Các giải pháp hoàn thiện pháp luật sỡ hữu trí tuệ Việt Nam về bí mật kinh doanh - Pdf 27

LỜI MỞ ĐẦU
Thương trường như chiến trường là điều không ai có thể phủ nhận. Trên chiến
trường không tiếng súng ấy luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra những cuộc chiến không gây đổ
máu nhưng tổn thất vật chất thì khó có thể tưởng tượng. Các doanh nghiệp muốn tồn tại
trong thị trường phải luôn vận động, biến đổi để tạo cho mình một vị trí và chiếm lĩnh
những phần thị trường nhất định. Sự cạnh tranh gay gắt đòi hỏi họ phải xây dựng cho được
một chiến lược cạnh tranh có hiệu quả để đứng vững,
Ngày nay, bên cạnh các yếu tố cơ bản như vốn, nhân lực, môi trường đầu tư... việc
bảo vệ các thông tin bí mật là một yếu tố tạo năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, góp
phần vào thành công của các doanh nhân.
Mỗi doanh nghiệp khi hoạt động trên thương trường đều có một bí mật kinh doanh
riêng nhằm tạo ra lợi nhuận và lợi thế trước đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, trong rất nhiều
doanh nghiệp, nhận thức và bảo vệ bí mật kinh doanh chưa được các nhà quản lý doanh
nghiệp quan tâm một cách đúng mức. Vậy bí mật kinh doanh là gì? Bí mật kinh doanh có
được bảo hộ ở Việt Nam? Những hành vi nào được coi là xâm phạm bí mật kinh doanh?
Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam bảo hộ về vấn đề này như thế nào?...
Trong bài viết này, nhóm chúng em sẽ đi làm rõ những vấn đề trên đồng thời trong
phạm vi nghiên cứu của mình, nhóm em sẽ đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn
thiện cơ chế bảo hộ bí mật kinh doanh tại Việt Nam. Bài viết của chúng gồm những mục
chính như sau:
I. Tổng quan về bí mật kinh doanh
II. Quy định pháp luật về bảo hộ bí mật kinh doanh:
III. Nhìn từ vụ “Đánh cắp bí mật kinh doanh của Coca-cola” đến thực trạng bảo hộ
bí mật kinh doanh tại Việt Nam
IV. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật sỡ hữu trí tuệ Việt Nam về bí mật kinh
doanh
NỘI DUNG
I. Tổng quan về bí mật kinh doanh
1. Bí mật thương mại là gì?
Bí mật kinh doanh thường, hay còn gọi là “Trade secrets”, được hiểu là những tri
thức liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, được giữ bí mật và các thông tin đó

Mặt khác, những bất lợi bao gồm:
• Nếu bí mật được thể hiện trong sản phẩm, những người khác có thể khám phá bí
mật cơ bản và sử dụng nó một cách hợp pháp của "kỹ thuật đảo ngược" đó
• Bảo vệ không còn nếu bí mật được công bố công khai
• Bảo vệ chỉ có hiệu quả chống lại việc mua lại, sử dụng hoặc tiết lộ thông tin bí mật
không hợp pháp
• Bảo vệ yếu hơn sự bảo hộ bằng sáng chế
• Một bí mật thương mại không được bảo vệ chống lại đối với những người độc lập
đưa ra ý tưởng tương tự. Như một hệ quả, một bí mật thương mại cũng là bằng sáng
chế có thể được cấp bằng cho người khác nếu phát triển độc lập bởi người đó. Điều
này trái ngược với các bằng sáng chế bảo vệ các chủ sở hữu bằng sáng chế, ngay cả
đối với những người phát triển độc lập cùng một sáng chế
Luật pháp không trừng phạt phát hiện công bằng, bao gồm phát hiện bằng phương tiện
pháp lý như:
• Độc lập, sáng tạo, bí mật thương mại không cung cấp độc quyền, do đó, bất cứ ai có
thể khám phá bí mật thương mại của bạn độc lập và sử dụng nó hoặc bằng sáng chế
đó.
• Kỹ thuật đảo ngược, đây là một thực tế phổ biến được sử dụng để tìm ra cơ chế
hoặc các thành phần của một sản phẩm, khi một nghiên cứu đối thủ cạnh tranh một
sản phẩm nhân bản hay thậm chí làm cho một sản phẩm tốt hơn.
II. Quy định pháp luật về bảo hộ bí mật kinh doanh:
Theo quy định của các văn bản pháp luật hiện hành, việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với bí mật kinh doanh tập trung vào một số nội dung cơ bản sau:
1. Phạm vi và điều kiện bảo hộ:
1.1 Phạm vi bảo hộ :
Tại Việt Nam, bí mật kinh doanh là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp được pháp
luật bảo hộ theo Khoản 1, Điều 750 Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, không phải bất
cứ thông tin bí mật nào cũng được bảo hộ. Điều 85 của Luật sở hữu trí tuệ đưa ra danh
mục các loại thông tin không được bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh bao gồm:
“ 1. Bí mật về nhân thân;

tham gia, chúng ta thấy có một số điểm khác biệt như:
- Theo Điều 39 của Hiệp định TRIPs, một trong các điều kiện quan trọng để bí mật kinh
doanh được bảo hộ là phải có giá trị thương mại (commercial value). Cụ thể, Điều 39 Hiệp
định TRIPs quy định thông tin được bảo hộ phải đáp ứng các điều kiện: “có tính chất bí
mật nghĩa là các thông tin đó không phổ biến hoặc không dễ dàng tiếp cận thông tin đó
dưới dạng thông tin toàn bộ, tức là dưới dạng ghép nối theo trật tự chính xác mọi chi tiết
của thông tin đó đối với những người thường xuyên giải quyết với các loại thông tin như
vậy; có giá trị thương mại vì nó có tính chất bí mật; và được người kiểm soát hợp pháp
thông tin đó giữ bí mật bằng các biện pháp hợp lý”.
Điều 9, Chương 2 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ cũng quy định tương
tự. Như vậy, pháp luật Việt Nam chưa thể hiện đầy đủ nội dung này. Trên thực tế, giá trị
thương mại của thông tin bí mật được tạo ra bởi nhiều yếu tố, trong đó lợi thế mà thông tin
bí mật mang lại cho người nắm giữ nó chỉ là một trong các yếu tố quan trọng làm nên giá
trị thương mại của thông tin.
Cũng theo Khoản 2, Điều 39 của Hiệp định TRIPs, thông tin được bảo hộ khi
“không phổ biến, không dễ dàng tiếp cận” không phải là đối với mọi chủ thể mà chỉ đối
với “những người thường xuyên giải quyết đối với các loại thông tin như vậy”. Điều này
có nghĩa, ngay cả những người thường xuyên tiếp xúc, xử lý thông tin đó, thì đối với họ,
những thông tin như vậy vẫn là loại thông tin không phổ biến, hay có thể gọi là thông tin
“hiếm”. Quy định trên của Hiệp định TRIPs có ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn cản việc
bảo hộ quá rộng đối với các loại thông tin khác tồn tại trên thực tế. Tuy nhiên, nội dung
này của Hiệp định TRIPs lại chưa được pháp luật Việt Nam thể chế hóa đầy đủ, rõ ràng.
2. Thời hạn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh :
Khác với các đối tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp, quyền sở hữu công nghiệp đối
với bí mật kinh doanh của các chủ sở hữu không được xác lập thông qua hình thức cấp văn
bằng bảo hộ mà được bảo hộ “tự động”. Có nghĩa là quyền sở hữu công nghiệp đối với bí
mật kinh doanh sẽ phát sinh khi đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật mà không cần
thông qua bất cứ một thủ tục đăng ký nào.
“Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được
một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó”

tạo ra bí mật kinh doanh mà người đó sử dụng.
5. Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được tạo ra do phân tích, đánh giá sản phẩm
được phân phối hợp pháp với điều kiện người phân tích, đánh giá không có thoả thuận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status