PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Trong đời sống xã hội, năng lượng điện ngày càng trở nên thiết yếu cho
sự phát triển các ngành, lĩnh vực, nhất là trong tiến trình hội nhập và phát triển
kinh tế toàn cầu. Năng lượng điện là nguồn năng lượng cơ bản để vận hành, duy
trì các mặt của đời sống xã hội, là yếu tố đầu vào quan trọng cho sự phát triển
của mỗi quốc gia. Tất cả các lĩnh vực, từ nông nghiệp đến công nghiệp, nhất là
trong tiến trình công nghiệp hóa đất nước thì việc đảm bảo nguồn năng lượng
nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế quốc dân bền vững có ý nghĩa quyết
định.
Ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, năng lượng
điện được cung cấp chủ yếu từ nguồn chính là: thủy điện và nhiệt điện. Tuy
nhiên ai cũng biết rằng, khai thác tài nguyên thiên nhiên để sản xuất điện có ảnh
hưởng rất lớn, nó có thể lảm biến đổi khí hậu – tự nhiên. Trong khi mọi nguồn
tài nguyên thiên nhiên đều là có hạn, việc khai thác và sử dụng nó vượt quá
ngưỡng cho phép thì không những nó không làm hồi phục được mà còn làm ảnh
hưởng xấu đến điều kiện tự nhiên – xã hội của chính quốc gia đó.
Theo các nhà nghiên cứu quy hoạch năng lượng, từ sau năm 2020, nhu
cầu điện năng của Việt Nam sẽ vượt quá khả năng cung cấp, mặc dù đã huy
động mọi tiềm lực từ các nguồn năng lượng đang khai thác để bủ đắp vào phần
năng lượng điện đang thiếu hụt.
Các nhà hoạch định và cung cấp nguồn năng lượng đều thông nhất lựa
chọn một giải pháp mang tính tổng hợp gồm phát triển điện hạt nhân cùng với
với nhập khẩu các dạng năng lượng khác như: điện, than, dầu khí trong đó, đặc
biệt quan tâm đến chiến lược phát triển ĐHN ở Việt Nam.
Có thể nói rằng định hướng giải quyết nhu cầu năng lượng bằng việc
phát triển điện hạt nhân là phù hợp với xu thế chung của thời đại, xu hướng
phát triển chung của toàn thế giới là phát triển và sử dụng năng lượng hạt
nhân vì mục đích hòa bình.
1
Theo kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn sản xuất , hiện các nhà
Giả thuyết nghiên cứu khoa học:
Từ thực tiễn triển khai công tác quản lý dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh
Thuận – nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam, tác giả luận văn nhận thấy
cần có một cái nhìn toàn diện, khoa học về công tác quản lý từ quản lý vĩ mô đến
quản lý vi mô để tạo một môi trường thuận lợi cho việc thực hiện dự án nhà máy
điện hạt nhân - dự án quan trọng quốc gia.
Môi trường nghiên cứu được xác định là thực trạng môi trường pháp lý
của Việt Nam và một số nước trên thế giới hiện nay (lấy số liệu đến năm 2010)
và giả định không có sự thay đổi thể chế chính trị - hành chính đến năm 2050.
Từ kết quả quản lý nhà nước đối với dự án điện hạt nhân này có thể khái quát
hóa về quản lý nhà nước đối với hệ thoogns điện hạt nhân ở Việt Nam trong
tương lai,
Bố cục nội dung luận văn
Chương I: Lý luận chung về QLNN đối với năng lượng điện hạt nhân.
Chương II: Thực trạng QLNN về năng lượng điện hạt nhân từ thực tiễn
triển khai dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại Việt nam.
Chương III: Các kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế QLNN về năng lượng
điện hạt nhân.
3
LỜI CẢM ƠN
Đây luận văn thạc sỹ nghiên cứu về quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực
kinh tế sản xuất điện hạt nhân dưới góc nhìn của các nhà hành chính công đầu
tiên ở Việt Nam. Đây là một lĩnh vực rất mới ở Việt Nam, trong quá trình nghiên
cứu đề tài, tác giả luận văn chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu xót. Vì thế, Tác giả luận
văn kính mong nhận được sự góp ý của các chuyên gia, các nhà khoa học để
hoàn thiện nội dung nghiên cứu của mình trong giai đoạn tiếp theo.
Tác giả luận văn cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Hữu
Hải, người đã động viên hướng dẫn Tác giả trong suốt quá trình thực hiện,
nghiên cứu hoàn thành luận văn./.
LỜI CAM ĐOAN
II. Khái quát về tình hình phát triển năng lượng ĐHN tại Việt Nam 51
III. Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong QLNN đối với năng lượng
ĐHN tại Việt Nam hiện nay 63
KẾT CHƯƠNG II 76
CHƯƠNG III. HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NĂNG LƯỢNG
ĐIỆN HẠT NHÂN 77
I. Định hướng phát triển năng lượng điện hạt nhân 77
II. Một số giải pháp QLNN về năng lượng điện hạt nhân tại Việt Nam 93
KẾT CHƯƠNG III 119
KẾT LUẬN CHUNG 120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
I. TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT 121
II. TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG NƯỚC NGOÀI 121
III. CÁC TRANG WEB VÀ THÔNG TIN INTERNET 122
5
DANH MỤC SƠ ĐỒ - BẢNG – BIỂU 125
6
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
7
DANH MỤC SƠ ĐỒ - BẢNG – BIỂU
8
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
NĂNG LƯỢNG ĐIỆN HẠT NHÂN
I. Nhận thức chung về QLNN trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội
1.1 Khái niệm QLNN trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội
1.1.1 Khái niệm QLNN
Xuất phát từ nguồn gốc ra đời của Nhà nước nhằm điều hòa các mâu thuẫn
xã hội phát sinh trong quá trình vận động của các mối quan hệ sản xuất. Trong
bất kỳ một chế độ chính trị nào đều cần sự quản lý của Nhà nước trên mọi lĩnh
vực đời sống xã hội.
bằng luật pháp, bằng văn bản dưới luật, bằng các chính sách có hiệu lực pháp lý
nhất định. Do đó trong QLNN ngoài tác động giáo dục, thuyết phục, động viên,
việc bắt buộc tuân thủ luật pháp là một tất yếu.
Quản lý vĩ mô của nhà nước: Hệ thống cơ quan QLNN được chia thành các
cấp khác nhau từ Trung ương đến cơ sở (xã, phường), các cơ quan này đều có
chức năng quản lý nhà nước, song khác nhau ở thẩm quyền và phạm vi địa giới
hành chính.
Ở cấp Trung ương nhà nước thực hiện quản lý vĩ mô, đó là hoạt động điều
hành của các cơ quan nhà nước Trung ương đối với các quá trình kinh tế - xã hội
thuộc phạm vi cả nước, nhằm đạt mục tiêu chung của cả nước, quản lý vĩ mô của
nhà nước có đặc điểm tác động của nhà nước vừa rộng khắp cả nước, vừa có tính
tổng hợp liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống như kinh tế - xã hội, tâm lý,
an ninh vừa có tính tác động dài hạn.
Vì vậy có thể khái niệm chung về QLNN trên các lĩnh vực kinh tế là sự tác
động của các cơ quan nhà nước có chức năng, thẩm quyền tới các quá trình
kinh tế - xã hội, bằng hệ thống công cụ có tính chất quyền lực nhà nước, nhằm
đạt mục tiêu phát triển kinh tế và công bằng xã hội (điều hòa các mâu thuẫn
trong xã hội một cách công minh)
1.2 Mục tiêu QLNN trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội
Mục tiêu QLNN về kinh tế có thể mô tả bằng sơ đồ sau:
10
1.2.1 Mục tiêu chung (tối cao)
Mục tiêu chung, cao nhất của Nhà nước là nhằm điều hòa các mâu thuẫn xã hội,
để quản lý mọi mặt của xã hội theo định hướng chính trị, ý trí và quyền lực của
giai cấp thống trị.
Ở Việt Nam, mục tiêu cao nhất trong QLNN đã được Đảng và Nhà nước khảng
định: Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng – văn minh, mọi gia đình
đểu ấm no – hạnh phúc.
Từ mục tiêu chung trong hoạt động QLNN như trên có thể phân ra thành các
nhóm mục tiêu như sau:
12
Đảm bảo sự phát triển kinh tế đi đôi với việc khai thác tự nhiên hợp lý.
Đảm bảo sự phát triển kinh tế đi đôi với việc khai thác tự nhiên hợp lý nhằm duy
trì sự tái sinh và môi trường tự nhiên ổn định, cân bằng sinh thái, môi trường
trong sạch.
1.3 Nguyên tắc trong QLNN về kinh tế
Nguyên tắc là tập hợp những quy định, quy tắc chỉ đạo hành động, bắt buộc các
hành động phải thực hiện theo.
Nguyên tắc trong hoạt động QLNN là tập hợp các quy định chung nhất bắt buộc
mọi hoạt động QLNN phải tuân theo nhằm đảm bảo mục tiêu QLNN là xã hội
công bằng, văn minh, phát triển ổn định và bền vững.
1.3.1 Các nguyên tắc chung nhất trong hoạt động QLNN
Nguyên tắc: Mọi hoạt động QLNN không trái quy luật khách quan
Nguyên tắc: phù hợp mục tiêu quản lý.
Nguyên tắc: phản ánh đúng tính chất và các quan hệ quản lý.
Nguyên tắc: tính hệ thống, nhất quán trong quyết định quản lý.
1.3.2 Các nguyên tắc trong hoạt động QLNN về kinh tế : nhằm mục tiêu phát
triển nhà nước CHXHCN Việt Nam
Nguyên tắc: Thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế
Nguyên tắc này là nguyên tắc nhằm đảm bảo quyền lợi về kinh tế của mọi thành
phần kinh tế nhưng những quyền lợi kinh tế này phải phù hợp với mục tiêu chính
trị của Nhà nước. Nguyên tắc này chính là sự thể hiện bản chất của Việt Nam là
QLNN về kinh tế là phù hợp với quy luật vận động khách quan của xã hội, kết
hợp hài hòa giữa lợi ích giai cấp với lợi ích chung của toàn xã hội.
Nguyên tắc: Tập trung dân chủ
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc xuyên suốt các hoạt động
QLNN và thể thể hiện bản chất nhà nước XHCN của Việt Nam. Các cơ quan
quyền lực nhà nước do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân, các
cơ quan HCNN do cơ quan quyền lực nhà nước bầu ra và chịu trách nhiệm trước
cơ quan bầu ra; Các cơ quan cấp dưới phải phục tùng cấp trên; Quyền lực quản
thành phần kinh tế khác trong xã hội. Bởi đối tượng của hoạt động quản lý lại
14
bao trùm lên các đối trượng khác trong xã hội vì vậy việc phân định phạm vi
quản lý và tạo cơ chế quản lý vĩ mô phân định với quản lý vi mô của doanh
nghiệp. Nói cách khác, QLNN tác động vào các tổ chức một các tổng thể và
thống nhất, nhưng không tác động làm pháp vỡ tính chủ động quản lý của tổ
chức vi mô.
Nguyên tắc: Gắn phát triển kinh tế với vấn đề phát triển văn hoá xã hội và an
ninh quốc phòng
Cũng như bản chất của Nhà nước, mọi nhà nước đều hướng tới mục tiêu
toàn vẹn lãnh thổ. Vì vậy, nguyên tắc đảm bảo an ninh quốc phòng luôn phải
được tuân thủ thực hiện trong mọi hoạt động xã hội, đặc biệt trong các hoạt động
QLNN, nguyên tắc đảm bảo an ninh quốc phòng càng phải được đặt lên hàng
đầu và là nguyên tắc kiên quyết, nó thể hiện bản lĩnh dân tộc, chính trị của mỗi
cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các nhiệm vụ công (công vụ).
Nhất là trong thời ký kinh tế hội nhập, biên giới hành chính đang bị chi phối bởi
biên giới kinh tế, quyền lực kinh tế của các quốc gia phát triển đang ngày càng
lớn mạnh và nó tác động trực tiếp lên các đối tượng kinh tế vi mô của các quốc
gia khác trên chính phạm vi biên giới hành chính của các quốc gia này.
1.3.3 Các nguyên tắc QLNN về kinh tế, nguyên tắc quản lý ngành kề hợp quản
lý theo lãnh thổ hành chính
QLNN theo ngành:
Ngành là tập hợp các đơn vị kinh tế có một số điểm chung về đầu vào, đầu
ra hay cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ. Nhà nước phải quản lý theo ngành bởi
vì các đơn vị cùng ngành thường có các vấn đề kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, lao
động, nguyên liệu, tiêu thụ giống nhau cần được giải quyết một cách thống
nhất.
QLNN theo ngành bao gồm các hoạt động sau:
+ Định hướng đầu tư xây dựng lực lượng của ngành, chống sự mất cân đối trong
cơ cấu ngành và vị trí ngành trong cơ cấu chung của nền kinh tế quốc dân.
cho các đơn vị kinh tế sao cho cân đối hài hoà về lượng, chất, thời gian trong sự
tương đồng với nhau và với nhu cầu cũng như khả năng tiếp nhận của người tiêu
dùng trên lãnh thổ, xét theo khả năng thu nhập cũng như thị hiếu, vị hiếu của dân
16
cư trên lãnh thổ; Tổ chức trực tiếp hay gián tiếp việc xây dựng kết cấu hạ tầng
thuộc tầm lãnh thổ đó để đảm bảo chung cho tập đoàn kinh tế liên ngành đóng
trên lãnh thổ.
Sự kết hợp QLNN theo ngành và theo lãnh thổ:
Kết hợp QLNN theo ngành và lãnh thổ là sự kết hợp QLNN theo ngành và
lãnh thổ bởi những lý do sau: Thứ nhất, có thể có sự chồng chéo giữa 2 chiều
quản lý, gây trùng lập hay bỏ sót trong QLNN của tuyến; Thứ hai, mỗi chiều
quản lý có thể không thấu suốt được tình hình của chiều kia, từ đó có thể có
những quyết định quản lý phiến diện, kém chuẩn xác; Thứ ba, mọi sự phân công
quản lý theo ngành và theo lãnh thổ đều chỉ có thể đạt được sự hợp lý tương đối
vì vẫn có khả năng bỏ sót hoặc chồng chéo. Nếu tách bạch quá có thể làm cho
những chỗ bỏ sót, chồng chéo chậm được phát hiện và xử lý, dẫn đến hậu quả sẽ
trở nên nghiêm trọng hơn.
Nói chung QLNN kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ:
+ Thực hiện quản lý đồng thời theo cả 2 chiều: Theo ngành và theo lãnh thổ.
+ Có sự phân công quản lý rành mạch cho các cơ quan quản lý theo ngành và
theo lãnh thổ không trùng, không sót.
+ Các cơ quan QLNN mỗi chiều thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý theo
thẩm quyền của mình trên cơ sở đồng quản, hiệp quản, tham quản với cơ quan
thuộc chiều kia theo qui định cụ thể của nhà nước.
1.4 Chức năng QLNN trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội
QLNN là sự quản lý toàn diện trên mọi mặt, mọi lĩnh vực, QLNN nhằm tạo
môi trường, định hướng phát triển, tổ chức, điều tiết kiểm tra tất cả các ngành
các lĩnh vực. Tuỳ theo yêu cầu nhiệm vụ chính trị và tình hình kinh tế - xã hội
của từng giai đoạn mà việc sắp xếp thứ tự ưu tiên và nội dung các chức năng
quản lý vĩ mô của nhà nước là khác nhau.
hoá.
Hai là: Chức năng định hướng, điều tiết, hoạch định phát triển kinh tế.
Đây là một chức năng quan trọng của QLNN về kinh tế ở nước ta, điều này
bắt nguồn từ hai lý do.
18
Trước hết, trong qúa trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước cần định hướng cho các lực lượng kinh tế vận
động theo quỹ đạo của nhà nước ta, theo con đường xã hội chủ nghĩa, mặt khác
kinh tế thị trường có đặc điểm là tự do phát triển sản xuất kinh doanh, nếu không
định hướng, hướng dẫn, đặc biệt trong quá trình chuyển đổi sẽ để tự phát vô tổ
chức, nổi loạn, hơn nữa nhà kinh doanh và các tổ chức kinh tế được tự chủ kinh
doanh, nhưng không thể nắm được hết tình hình và xu hướng vận động của thị
trường. Do đó thường chạy theo thị trường một cách thụ động, dễ gây ra thua lỗ
thất bại và đổ vỡ , gây thiệt hại chung cho nền kinh tế.
Nhà nước có chức năng điều tiết, định hướng nền kinh tế phát triển theo
quỹ đạo và mục tiêu kinh tế - xã hội đã được Đảng và Nhà nước định ra. Nhà
nước có chức năng định hướng phát triển kinh tế, hoạt động hướng đích theo các
mục tiêu chung của đất nước, thông qua các công cụ như: chiến lược, quy hoạch,
chính sách, kế hoạch, thông tư và nguồn lực của Nhà nước. Điều cần chú ý là
trong điều kiện chuyển đổi sang kinh tế thị trường ở nước ta, để thực hiện chức
năng định hướng, hướng dẫn Nhà nước chủ yếu sử dụng cách thức và phương
pháp tác động gián tiếp mang tính chất mềm dẻo, uyển chuyển vừa đảm bảo tính
tự chủ của các cơ sở kinh tế, vừa đảm bảo mục tiêu chung. Cách thức tác động
gián tiếp, một mặt cho phép tôn trọng các quy luật của thị trường, mặt khác tạo
ra cơ chế cho phép đối tượng quản lý gồm các cấp dưới và các doanh nghiệp tự
lựa chọn giải pháp tối ưu nhất, hiệu quả nhất.
B a là: Chức năng tổ chức bộ máy, sắp xếp, quản lý nguồn nhân lực:
Tổ chức là một chức năng quan trọng của QLNN nền kinh tế, đặc biệt trong
thời kỳ quản lý kinh tế. Trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường như hiện
nay của nước ta, Nhà nước có nhiệm vụ sắp xếp tổ chức lại các đơn vị kinh tế.
Trong hoạt động quản lý kinh tế nhà nước có thể và cần phải thực hiện
đồng thời 3 phương pháp chủ yếu, đó là:
Phương pháp hành chính- tổ chức:
Là tổng hợp các phương pháp hành chính trong quản lý kinh tế của nhà
nước là các cách tác động trực tiếp bằng các quyết định dứt khoát mang tính bắt
buộc của nhà nước lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra.
20
Phương pháp kích thích kinh tế:
Là việc áp dụng các phương pháp kinh tế, đó là các phương pháp tác động
gián tiếp của nhà nước thông qua các đòn bẩy kinh tế và các lợi ích kinh tế lên
các đối tượng quản lý, buộc họ phải chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm
trước các kết quả hoạt động kinh tế của mình, mà không cần phải thường xuyên
tác động về mặt hành chính
Phương pháp thuyết phục, giáo dục:
Các phương pháp giáo dục vận động trong QLNN về kinh tế là các
phương pháp tác động về mặt nhận thức, tư tưởng, tình cảm, trách nhiệm đối với
sự nghiệp phát triển đất nước lên các đối tượng quản lý, để họ tự giác, quyết tâm
hoạt động kinh tế có hiệu quả theo pháp luật, quy định của nhà nước.
1.5.2 Công cụ QLNN về kinh tế
Công cụ quản lý nói chung là tất cả mọi phương tiện mà chủ thể quản lý
sử dụng để tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã
đề ra.
Công cụ quản lý của nhà nước về kinh tế là tổng thể những phương tiện
mà nhà nước sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý kinh tế của nhà nước
nhằm đạt được các mục tiêu đã xác định.
Thông qua các công cụ quản lý với tư cách là vật truyền dẫn tác động
quản lý của nhà nước mà nhà nước chuyển tải được ý định và ý chí của mình
đến các chủ thể, các thành viên tham gia hoạt động trong nền kinh tế.
Hệ thống công cụ quản lý kinh tế của nhà nước bao gồm:
Nhóm thứ nhất: các công cụ thể hiện ý đồ, mục tiêu của QLNN
Chính phủ; quyết định, thông tư, chỉ thị của các Bộ và cơ quan thuộc Bộ.
Nhóm thứ ba: Công cụ chính sách công (thể hiện các tư tưởng, quan điểm của
nhà nước)
Chính sách: Là tổng thể các quan điểm, tý týởng, các giải pháp và các
công cụ mà Nhà nýớc sử dụng để tác động lên các chủ thể KT – XH nhằm giải
quyết vấn đề nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định.
22
Các công cụ thể hiện các tư tưởng, quan điểm trong việc điều chỉnh các
hoạt động của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục
tiêu đã đề ra: Chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập, chính
sách ngoại thưong (thuế quan, hạn ngạch, trợ cấp xuất khẩu, bán phá
giá ).Chính sách công là một trong những công cụ cơ bản được Nhà nước sử
dụng để phát triển kinh tế - xã hội ở bất kỳ quốc gia nào và nó thường được kết
hợp với phương pháp kích thích kinh tế. Chính sách công là một trong những
công cụ cơ bản được Nhà nước sử dụng để phát triển kinh tế - xã hội ở bất kỳ
quốc gia nào và nó thường được sử dụng trong phương pháp kích thích kinh tế
nhằm hiệu quả cao cho nền kinh tế quốc dân. Nhà nước thực hiện các chính
sách,biện pháp nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ công bằng
xã hội, thực hiện các chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành mạnh hoá
xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản
xuất, tăng năng xuất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã
hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp và đi đôi với chương trình xoá
đói giảm nghèo.
Nhóm thứ tư: Các công cụ vật chất thuần tuý.
Đây là các vật chất được cụ thể hóa tiềm lực kinh tế của một quốc gia, vì
vậy Nhà nước cần phát huy tốt vai trò của công cụ này nhằm tối đa nguồn lợi từ
công cụ này. Hệ thống công cụ này bao gồm:
+ Đất đai, rừng núi, sông hồ, các nguồn nước;Tài nguyên trong lòng đất, tài
nguyên trong không gian; Các nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa.
+ Các nguồn lợi về tiền tệ: Hệ thống Ngân hàng Trung ương; Kho bạc Nhà
Thuộc phạm vi - đối tượng quản lý của
Luật Năng Lượng nguyên tử
Thuộc phạm vi - đối tượng quản lý của
Luật Điện lực
Sơ đồ mô tả khái niệm Năng lượng điện nguyên tử & Năng lượng
điện
Tóm lại, có thể hiểu khái niệm: Năng lượng điện hạt nhân là một loại
năng lượng được sản sinh ra thông qua công nghệ lò phản ứng hạt nhân có kiểm
soát nhằm sử dụng để tách năng lượng hạt nhân một cách hữu ích là làm ra
điện.
Vì vậy, để tạo ra năng lượng điện hạt nhân đòi hỏi cần có một hệ thống và
khối lượng phản ứng hạt nhân lớn, liên tục nên bản thân nó tiềm tàng rất nhiều
rủi ro. Do đó nó cần có sự đầu tư lớn về mọi mặt (nhân lực, tài chính, thời gian)
và đòi hỏi sự chính xác, an toàn tuyệt đối.
Nhà máy ĐHN: Nhà máy ĐHN là hệ thống cơ cấu các tổ máy ĐHN và
các công trình phụ trợ khác tạo thành một tổng thể thống nhất nhằm sản xuất ra
điện từ nguyên liệu hạt nhân một cách an toàn và hiệu quả nhất.
NMĐHN là tổ hợp công trình bao gồm một hoặc nhiều tổ máy ĐHN, hệ
thống biến áp truyền tải điện lên lưới điện, nơi lưu trữ, lưu chuyển và xử lý chất
phóng xạ được đặt tại cùng nơi.
Trong một Tổ máy ĐHN là tổ hợp công trình bao gồm một lò phản ứng
hạt nhân, tua bin và máy phát điện và các thiết bị phụ trợ khác chuyển NLHN do
lò phản ứng hạt nhân sinh ra thành điện năng.
2.2 Nhiệm vụ QLNN về năng lượng ĐHN
2.2.1 Xây dựng, tạo lập môi trường vĩ mô nhằm đảm bảo phát triển bền vững
toàn diện cho ĐHN
Xây dựng, tạo lập môi trường vĩ mô như môi trường pháp lý, thể chế,
chính sách quốc gia về ĐHN nhằm xây dựng một môi trường đảm bảo tạo điều
kiện để phát triển toàn diện và thuận lợi cho ĐHN.
Môi trường vĩ mô này phải đặt mục tiêu an toàn lên hàng đầu, coi trọng và