Tư tưởng đạo đức Nho giáo Khổng - Mạnh và vai trò của nó đối với việc giáo dục đạo đức con người trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
……………………………
CAO THỊ NGUYỆT

TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO KHỔNG – MẠNH VÀ
VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CON NGƯỜI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60.22.80 Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THANH BÌNH

Hà Nội – 2012

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2.Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
6. Đóng góp của luận văn 7
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7
8. Kết cấu của luận văn 7
NỘI DUNG 8
Chương 1: TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA NHO GIÁO KHỔNG -
MẠNH 8
1.1. Khái quát những điều kiện và tiền đề cho sự ra đời tư tưởng đạo
đức Nho giáo Khổng - Mạnh. 8
1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội thời Xuân Thu - Chiến Quốc 8

2.3.1. Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những mặt tích cực
của tư tưởng đạo đức Nho giáo Khổng - Mạnh đối với việc giáo dục đạo
đức con người Việt Nam trong nền kinh tế thị trường hiện nay 73
2.3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm hạn chế những mặt tiêu cực của
tư tưởng đạo đức Nho giáo Khổng - Mạnh đối với việc giáo dục đạo đức
con người Việt Nam trong nền kinh tế thị trường hiện nay 76
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cách đây khoảng 2000 năm, Khổng Tử và các học trò của ông, nhất là
Mạnh Tử đã nhận ra sức mạnh của đạo đức trong việc bình ổn xã hội. Thời
Xuân Thu – Chiến Quốc xã hội Trung Quốc là một xã hội hết sức rối loạn,
vô trật tự, không có kỷ cương, luôn ở trong tình trạng“đất cát nuốt thịt
người”[Dẫn theo 68, 18]. Đây cũng là lúc, nhân luân đảo lộn. Mặc dù thần
dân khuynh gia bại sản nhưng vua chúa chỉ lo việc nới rộng quyền vương và
ăn chơi, hưởng lạc; cha thì tranh vợ của con, “vợ vua nước Vệ dan díu với
đủ loại người từ công tử Triều đến sủng thần Di Tử Hà, từ quan lại phu
Vương Tôn Giả đến thần dân Cừ Bá Ngọc”[Dẫn theo 68, 19]; cảnh con giết
cha, tôi giết vua… khiến cho cương thường điên đảo. Xuất phát từ những
bối cảnh lịch sử cũng như những yêu cầu do lịch sử đặt ra, Khổng Tử và các
học trò của ông đã xây dựng học thuyết “Đạo đức” - học thuyết trình bày
những quan điểm về đạo đức, chính trị - xã hội. Tư tưởng đạo đức của Nho
giáo Khổng - Mạnh có một sức sống hết sức bền bỉ và không ngừng phát
huy tác dụng, góp phần nhất định vào việc bình ổn xã hội trong nhiều thời
kỳ phát triển của xã hội phong kiến Trung Hoa và ảnh hưởng đến nhiều
nước trong khu vực như: Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…

gì… Có thể nói, chưa bao giờ vấn đề đạo đức đáng báo động như hiện nay và
chúng ta một lần nữa phải nghiên cứu và xem xét một cách thật nghiêm túc và
khoa học để tìm ra những nguyên nhân của tình trạng đạo đức đang dần suy
thoái, xuống cấp và phải tìm ra các giải pháp để khắc phục, loại trừ, nhất là
trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
Việt Nam xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa từ một nước thuộc địa nửa
phong kiến với một nền nông nghiệp lạc hậu, những tàn dư của tư tưởng
phong kiến còn hết sức nặng nề. Nho giáo nói chung, đạo đức của Nho giáo
Khổng - Mạnh nói riêng, bên cạnh những mặt tích cực, vẫn chứa đựng những

2
mặt tiêu cực nhất là với sự suy thoái và xuống cấp đạo đức nghiêm trọng do
ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường gây ra. Một lần nữa chúng ta phải
nghiên cứu và xem xét tư tưởng đạo đức Nho giáo Khổng - Mạnh có còn phát
huy vai trò của nó đối với việc giáo dục đạo đức con người Việt Nam trong
nền kinh tế thị trường hay không?
Từ những lý do trên đây, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Tư tưởng đạo đức
Nho giáo Khổng – Mạnh và vai trò của nó trong việc giáo dục đạo đức của
con người trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài
nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ của mình.
2.Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nho giáo tồn tại với một thời gian hết sức lâu dài và cũng đã phát huy
tác dụng của nó trong việc giáo dục đạo đức không chỉ ở Trung Quốc mà còn
ở một số nước khác trong đó có Việt Nam.
Với vai trò rất lớn trong việc giáo dục đạo đức, bình ổn xã hội; tư tưởng
của Nho giáo nói chung cũng như tư tưởng đạo đức của Nho giáo Khổng -
Mạnh nói riêng đã có rất nhiều học giả nghiên cứu và đánh giá. Có thể khái
quát những công trình tiêu biểu sau.
- Các công trình nghiên cứu thông qua tác phẩm kinh điển, sách vở của
các nhà Nho và tư tưởng của Nho giáo cũng như tư tưởng đạo đức của Nho

trường ở nước ta hiện nay” do Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phúc chủ
biên; “Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa” của Trịnh Duy Huy; “Ý thức đạo đức trong điều kiện kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay” của Lê Thị Tuyết Ba. Các công trình này đã
phân tích những biến động trong lĩnh vực đạo đức từ khi chúng ta chuyển
sang nền kinh tế thị trường, qua đó chỉ ra cơ chế tác động (cả tích cực và tiêu
cực) của kinh tế thị trường đối với đạo đức, xu hướng vận động và biến đổi
của đạo đức trong điều kiện hiện nay. Các tác giả còn tập trung xem xét tác
động của kinh tế thị trường đối với xã hội, chuẩn mực đạo đức hiện nay và

4
thực trạng đạo đức ở nước ta, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần hạn
chế những tiêu cực của kinh tế thị trường đối với đạo đức. Tuy nhiên, các tác
giả chỉ đưa ra những giải pháp như giáo dục đạo đức, xây dựng hệ thống pháp
luật… mà chưa nghiên cứu cũng như chưa thấy được vai trò của đạo đức Nho
giáo Khổng - Mạnh đối với việc giáo dục đạo đức con người Việt Nam.
Chẳng hạn khi đánh giá tác động của kinh tế thị trường đến đạo đức, tác giả
Lê Thị Tuyết Ba đã cho rằng: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta có khuynh hướng khẳng định nhân cách độc lập của con
người, khẳng định tinh thần tự giác, tự chủ và tự cường của con người. Cho
nên con người cũng hoàn toàn có khả năng tự thể hiện và thực hiện nhu cầu
đạo đức của mình do ý thức đầy đủ hơn về sự phát triển và tiến bộ.” [5, 107].
Ngoài ra, trong các luận văn và luận án tiến sĩ nghiên cứu tư tưởng đạo
đức Nho giáo và sự ảnh hưởng của nó đến Việt Nam, có thể kể tới luận văn
thạc sĩ triết học của Nguyễn Thị Luận “Phạm trù “Nghĩa” trong Nho giáo sơ
kỳ”, đã trình bày “Nghĩa” trong tư tưởng Khổng - Mạnh và Tuân Tử, nó được
phân tích và luận giải như một phạm trù trong hệ thống các phạm trù đạo đức
của Nho giáo sơ kỳ. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Liên “Vai trò của giá
trị đạo đức truyền thống với xây dựng đạo đức của con người trong nền kinh
tế thị trường” đã chỉ ra một số mặt trái của đạo đức do kinh tế thị trường gây

nền kinh tế thị trường” của Nguyễn Văn Huyên (Tạp chí Triết học, số 1,
1995); “Một số biểu hiện xung đột giá trị trong lĩnh vực đạo đức của đời sống
xã hội” của Nguyễn Sinh Huy (Tạp chí Triết học, số 1, 1995), v.v
Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa những thành quả nghiên cứu từ những
công trình nghiên cứu đã có về tư tưởng đạo đức của Nho giáo Khổng - Mạnh
trong Tứ thư cũng như những tài liệu về kinh tế thị trường, đạo đức trong nền
kinh tế thị trường, tác giả luận văn hy vọng có thể bổ sung thêm vào những
thành qủa của những người đi trước để làm rõ thêm vai trò của tư tưởng đạo

6
đức Nho giáo Khổng - Mạnh trong việc giáo dục đạo đức con người trước sự
tác động của kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn là thông qua việc trình bày và phân tích một
cách có hệ thống những tư tưởng đạo đức cơ bản trong Nho giáo Khổng -
Mạnh để làm rõ vai trò của nó đối với việc giáo dục đạo đức con người Việt
Nam dưới tác động của nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
- Xuất phát từ lý do chọn đề tài, tổng quan tình hình nghiên cứu và mục
đích đặt ra cho đề tài, nhiệm vụ của Luận văn như sau:
+ Trình bày khái quát điều kiện và tiền đề cho sự ra đời tư tưởng đạo đức
của Nho giáo Khổng - Mạnh.
+ Phân tích một số nội dung cơ bản trong tư tưởng đạo đức của Nho giáo
Khổng - Mạnh(chủ yếu qua sách Luận ngữ và sách Mạnh Tử
+ Thực trạng đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
+ Đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị và khắc phục
những hạn chế của tư tưởng đạo đức Nho giáo Khổng - Mạnh đối với việc
giáo dục đạo đức con người Việt Nam do nền kinh tế thị trường đặt ra.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là tư tưởng đạo đức trong Nho
giáo Khổng - Mạnh và đời sống đạo đức của con người Việt Nam trong nền

Nho giáo Khổng - Mạnh.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm có 2 chương và 5 tiết.
Chương I: Tư tưởng đạo đức của Nho giáo Khổng – Mạnh, với 2 tiết
Chương II: Ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Nho giáo Khổng –
Mạnh đối với việc giáo dục đạo đức của con người Việt Nam trong nền kiinh
tế thị trường, với 3 tiết

8
NỘI DUNG
Chương 1: TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA NHO GIÁO KHỔNG - MẠNH
1.1. Khái quát những điều kiện và tiền đề cho sự ra đời tư tưởng đạo
đức Nho giáo Khổng - Mạnh.
Theo Ph. Ăngghen:“Xét cho cùng mọi học thuyết về đạo đức đã có từ
trước tới nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế xã hội lúc bấy giờ”[13,
137]. Vì vậy, muốn tìm hiểu nội dung, tính chất tư tưởng đạo đức của Nho
giáo Khổng – Mạnh cần phải tìm hiểu những điều kiện và tiền đề nảy sinh
ra nó.
1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội thời Xuân Thu - Chiến Quốc
Về kinh tế
Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, nền kinh tế Trung Quốc có sự chuyển
biến, phát triển mạnh mẽ từ thời đại đồ đồng sang đồ sắt với sự ra đời của
nhiều công cụ lao động mới. Nếu ở thời Xuân Thu, công cụ lao động bằng
sắt đã bắt đầu xuất hiện thì đến thời Chiến Quốc, loại công cụ lao động này
đã được sử dụng rộng rãi. Sự thay đổi về công cụ lao động đã dẫn đến
những chuyển biến mạnh mẽ đến các lĩnh vực kinh tế và tất yếu, tác động
đến đời sống chính trị - xã hội.
Thời Xuân Thu - Chiến Quốc ở Trung Quốc là thời kỳ quá độ từ chế độ
chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến. Đó là thời kỳ công cụ bằng sắt được

của nhà Chu chỉ còn là hình thức, các nước chư hầu gây chiến tranh để thôn
tính lẫn nhau: “chư hầu lấn quyền thiên tử, đại phu lấn quyền chư hầu, tôi giết
vua, con giết cha, trật tự xã hội rất là rối loạn”[Dẫn theo 68, 25-26]. Có nghĩa
là, trật tự, kỷ cương từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội theo mô hình và
thể chế nhà Chu bị vi phạm. Vì vậy, thời Xuân Thu – Chiến Quốc là thời kỳ
suy vi của nhà Chu, mọi quyền lực bị lung lay đến tận gốc, chiến tranh xảy ra
liên miên giữa các nước chư hầu đã làm cho đất nước suy kiệt, đời sống nhân

10
dân đói khổ, cùng quẫn, khắp Trung Quốc rộng lớn diễn ra cảnh đất cát nuốt
thịt người bởi chiến tranh giành đất, thây chất đầy đồng, đánh nhau giành
thành, thây chất đầy thành. Đây cũng là lúc đạo lý, nhân luân đảo lộn. Mặc
cho nhân dân khuynh gia, bại sản, đói khổ, cùng quẫn nhưng vua chúa chỉ lo
việc nới rộng quyền vương, quyền bá và hưởng lạc; cảnh tôi giết vua, con giết
cho không còn là chuyện lạ. Vì vậy, “hoàn cảnh lịch sử thời Xuân Thu –
Chiến Quốc rối ren, loạn lạc, xáo trộn cái cũ với cái mới, cái tụt xuống rồi lại
cái trồi lên” [30, 21] đã thúc đẩy sự ra đời của nhiều tư tưởng, nhiều trường
phái triết học, trong đó có Nho giáo.
Nho giáo ra đời ở Trung Quốc vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc (770-
221 TCN). Đây là thời kỳ suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ để bước sang
chế độ phong kiến sơ kỳ.
Chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất là cơ sở cho sự ra đời của các
giai cấp, các tầng lớp mới trong xã hội và những mâu thuẫn giữa các giai cấp
ngày càng gay gắt. Đó là:
Mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc nhà Chu và giai cấp địa chủ mới với
dân (những người nông dân, nông nô - những người này có nhu cầu muốn
được giải phóng khỏi sự áp bức bóc lột của giới quý tộc).
Mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc cũ, bảo thủ muốn duy trì chế độ thống
trị cũ với một bộ phận quý tộc mới muốn thực hiện cải cách để duy trì quyền
lợi và sự thống trị của mình.

Nho giáo nói riêng.
Người có công sáng lập ra Nho giáo là Khổng Tử (551 - 479 TCN) tên
thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni, người nước Lỗ (nay thuộc tỉnh Sơn
Đông, Trung Quốc). Sống trong thời kỳ loạn lạc, được tận mắt chứng kiến
cảnh chiến tranh cướp bóc, Khổng Tử luôn ôm ấp hoài bão chính trị là xây
dựng đất nước thái bình thịnh trị theo khuôn mẫu của vua Nghiêu, vua
Thuấn. Đó là xã hội có đạo đức, có ổn định trật tự. Suốt cuộc đời mình,

12
Khổng tử luôn trăn trở kiếm tìm một phương thuốc hữu hiệu để chữa căn
bệnh của thời đại “lễ hoại, nhạc băng” (lễ bị huỷ hoại, nhạc đã bị mất). Để
thực hiện được mục tiêu này, ông đưa ra đường lối đức trị (dùng đạo đức để
trị nước). Ông cho rằng, phải dùng nhân trị, lễ trị thì xã hội mới “hữu đạo”,
thịnh trị. Khổng Tử đã sưu tầm, chỉnh lý, lựa chọn dân ca và tụng ca nghi lễ
các nước mà soạn thành Kinh Thi; sưu tầm các tư liệu lịch sử, huấn lệnh các
tiên vương mà soạn thành Kinh Thư; sưu tầm tổ chức, chế độ, phong tục,
nghi lễ các nước mà soạn thành Kinh Lễ; soạn Kinh Nhạc (đã thất truyền từ
lâu). Khổng Tử là người có công giải thích Kinh Dịch và chỉnh lý bộ sử
nước Lỗ viết thành Kinh Xuân Thu. Đó là những cống hiến vĩ đại không chỉ
cho Trung Quốc mà cho cả văn hoá nhân loại. Năm bộ sách: Thi, Thư, Dịch,
Lễ, Xuân Thu, gọi chung là Ngũ kinh do Khổng Tử để lại là kinh điển của
Nho giáo.
Khi Khổng Tử mất, học trò ở lại để tang thầy, cùng nhau ôn lại và ghi
chép các lời thầy dạy làm sách Luận Ngữ. Luận Ngữ là tư liệu cơ bản để hiểu
tư tưởng Nho giáo.
Sau khi Khổng Tử mất, học trò Khổng Tử vốn là người ở nhiều nước,
đem tư tưởng của thầy về truyền bá ở nhiều nơi khác nhau. Vì vậy, vài thế kỷ
sau khi Nho gia - học phái tôn sùng Khổng Tử- đã chia ra làm tám phái khác
nhau, trong đó, nổi bật nhất là hai phái: Mạnh Tử và Tuân Tử. Về sau phái
Mạnh Tử được coi là chính truyền nên Nho giáo cũng thường gọi là học

bồi dưỡng cái đức đó để cho việc cai quản muôn dân được lâu dài. Theo họ con
người có đức hiếu là không chỉ thờ thượng đế mà còn phải thờ tổ tiên, phải nhớ
công lao tổ tiên và phải biết giữ gìn những phép tắc mà tổ tiên để lại.
Tư tưởng đạo đức của Nho giáo Khổng – Mạnh ra đời trong hoàn cảnh xã hội
loạn lạc và nhằm đưa xã hội vào trạng thái ổn định, Nho giáo Khổng – Mạnh một
mặt thừa nhận và sử dụng sức mạnh của thần quyền, nhưng mặt khác nó đã khẳng
định vị trí, vai trò của con người trước những biến đổi của lịch sử.

14
Như trên đã trình bày, thời Xuân Thu - Chiến Quốc chiến tranh liên
miên. Khắp Trung Quốc diễn ra cảnh “đất cát nuốt thịt người” bởi “đánh nhau
giành đất, thây chất đầy đất, đánh nhau giành thành, thây chất đầy thành”.
Những cuộc viễn chinh thôn tính lẫn nhau làm các nước nhỏ chông chênh như
“trứng đầu gậy”. Đây cũng là lúc đạo lý, nhân luân đảo lộn. Mặc cho thần dân
khuynh gia bại sản nhưng vua chúa chỉ lo việc nới rộng quyền vương, quyền
bá và hưởng lạc, đời sống nhân dân khổ cực; cảnh con giết cha, tôi giết vua
không còn chuyện lạ.
Chính thời buổi nhiễu nhương tao loạn, cương thường điên đảo ấy, một
vấn đề lớn đặt ra đối với người Trung Quốc nói chung, các nhà tư tưởng nói
riêng là làm sao để đất nước từ loạn trở thành bình yên, cương thường được
khôi phục. Các nhà tư tưởng không thể làm ngơ trước vấn đề mà lịch sử đặt ra
này và trong các nhà tư tưởng đạo đức phải kể đến Khổng Tử và Mạnh Tử.
Cũng giống như các hệ tư tưởng khác, Nho giáo chủ yếu là một học
thuyết chính trị - đạo đức ra đời trên cơ sở của hiện thực xã hội. Chính nhu
cầu thực tiễn của thời đại Xuân Thu - Chiến Quốc là nguyên nhân cơ bản
nhất, trực tiếp nhất cho sự ra đời của đạo đức Nho giáo. Nếu chỉ khẳng định
nguyên nhân tồn tại xã hội là duy nhất cho sự ra đời của Nho giáo thì chưa đủ.
Bản thân học thuyết Nho giáo nói chung và đạo đức Nho giáo nói riêng đã ra
đời còn bởi những nguyên nhân cơ bản khác, đó là nền tảng văn hoá, đạo đức
truyền thống của Trung Quốc.

hội loài người làm sao đặt ra những đạo lý rõ ràng, đúng đắn, và phải thấy
được tầm quan trọng của đạo đức trong việc điều chỉnh hành vi của con
người, trong việc lập lại kỷ cương, trật tự xã hội nên Khổng Tử từng nói với
học trò của mình rằng: “Sáng nghe đạo, tối chết cũng cam lòng!”[42, 272].
Tuy nhiên, đạo đức không phải tự nó đến với con người mà mỗi người
muốn có đạo đức phải nhờ tu dưỡng và chỉ có tu dưỡng thì con người mới có
đức Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, mới duy trì được tính thiện, diệt được tính ác

16
và xã hội mới thịnh trị. Và chỉ “Noi theo đạo một cách nghiêm chỉnh, đúng
đắn trong cuộc sống, thì có được đức trong sáng, quý báu ở trong tâm” [30,
117]. Chỉ khi xã hội có đạo đức thì mọi người mới yêu thương nhau, kính
trọng nhau, nên Mạnh Tử cho rằng: “Nếu mọi người biết yêu thương người
thân, kính trọng bậc trưởng thượng, thì thiên hạ yên bình”[42, 1036].
Vì vậy, theo quan niệm của Nho giáo Khổng – Mạnh, đạo đức và việc
thi hành đạo đức là phương tiện hữu hiệu nhất để nhà cầm quyền duy trì trật
tự, kỷ cương, ổn định xã hội. Như Mạnh Tử nói: “Ở triều đình không có gì
quý bằng tước vị; chỗ xóm làng không có gì quý bằng tuổi tác; về mặt giúp
đời, giáo hóa dân không có gì quý bằng đạo đức”[42, 880]. Nhà cầm quyền
chỉ có cai trị bằng đạo đức mới thu phục được lòng người, mới giáo hóa được
dân, dân mới yêu quý, cảm phục nhà cầm quyền, mới tránh được làm việc ác
và hiểu rõ lễ nghĩa, cho nên, Khổng Tử cho rằng: “Lấy đức để làm việc chính
trị cũng ví như ngôi sao Bắc thần, ở yên vị mà các ngôi sao khác đều chầu
về”[42, 214]. Bởi, chỉ có cai trị bằng đạo đức mới cảm hoá được lòng người,
mới khiến con người không làm điều ác và hiểu rõ lễ nghĩa. Nhận thấy điều
đó, nên Khổng Tử cho rằng: “dùng chính lệnh để dẫn dắt dân, dùng hình pháp
để giữ trật tự, dân tránh khỏi tội nhưng chưa biết hổ thẹn; dùng đức để dẫn
dắt, dùng lễ để giữ trật tự, dân biết hổ thiện mà tiến tới chỗ tốt lành.”[42,
215]. Hay theo Mạnh Tử: “Dùng sức mạnh để chinh phục, người ta chẳng tâm
phục, mà chỉ vì không đủ sức (chống lại) thôi. Dùng đức để chinh phục, người

làm người mà theo Mạnh Tử: “Điều nhân là để áp dụng cho con người. Bàn
cho hết lẽ, đó là đạo làm người”[42, 1349].
* Quan niệm về đức Nhân
Nhân là phạm trù đạo đức đầu tiên, cơ bản nhất trong học thuyết đạo
đức Nho giáo Khổng – Mạnh và Nho giáo nói chung. Khi các học trò hỏi
Khổng Tử, thế nào là nhân? thì Khổng Tử tùy từng người, tùy tư cách và học

18
lực của mỗi người để trả lời, chẳng hạn như khi trả lời Nhan Uyên, Khổng Tử
cho nhân là: “Khắc kỷ phục lễ”; Phàn Trì hỏi nhân, Khổng Tử nói: “Ái nhân”
(Đó là người biết yêu người)[42, 493]; Tư Mã Ngưu hỏi về đức nhân, Khổng
tử trả lời: “Người nhân nói năng dè dặt”[42, 474]; Trọng Cung hỏi về điều
nhân, Khổng Tử nói rằng: “Ra khỏi cửa, (nghiêm trang) như lúc tiếp kiến
khách sang trọng, sai khiến dân (cẩn thận) như dự tế lễ lớn. Điều gì mình
không muốn chớ thi hành cho người khác. (Như vậy) trong nước chẳng ai oán
giận, trong nhà cũng không ai oán giận”[42, 473]. Vậy, nói đến nhân là nói
đến hành động của con người phải hợp với thiên lý chí công và phải bỏ hết cái
tư tâm, tư ý, khiến cho đối với mình cũng như đối với người, lúc nào cũng
kính cẩn và nhân ái như vậy. Nên, theo Khổng Tử: người nhân là người “cư
xử phải khiêm cung, làm việc phải kính cẩn, giao thiệp với người phải hết
lòng”[42, 513]. Tuy nhiên, nhân còn có nghĩa khác rộng hơn nữa mà theo
Khổng Tử: “Ôi, người nhân là người muốn gây dựng điều gì cho mình cũng
gây dựng cho mình điều đó, muốn mình thông đạt ra sao cũng khiến mình
thông đạt như vậy”[42, 341] và theo Mạnh Tử: “Người nhân đối với em trai
không chất chứa giận dữ, không giữ mãi oán hờn, chỉ một niềm thương mến
mà thôi. Mến ai, muốn cho người đó được sang trọng, yêu ai muốn cho người
đó được giàu có”[42, 1115]. Hay “Người nhân làm việc khó khăn trước đã,
kết quả thu lượm được tính sau”[42, 334]. Và theo Khổng Tử: “Điều nhân ở
xa ta hay sao? Nếu ta muốn điều nhân, điều nhân đó tự đến với ta”[42, 366].
Vậy nhân là một cái thể yên lặng như núi, tất cả các chuẩn mực đạo đức khác

của người ta đều thuộc từng hạng xem xét lỗi của một người, biết được lòng
nhân ra sao”[42, 272] và ông còn khuyên: “Hãy thật lòng để chí vào điều
nhân sẽ không phạm phải điều ác”[42, 268]. Vì vậy, nếu lấy tiêu chuẩn của
lòng nhân mà đánh giá, thì ít nhất cũng có hai loại là nhân và bất nhân, và
người nhân có thể vì lòng thương người mà chịu tiếng xấu trong khi đó kẻ bất
nhân phạm lỗi vì tính ích kỷ. Vì vậy, theo Khổng Tử: “Đạo nhân đối với

20
người dân còn cần thiết hơn là nước và lửa”[42, 586]. Theo Mạnh Tử: “Lòng
nhân thắng điều bất nhân cũng như nước thắng lửa vậy”[42, 1234]; và cách
tốt nhất để cảm hóa kẻ bạo tàn, theo Khổng Tử: “Người thiện nhân nối tiếp
nhau ”. Phương pháp tốt để thực hiện điều nhân, theo Khổng Tử là: “Khéo
lấy bản thân làm mục tiêu so sánh (để hiểu lòng người) khá gọi là phương
pháp tốt để thực hiện điều nhân vậy”[42, 341].
Đạo nhân vừa thấp ai cũng với tới được, mà cao thì cao vô cùng, đến
như Nhan Hồi cũng chỉ giữ được ba tháng. Qua đó cho ta thấy, đạo nhân thật
là rộng, người không có chí học đạo nhân thì không theo được, không có
được đức nhân. Học đạo nhân phải quyết chí học cho đến cùng, dẫu chết
cũng không bỏ. Và người đạt nhân, theo Khổng Tử phải là: “người phải có
tính chất phác và ngay thẳng, lại chuộng nghĩa, biết xét lời nói xem sắc mặt,
để suy nghĩ kỹ mà đối xử khiêm nhượng với mọi người. Như vậy trong nước
ai cũng khen là đạt nhân, trong nhà ai cũng khen là đạt nhân”[42, 490].
Nhân là điều trọng yếu như thế, cho nên theo Nho giáo Khổng – Mạnh,
dạy người ta là cốt dạy đức nhân. Và người có lòng nhân, sẵn sàng làm
bất cứ việc gì để giữ đạo nhân, bởi “Lòng nhân nhắm mục tiêu vào con
người, mà thương yêu cha mẹ là lớn hơn cả”[42, 127], “có khi còn quyên
sinh để giữ trọn đạo nhân”[42, 570].
Nhân gắn với lễ. Đối với bản thân mình, người có đức nhân phải là
người phải luôn giữ cho tâm trong sáng, dẹp bỏ tư dục (không nghĩ tới những
ham muốn riêng tư) và lấy lễ để tiết chế, điều chỉnh hành vi con người, cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status