệu về hoạt động CTKLM đƣợc viết dƣới dạng
phân tích, bình luận. Chẳng hạn nhƣ cuốn "Bình luận khoa học Luật cạnh
tranh" của Tiến sỹ Lê Hoàng Oanh, năm 2005; "Phân tích và luận giải về hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trƣờng, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh"
của Phó Giáo sƣ, Tiến sỹ Nguyễn Nhƣ Phát và Thạc sỹ Nguyễn Ngọc Sơn,
năm 2008, “Giáo trình Luật cạnh tranh" xuất bản vào năm 2010 do 3 tác giả là
PGS. TS. Lê Danh Vĩnh, Nguyên Thứ trƣởng Bộ Công Thƣơng kiêm Chủ tịch
Hội đồng cạnh tranh, ThS. Nguyễn Ngọc Sơn và ThS. Hoàng Xuân Bắc với sự
phối hợp của Dự án EU - Việt Nam - MUTRAP III Bộ Công Thƣơng. Tuy
nhiên, những tài liệu nghiên cứu này hoặc là chỉ đề cập đến khía cạnh pháp luật
của những hành vi liên quan đến hạn chế cạnh tranh hoặc nếu

8


có đề cập đến hoạt động CTKLM thì cũng ở mức khái quát, chƣa có những
phân tích, bình luận chuyên sâu mang tính toàn diện về bức tranh tổng thể về
thực trạng CTKLM ở Việt Nam hiện thời. Các đề xuất chủ yếu liên quan đến
pháp Luật Cạnh tranh nói chung, chƣa có những đề xuất tổng thể mang tính
chuyên sâu liên quan đến cơ chế tạo dựng môi trƣờng trƣờng thực thi có hiệu
quả để chống các hoạt động CTKLM ở Việt Nam.
Từ việc đánh giá tình hình nghiên cứu môi trƣờng về CTKLM ở Việt
Nam, cho thấy chƣa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, toàn

so sánh với Việt Nam;

9


-

Đề xuất các gợi ý chính sách để quản lý hoạt động CTKLM ở Việt nam

cả về mặt pháp luật, thể chế, tuyên truyền giáo dục,...
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Theo thông lệ, quản lý cạnh tranh gồm hai nội dung chính là quản lý
CTKLM và quản lý hạn chế cạnh tranh và bao hàm nội dung các hành vi cần
điều chỉnh rất rộng, liên quan chặt chẽ đến chính sách kinh tế, xã hội của mỗi
quốc gia trong từng thời kỳ nhƣng luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở
lý luận, thực tiễn, các chính sách, khuôn khổ luật pháp giúp Nhà nƣớc quản lý
hoạt động CTKLM, các cơ quan tổ chức quản lý CTKLM liên quan và đề xuất
phƣơng hƣớng quản lý hoạt động CTKLM ở Việt nam hiện nay. Khi nghiên
cứu, luận văn sẽ xem xét sự ảnh hƣởng của việc quản lý hoạt động CTKLM tới
các nhóm lợi ích liên đới trong xã hội nhƣ: Cơ quan quản lý, các doanh nghiệp
và ngƣời tiêu dùng hay ngƣời dân,...bắt đầu từ sau thời điểm Luật cạnh tranh
có hiệu lực năm 2005 cho tới nay.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Phƣơng pháp nghiên cứu có tính chất bao trùm đƣợc quán triệt để thực
hiện luận văn là phƣơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác -Lênin, theo đó vấn đề nghiên cứu phải đƣợc đặt trong bối cảnh lịch
sử, cụ thể của quá trình hình thành và phát triển của môi trƣờng cạnh tranh
hình thành trong nền kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta, đặc biệt là nghiên cứu từ
mốc thời gian sau khi có Luật Cạnh tranh có hiệu lực năm 2005. Tại luận văn
này phƣơng pháp so sánh đƣợc sử dụng phổ biến vì:

trong môi trƣờng luật pháp cũng nhƣ môi trƣờng các công cụ thực thi khác ở
hiện tại quản lý các hoạt động CTKLM, có sự so sánh với các quốc gia khác.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng hành vi CTKLM ở Việt nam và thực trạng
diễn biến hành vi không lành mạnh, luận văn đề xuất phƣơng hƣớng điều
chỉnh môi trƣờng pháp luật kiểm soát hành vi CTKLM ở Việt nam hiện nay và
những thay đổi cần thiết về thể chế cũng nhƣ các hoạt động hỗ trợ cho việc
kiểm soát hoạt động CTKLM.
7. BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chƣơng với các nội dung nhƣ sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của quản lý Nhà nƣớc về hoạt động CTKLM
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý Nhà nƣớc đối với hành vi CTKLM tại
Việt Nam trong thời kỳ 2006-2011
Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp quản lý hoạt động CTKLM
trong bối cảnh nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam

11


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ HOẠT ĐỘNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
1.1. Khái niệm và nhận diện các hành vi CTKLM
Cho đến nay, cạnh tranh lành mạnh mặc dù đã đƣợc tiếp cận, nghiên cứu
và phản ánh trong nhiều học thuyết, song đều không đƣa ra đƣợc nội hàm cụ
thể cho khái niệm này. Tƣơng tự nhƣ vậy, pháp luật về cạnh tranh của các quốc
gia trên thế giới cũng không đƣa ra khái niệm thống nhất về thế nào là cạnh
tranh lành mạnh. Tuy vậy, dƣới góc độ thực tiễn, các quốc gia đều có sự thống
nhất về bản chất của cạnh tranh lành mạnh. Theo đó, cạnh tranh lành mạnh
đƣợc hiểu là cạnh tranh trung thực, công bằng, hợp pháp, hợp đạo đức, tập


12


chuyên gia cho rằng, nếu xuất phát từ nguyên tắc các chủ thể kinh doanh đƣợc
làm tất cả những gì pháp luật không cấm (chứ không phải chỉ đƣợc làm những
gì mà pháp luật quy định) thì có thể thấy không thể xây dựng đƣợc khái niệm
chuẩn đúng trong mọi trƣờng hợp và cũng không thể xây dựng đƣợc pháp Luật
Cạnh tranh điều chỉnh các hành vi cạnh tranh mang tính tích cực và từ đó quy
định đó là hành vi cạnh tranh hợp pháp, mà ngƣợc lại về mặt phƣơng pháp
phải xác định hoạt động CTKLM và quy định thành điều cấm. Đối lập với cạnh
tranh lành mạnh là CTKLM. Việc xác định là lành mạnh hay không lành mạnh
đƣợc căn cứ trên cơ sở mục đích, tính chất, phƣơng pháp tiến hành cạnh tranh
trên thị trƣờng. Thực tế cho thấy khái niệm CTKLM còn có những tên gọi khác
nhau: cạnh tranh không bình đẳng, cạnh tranh bất hợp pháp, cạnh tranh bất
chính. Khái niệm CTKLM và cạnh tranh bất hợp pháp nếu xét về ý nghĩa của
từ ngữ thì giữa chúng có sự khác nhau. Thông thƣờng tính bất hợp pháp đƣợc
hiểu là vi phạm điều cấm của pháp luật. Còn sự không lành mạnh còn bao gồm
cả tính chất vi phạm đạo đức, vi phạm tập quán kinh doanh truyền thống.
Hiện nay, trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về CTKLM:
Quan niệm thứ nhất cho rằng “CTKLM bao gồm tất cả hành vi nào xâm
hại tới hoạt động cạnh tranh trên thị trƣờng, xâm hại tới quyền tự do cạnh tranh
công bằng của các doanh nghiệp”. Với quan niệm này, các hành vi hạn chế
cạnh tranh, nhất là những hành vi hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh
thị trƣờng cũng thuộc phạm trù “CTKLM”
Quan niệm thứ hai là quan niệm về “CTKLM” đƣợc quy định trong
Công ƣớc Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (ký kết ngày 20-3-1883),
cụ thể là Điều 10bis (đƣợc bổ sung vào Công ƣớc năm 1900), theo đó: "Bất kỳ
hành vi cạnh tranh nào đi ngƣợc lại các hành động trung thực, thiện chí trong
công nghiệp hoặc trong thƣơng mại đều là hành vi CTKLM". Điều


14


thực” và cả hành vi đƣợc coi là “trung thực” nhƣng trái với chuẩn mực thông
thƣờng về đạo đức kinh doanh. Với cách định nghĩa theo cách thứ ba này thì
hành vi CTKLM không bị bó hẹp trong việc cấm đoán các hành vi CTKLM chỉ
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp mà còn mở rộng sang các lĩnh vực khác.
Quan niệm thứ 3 về CTKLM cũng là quan niệm đƣợc quy định tại Luật
Cạnh tranh2004 của Việt Nam (khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh2004). Đây
cũng là quan niệm theo tác giả là phù hợp và đƣợc sử dụng trong luận văn này
để từ đó có cách hiểu thống nhất về pháp luật chống CTKLM và trong các
chƣơng tiếp theo của luận văn . Với cách đặt vấn đề nhƣ vậy có thể thấy là,
CTKLM là hành vi của đối thủ cạnh tranh có các dấu hiệu sau đây:





Hành vi phải vì mục đích cạnh tranh;



Hành vi nhằm vào đối thủ cạnh tranh hiện hữu (cụ thể);

Hành vi đƣợc thực hiện do vi phạm pháp luật hay đi ngƣợc lại với đạo

đức, tập quán tốt đẹp;



Nhóm hành vi trực tiếp xâm hại lợi ích của đối thủ cạnh tranh, gồm

các hành vi sau:
+ Ngăn cản: Ngăn cản đối thủ khác trong quá trình cạnh tranh là loại
hành vi CTKLM khá phổ biến. Các doanh nghiệp bị ngăn cản ở đây là những
thành viên hiện hữu, những doanh nghiệp đang tồn tại trong một loại thị trƣờng
hàng hoá, dịch vụ hay thị trƣờng liên quan.
Hành vi ngăn cản đối thủ cạnh tranh đƣợc thực hiện chủ yếu thông qua
thủ thuật bán phá giá. Pháp luật chống CTKLM dƣới dạng chống bán phá giá
chủ yếu thông qua việc quy định cấm bán hàng dƣới giá vốn trong điều kiện
bình thƣờng. Nhƣ vậy, pháp luật cũng cho phép các doanh nghiệp bán hàng
dƣới giá vốn trong một số trƣờng hợp đƣợc coi là không bình thƣờng nhƣ:
Hàng có nguy cơ hƣ hỏng nhanh do điều kiện ngoại cảnh bất thƣờng; Bán
hàng dọn kho do thay đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh; Hàng hoá thuộc tài sản
phá sản; Các hoạt động khuyến mại thông qua việc hạ giá sản phẩm trong
những điều kiện cụ thể và ở mức độ nhất định.
Ngoài ra, thuộc nhóm hành vi ngăn cản đối thủ còn bao gồm hành vi tẩy
chay, thâu tóm khách hàng của đối thủ cũng đƣợc pháp luật chống CTKLM
điều chỉnh.
+

Dèm pha bôi nhọ đối thủ: Việc đƣa tin thất thiệt về ngƣời khác là

điều không thể loại bỏ trong cuộc sống. Để chống lại cách hành xử này, mọi

16


quốc gia đều có những quy định nhằm bảo vệ nhân phẩm, danh sự, uy tín của
mọi pháp nhân, thể nhân (gồm cả thƣơng gia). Bên cạnh những quy định chung

khách thể bị xâm hại là lợi ích của các hãng sản xuất "chính

17


hiệu"- các đối thủ cạnh tranh, do đó, những hành vi này không phải là hành vi
nguy hiểm cho xã hội. Liên quan đến nhóm hành vi bóc lột là rất nhiều các
hành vi hay quan hệ xã hội đƣợc điều chỉnh gần gũi với pháp luật về sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá.
Những phân tích trên đây chỉ là một trong vô số hành vi thuộc nhóm
hành vi bóc lột trong cạnh tranh. Có thể chỉ ra đây những thủ thuật khác cũng
thuộc nhóm này mà pháp luật của nhiều nƣớc cũng quy định nhƣ hành vi
quảng cáo dựa dẫm, quảng cáo so sánh. Hai phƣơng thức quảng cáo này cũng
là những hành vi vi phạm pháp luật chống CTKLM. Đây cũng là những hành vi
có tiền đề là lạm dụng, bóc lột đối thủ cạnh tranh.
-

Nhóm hành vi trực tiếp xâm hại lợi ích của khách hàng:

Có những hành vi CTKLM cùng lúc có thể xâm hại đến lợi ích của cả
đối thủ cạnh tranh và khách hàng (hay ngƣời tiêu dùng).
Nhóm hành vi xâm hại lợi ích của khách hàng cũng khá đa dạng, bao
gồm nhữngnhóm hành vi sau đây:
+ Can thiệp vào quyền tự do định đoạt của khách hàng
Với sự vận hành theo cơ chế thị trƣờng, tự do kinh doanh ắt sẽ kéo theo
tự do định đoạt của khách hàng. Cũng bởi vậy, pháp luật thƣờng có những quy
định nhằm bảo vệ khách hàng từ phía những doanh nghiệp bán hàng qua các
quy định của pháp luật về bảo vệ ngƣời tiêu dùng, quyền khởi kiện của hiệp
hội ngƣời tiêu dùng; quyền huỷ hợp đồng đặc biệt của khách hàng khi có hiện
tƣợng không lành mạnh từ phía ngƣời bán hàng.

mà ở nhiều nƣớc gọi là hệ thống "quả bóng tuyết" càng lăn quả bóng tuyết đó
càng to, mà Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam gọi là "Bán hàng đa cấp bất
chính" [9].
+

Khuyến mại nhằm CTKLM: ở Việt Nam, khuyến mại đƣợc coi là sự

ƣu việt trong nền kinh tế thị trƣờng. Tuy nhiên, ở nhiều nƣớc có nền kinh tế
thị trƣờng phát triển, nhiều hành vi khuyến mại đƣợc coi là hành vi CTKLM
và do đó có thể bị cấm thực hiện.

19


Sở dĩ bị cấm thực hiện vì khuyến mại tạo tâm lý, thói quen và sự lệ thuộc
dần của khách hàng đối với ngƣời bán hàng có khuyến mại. Khách hàng luôn
nhìn thấy cái "lợi" trƣớc mắt cho mình nên ít quan tâm đến hàng hoá của đối
thủ cạnh tranh khác...Khi thói quen mua hàng đƣợc khuyến mại trở thành phản
xạ có điều kiện, khách hàng sẽ ít để ý đến chất lƣợng của sản phẩm. Tính
không lành mạnh và sự nguy hiểm của khuyến mại chính là ở chỗ nó làm tạo
những bất lợi cho ngƣời tiêu dùng, tạo thiệt thòi cho ngƣời tiêu dùng và đồng
thời làm méo mó nhu cầu của thị trƣờng.
Một số hoạt động khuyến mại chỉ là để ngụy trang cho việc giảm giá.
Trên cơ sở của "hứa thƣởng" mà khách hàng có quyền đòi hỏi những sản phẩm
hay dịch vụ phụ. Nói cách khác, việc cung cấp sản phẩm hay dịch vụ phụ là nội
dung của hợp đồng thì không phải là khuyến mại. Trong trƣờng hợp này, giá
trả cho sản phẩm hay dịch vụ chính bao gồm cả phần sản phẩm phụ.
Thực tế còn có nhiều hiện tƣợng hỗ trợ thƣơng mại khác nhƣng không
đƣợc coi là khuyến mại nhƣ: Hỗ trợ về điều kiện tín dụng; một số bảo đảm đặc
biệt liên quan đến bảo hành; giảm giá trong những điều kiện và mức độ nhất

hiểu là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nƣớc đối với
các hoạt động của doanh nghiệp để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội
và trật tự pháp luật, qua đó tạo dựng môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh, bình
đẳng cho các doanh nghiệp hoạt động, đồng thời hƣớng tới bảo vệ quyền lợi
ngƣời tiêu dùng.
1.3 Vai trò quản lý của Nhà nƣớc đối với hoạt động CTKLM trong nền
kinh tế thị trƣờng
Một chức năng quan trọng của Nhà nƣớc trong quá trình thực hiện điều
tiết nền kinh tế thị trƣờng là phải duy trì và bảo đảm đƣợc môi trƣờng cạnh
tranh lành mạnh, bình đẳng, hiệu quả giữa các chủ thể tham gia thị trƣờng. Tuy
nhiên, việc bảo đảm môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh và hiệu quả nhƣ thế nào
còn phụ thuộc vào mức độ và nguyên tắc can thiệp của Nhà nƣớc đối với nền
kinh tế.

21


Chức năng bảo đảm môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh của Nhà nƣớc
trong nền kinh tế thị trƣờng là Nhà nƣớc phải tạo ra một khuôn khổ pháp lý
theo nghĩa “Quy tắc của cuộc chơi” cho nền kinh tế thị trƣờng, trong đó, quy
luật cạnh tranh đƣợc tồn tại và duy trì nhƣ một nguyên tắc cơ bản của quá trình
vận động.
Trên cơ sở nghiên cứu quan điểm xây dựng chính sách cạnh tranh của
một số trƣờng phái kinh tế cho thấy về nguyên tắc chung là thiết lập một cơ sở
pháp lý cho hoạt động của nền kinh tế thị trƣờng mà ở đó:
-

Tồn tại hệ thống giá cả có tính cạnh tranh

-

-

Kiểm soát chi phí sản xuất, giá cả sản phẩm và lợi nhuận của những

doanh nghiệp đƣợc coi là có vị trí độc quyền hoặc khống chế thị trƣờng
-

Xác định những lĩnh vực ngoại lệ trong việc áp dụng đối với chính

22


sách cạnh tranh
Mặc dù có những giới hạn về mặt pháp lý, nhƣng tâm thế của các chủ
thể cạnh tranh là luôn hƣớng tới đạt vị thế cao trên thị trƣờng, để sau đó lạm
dụng vị thế có lợi này khai thác tối đa lợi nhuận. Để đối phó với tình trạng này,
Nhà nƣớc thƣờng sử dụng các biện pháp nhƣ ban hành pháp luật về CTKLM,
biện pháp hành chính – kinh tế, biện pháp tuyên truyền giáo dục,..
1.4. Công cụ quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động CTKLM
Công cụ quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động CTKLM thƣờng dựa trên
một số trụ cột chính đó là: Thông qua việc thiết lập hệ thống pháp luật điểu
chỉnh trong đó có pháp luật điểu chỉnh trực tiếp hoạt động này nhƣ Luật cạnh
tranh, Luật bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng; bên cạnh đó là hệ thống các luật
chuyên ngành khác; thông qua việc tạo dựng hệ thống các cơ quan quản lý liên
quan trực tiếp và gián tiếp tới hoạt động, và cuối cùng là thông qua hoạt động
tuyên truyền, giáo dục về hành vi CTKLM, công việc này có thể đƣợc thực
hiện bởi chính các cơ quan quản lý nhà nƣớc và/hoặc thông qua các hội ngành
ngành nghề, hiệp hội; qua phƣơng tiện thông tin đại chúng, ...
Công cụ chính ở các quốc gia đã có pháp luật khá đồng bộ thƣờng áp
dụng Luật cạnh tranh trong đó họ đều chia pháp Luật Cạnh tranh thành hai lĩnh

hoạt động CTKLM đóng vai trò không kém phần quan trọng trong việc tạo ra
môi trƣờng CTKLM ở các quốc gia.
Bên cạnh vai trò của Nhà nƣớc trong việc tạo dựng hệ thống pháp luật,
hệ thống cơ quan cạnh tranh, các quốc gia còn sử dụng một công cụ nữa đó là
tuyên truyền phổ biến pháp luật về CTKLM. Thực tế cho thấy rằng, đây là một
công cụ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hạn chế các hành vi này.
Việc điều tra và xử lý của các cơ quan chức năng đƣợc giảm gánh nặng khi các
hoạt động này đƣợc chú ý một cách thích đáng.

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status