Khóa luận tốt nghiệp: Cơ sở pháp lý cho việc giao kết và thực tiễn thực hiện hợp đồng bảo hiểm thân tàu của các công ty hàng hải Việt Nam - Pdf 14

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG
 ơ


1. Khái niệm về hợp đồng bảo hiểm thân tàu 16
1.1. Khái niệm và phân loại hợp đồng bảo hiểm thân tàu 16
1.2. Nội dung hợp đồng bảo hiểm thân tàu 17
1.3. Hình thức pháp lý của hợp đồng bảo hiểm thân tàu 19
1.4. Các bên trong hợp đồng bảo hiểm thân tàu 20
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41
PHAN THỊ THU TRANG
2
1.4.1 Bên tham gia bảo hiểm. 20
1.4.2. Bên bảo hiểm 21
2. Quy trình giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm thân tàu 22
2.1 Giao kết hợp đồng bảo hiểm thân tàu .22
2.1.1. Yêu cầu bảo hiểm… 23
2.1.2. Chấp nhận bảo hiểm 23
2.2. Thực hiện hợp đồng bảo hiểm thân tàu 24
3. Cơ sở pháp lý cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm thân tàu
3.1. Các nguồn luật điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm thân tàu. 32
3 1.1. Các điều ước quốc tế chi phối bảo hiểm thân tàu 32
3.1 2. Luật quốc gia. 35
3.1.3. Tập quán hàng hải. 37
Chương II
THỰC TRẠNG CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO VIỆC GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP
ĐỒNG BẢO HIỂM THÂN TÀU CỦA CÁC CÔNG TY HÀNG HẢI VIỆT NAM
I. Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm thân tàu của các công
ty hàng hải Việt Nam. 38
1. Hình thức tham gia bảo hiểm thân tàu chủ yếu của các công ty hàng hải
Việt Nam 38
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41
PHAN THỊ THU TRANG
3

Bảng 6: Một số thiệt hại về thân tàu đã được bảo hiểm bồi thường đáng
chú ý từ năm 1995 đến hết tháng 06 năm 2006, tr.52

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41
PHAN THỊ THU TRANG
5
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong ngành giao thông vận tải, vận tải biển đóng một vai tró hết sức
quan trọng, nhất là khi quá trình quốc tế hoá về thương mại phát triển
mạnh thì ngành vận tải đường biển càng đóng vai trò then chốt trong việc
chuyên chở và vận chuyển hành khách, hàng hoá từ nước này sang nước
khác, từ châu lục này sang châu lục khác . . .
Không ai có thể phủ nhận lợi ích kinh tế của ngành hàng hải. Hàng
năm ngành này đã trực tiếp hay gián tiếp tạo ra nguồn lợi nhuận khổng lồ
cho nền kinh tế của các quốc gia nói riêng và nền kinh tế thế giới nói
chung, lợi nhuận mà ngành hàng hải đem lại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
thu nhập quốc dân của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, ngành hàng hải có
nhiệm vụ là tổ chức thực hiện các hoạt động vận tải, bốc xếp và dịch vụ
liên quan để phục vụ xuất nhập khẩu và lưu thông hàng hóa, góp phần vào
việc tăng khả năng cạnh tranh cũng như mở rộng thị trường cho hoạt động
xuất nhập khẩu của đất nước. Chính vì vây, Việt Nam và các quốc gia trên
thế giới đều hết sức chú trọng vào việc phát triển các đội tàu chuyên chở
hàng hoá bằng đường biển với quy mô lớn và đồng bộ.

trong việc tham gia bảo hiểm thân tàu của các công ty hàng hải cũng như
một số hạn chế trong việc kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu của các
công ty bảo hiểm và mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào việc
nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc giao kết và thực
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41
PHAN THỊ THU TRANG
7
hiện hợp đồng bảo hiểm thân tàu nói riêng và thúc đẩy thị trường bảo hiểm
thân tàu ở Việt Nam phát triển nói chung.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Bảo hiểm hàng hải là một lĩnh vực rộng, bao gồm nhiều nghiệp vụ
như: bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển, bảo
hiểm thân tàu biển, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu… Vì vậy
trong khuôn khổ hạn hẹp của luận văn này, em chỉ tập trung vào nghiên
cứu nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu. Phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong
pháp luật về bảo hiểm của Việt Nam, thị trường bảo hiểm thân tàu ở Việt
Nam, các công ty hàng hải Việt Nam và các doanh nghiệp bảo hiểm Việt
Nam cung cấp dịch vụ bảo hiểm thân tàu.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Những vấn đề của
lý luận và thực tiễn đều được xem xét trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ
thể.
- Phương pháp thống kê kinh tế: Tổng hợp số liệu, nghiên cứu các số
liệu rút ra từ các kết luận.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Mổ xẻ, bóc tách vấn đề từ đó rút
ra những kết luận mang tính bản chất.
- Phương pháp so sánh và đối chiếu.
5. Kết cấu luận văn
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41
PHAN THỊ THU TRANG

định phân tán khả năng xảy ra tổn thất bằng cách tại các đầu thác họ chia
đều các bao hàng của mỗi thuyền cho các thuyền khác. Như vậy khi một
thuyền bị tổn thất cũng có nghĩa là mỗi thuyền chỉ bị tổn thất một bao hàng
thôi.
Từ thế kỷ 13 bảo hiểm hàng hải đã trở thành một yếu tố không thể
thiếu trong đời sống buôn bán ở các cảng thuộc Địa Trung Hải. Bảo hiểm
tàu biển đã xuất hiện ở Anh và Châu Âu từ thế kỷ 16. Phương thức bảo
hiểm thời đó là các chủ tàu hoặc các thương nhân để được bảo hiểm phải
chuẩn bị một bản khai chi tiết về các rủi ro tài chính của chuyến đi, bên
dưới bản khai này “Các nhà buôn trung thực” hoặc các chủ ngân hàng
muốn chia sẻ rủi ro sẽ ghi số tiền mà họ phải chịu trách nhiệm và ký tên.
Do đó bảo hiểm hàng hải là nguồn gốc của thuật ngữ được sử dụng:
“Người bảo hiểm” (Underwriter) và “Bảo hiểm” (Underwriting).
Bảo hiểm thân tàu chỉ thực sự hình thành và phát triển thành một
nghiệp vụ kinh doanh từ cuối thế kỷ 17, bắt nguồn từ quán cà phê của
người thuyền trưởng giàu kinh nghiệm tên Eward Lloyd ở phố Tower
street . Vào thời gian đó cứ mỗi lần đi biển trở về các thuyền trưởng, nhà
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41
PHAN THỊ THU TRANG
10
buôn lại ngồi quán cà phê bùi ngùi kể cho nhau nghe về đồng nghiệp của
mình đã bị rủi ro, mất mát như thế nào. Với óc thông minh, nhanh nhạy
của một nhà kinh tế, ông Edward Lloyd đã thu thập tin tức và lập bản tin
Lloyd’s về hàng hải và cho thông báo hàng ngày vào những giờ quy định.
Bản tin này dựa vào những tin tức của các nhà buôn, thuyền trưởng, sỹ
quan thuỷ thủ thường đến quán để trao đổi về những rủi ro, hiểm hoạ, tổn
thất xảy ra với các tàu đi biển trước khi dời bến. Dần dần các nhà kinh
doanh, các nhà môi giới bảo hiểm, những người muốn mua bảo hiểm cũng
đến đó để giao dịch và tiến hành ký kết hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên
Lloyd chỉ đóng vai trò chủ quán mà không trực tiếp tham gia bất kỳ hợp

nhất là công ty bảo hiểm thành phố Hồ chí Minh (BAOMINH), trên nền
tảng của công ty bảo hiểm VAR- Một công ty bảo hiểm hàng hải hàng đầu
hoạt động trước giải phóng miền Nam: thành lập (tháng11 năm 1994)
BAOMINH tiếp tục phát triển nghiệp vụ bảo hiểm tàu biển, pha sông, tàu
sông và tàu cá. Năm 1990, với sự ra đời của Bộ luật Hàng hải, nhà lập
pháp đã qui định hẳn một chương riêng (chương 16) dành cho hợp đồng
bảo hiểm hàng hải và gần đây nhất là Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005.
Nếu năm 1995 chỉ có 4 công ty bảo hiểm khai thác bảo hiểm thân tàu là
BAO VIET, BAO MINH, BAO LONG, PJICO, PVI thì tính đến hết tháng
8 năm 2006 đã có trên 10 công ty bảo hiểm bao gồm cả công ty liên doanh
với nước ngoài khai thác nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu như: QBE, UIC,
AAA, PTI, Samsung Vina, Công ty bảo hiểm Viễn Đông,
2. Khái niệm bảo hiểm thân tàu
Bảo hiểm thân tàu là bảo hiểm những rủi ro vật chất xảy ra đối với
tàu, máy móc, và các thiết bị trên tàu và một phần trách nhiệm mà chủ tàu
phải chịu trong trường hợp hai tàu đâm va nhau.
Đối tượng bảo hiểm trong bảo hiểm thân tàu là vỏ tàu, máy móc,
trang thiết bị trên tàu cước phí, chi phí hoạt động và một phần trách nhiệm
trong các vụ tàu đâm va nhau (thông thường là 3/4 trách nhiệm đâm va).
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41
PHAN THỊ THU TRANG
12
Ngoài ra, các chi phí và cung ứng liên quan đến con tàu và hành trình được
bảo hiểm tuỳ vào thoả thuận giữa chủ tàu và công ty bảo hiểm, các chi phí
này thường là:
 Lương thực, thực phẩm, nước ngọt.
 Lương ứng trước cho thuỷ thủ: Do hành trình của tàu thường rất dài.
Vì vậy chủ tàu thường trả lương cho thuỷ thủ trước hành trình. Khoản tiền
này chủ tàu cũng được bảo hiểm.
 Cước thu nhập: Cước của chủ tàu được coi là thu nhập mà chủ tàu có

bảo hiểm cho một chuyến khứ hồi (round trip). Hình thức này thường dùng
để bảo hiểm cho tàu mới đóng để xuất khẩu hoặc tàu đi sửa chữa, theo các
điều kiện như: Institute Voyage Clauses (I.V.C) “All Risks” (mọi rủi ro) và
I.V.C FPA abs. (miễn tổn thất riêng).
- Bảo hiểm chi phí (Hull Disbursement Insurance)
Các chi phí như chi phí hoạt động của tàu (nhiên liệu, nước ngọt,
lương thực, thực phẩm, tiền lương thuỷ thủ, cảng phí…) cũng được bảo
hiểm. Những chi phí này thường được bảo hiểm theo điều kiện TLO (Điều
kiện bảo hiểm tổn thất toàn bộ).
- Bảo hiểm các rủi ro tại cảng
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41
PHAN THỊ THU TRANG
14
- Bảo hiểm chiến tranh, đình công
4. Các điều kiện bảo hiểm thân tàu
Các điều kiện bảo hiểm thân tàu của viện ILU (Viện các nhà bảo
hiểm London) được áp dụng phổ biến cho bảo hiểm theo thời hạn cũng như
bảo hiểm chuyến.
- Các điều kiện bảo hiểm các rủi ro hàng hải
(1) Điều kiện bảo hiểm “mọi rủi ro” theo thời hạn (Institute Time
Clauses (ITC) (Hull) – “All Risks”;
(2) Điều kiện bảo hiểm miễn tổn thất riêng theo thời hạn (thân tàu)
(Institute Time Clauses – F.P.A. absolutely);
(3) Điều kiện bảo hiểm theo thời hạn (thân tàu) miễn tổn thất bộ phận
(Institute Time Clauses – FOD absolutely);
(4) Điều kiện bảo hiểm “mọi rủi ro” theo chuyến (thân tàu) (Institute
Voyage Clauses (IVC) “All Risks”);
(5) Điều kiện bảo hiểm miễn tổn thất riêng (Institute Voyage Clauses -
F.P.A. absolutely);
(6) Điều kiện bảo hiểm tổn thất toàn bộ (Institute Standard T.L.O.

II. HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM THÂN TÀU
1. Khái niệm về hợp đồng bảo hiểm thân tàu.
1.1. Khái niệm và phân loại hợp đồng bảo hiểm thân tàu
Xuất phát từ ý thức trách nhiệm nhằm bảo toàn tài sản để đảm bảo
cho việc kinh doanh và sự phát triển cũng như yên tâm về tài chính khi
có bất kỳ rủi ro gì xảy ra, việc mua bảo hiểm đối với những công ty vận
tải biển có trọng tải lớn, tuyến hoạt động rộng, những người bán và người
mua phải đi thuê tàu để chuyên chở hàng hoá là một yêu cầu bức thiết, cho
dù bảo hiểm là hoàn toàn từ nguyện. Hợp đồng bảo hiểm thân tàu là căn cứ
pháp lý quan trọng để xác định quan hệ giao dịch giữa các bên.
Hợp đồng bảo hiểm thân tàu là một văn bản trong đó người bảo hiểm
cam kết cho người được bảo hiểm những mất mát, thiệt hại của đối tượng
bảo hiểm do một rủi ro được bảo hiểm gây nên còn người được bảo hiểm
cam kết trả phí bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm thân tàu (hợp đồng bảo hiểm) có thể được ký kết
theo hai loại: Hợp đồng bảo hiểm chuyến thân tàu và hợp đồng bảo hiểm
thời hạn thân tàu
 Hợp đồng bảo hiểm chuyến thân tàu: Khi một hợp đồng bảo hiểm
thân tàu có bao gồm thuật ngữ “tại và từ” hoặc từ một địa điểm này đến địa
điểm khác thì gọi là hợp đồng bảo hiểm chuyến.
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41
PHAN THỊ THU TRANG
17
 Hợp đồng bảo hiểm thời hạn thân tàu: Nếu một hợp đồng bảo hiểm
cho một con tàu trong một thời gian nhất định từ 3 tháng đến 1 năm
và thường là một năm thì gọi là hợp đồng bảo hiểm thời hạn.
Trong đăng ký hợp đồng bảo hiểm thân tàu, đối với hai loại hợp
đồng bảo hiểm thân tàu trên, chủ tàu phải nêu rõ tên tàu, cảng đăng ký,
quốc tịch tàu, năm và nơi đóng tàu, trọng tải của tàu , đồng thời chủ tàu
phải đảm bảo 3 điều quy định:

bảo hiểm, thời hạn thanh toán phí bảo hiểm, phương thức thanh toán phí
bảo hiểm, hoàn phí bảo hiểm …
- Phần V: Thông báo giải quyết khiếu nại. Phần này của hợp đồng
thường bao gồm những nội dung như: thông báo sự cố, thu thập hồ sơ,
khắc phục sự cố, giải quyết bồi thường.
- Phần VI: Trách nhiệm bảo lưu quyền khiếu nại người thứ ba.
Phần này đề cập đến trách nhiệm của người được bảo hiểm trong trường
hợp tổn thất có liên quan đến người thứ ba về việc bảo lưu quyền khiếu
nại cho bên bảo hiểm.
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41
PHAN THỊ THU TRANG
19
- Phần VII: Chế tài bồi thường.
- Phần VIII: Thời hạn khiếu nại.
- Phần IX: Hiệu lực của hợp đồng.
- Phần X: Xử lý tranh chấp. Phần này đề cập đến hình thức xử lý
nếu xảy ra tranh chấp giữa hai bên trong quá trình thực hiện hợp đồng
như lựa chọn trọng tài, toà án…
1.3. Hình thức pháp lý của hợp đồng bảo hiểm thân tàu.
Hình thức của hợp đồng bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm
thân tàu nói riêng là phương tiện để ghi nhận nội dung của hợp đồng mà
các chủ thể đã xác định.
Điều 570 Bộ luật dân sự năm 2005 qui định: “hợp đồng bảo hiểm
phải được lập thành văn bản. Giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo
hiểm là bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm”
Như vậy pháp luật quy định hình thức của hợp đồng bảo hiểm là văn
bản nhằm nâng cao độ xác thực về những nội dung đã cam kết. Khi có
tranh chấp, hợp đồng được giao kết bằng hình thức văn bản tạo ra chứng
cứ pháp lý chắc chắn cho các bên dễ dàng thực hiện quyền của mình.
- Đơn bảo hiểm: phải xác định rõ nội dung tương tự như một bản dự

PHAN THỊ THU TRANG
21
là tàu biển chuyên dùng để kinh doanh các dịch vụ vận tải biển của các
công ty kinh doanh vận tải biển, các công ty đóng tàu thuỷ.
Trong xã hội có nhiều loại hình tổ chức như: doanh nghiệp, cơ quan
Nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tất cả các
tổ chức này đều có thể trở thành chủ thể tham gia bảo hiểm mà không phụ
thuộc họ có tư cách pháp nhân hay không, là tổ chức trong nước hay tổ
chức nước ngoài.
Đối với cá nhân để trở thành một bên chủ thể của hợp đồng bảo
hiểm thì phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự và phải
thoả mãn các điều kiện được qui định trong từng chế độ bảo hiểm cụ thể.
Cá nhân là chủ thể giao kết hợp đồng bảo hiểm có thể là người Việt Nam
hoặc người nước ngoài.
Đối với hợp đồng mà người tham gia bảo hiểm kí kết nhằm bảo vệ lợi
ích của bản thân thì người tham gia bảo hiểm cũng đồng thời là người
được bảo hiểm, còn đối với hợp đồng được kí kết vì lợi ích của người thứ
ba thì người được bảo hiểm là người thứ ba.
1.4.2. Bên bảo hiểm.
Bên bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm thân tàu là tổ chức tham gia
hợp đồng bảo hiểm, thu phí bảo hiểm đồng thời chịu trách nhiệm bồi
thường cho người được bảo hiểm (chủ tàu) khi có sự kiện bảo hiểm xảy
ra gây tổn thất cho đối tượng bảo hiểm (tàu biển).
Trong giai đoạn hiện nay, thị trường bảo hiểm thân tàuViệt Nam đã
khá phát triển với sự đa dạng về các chủ thể tham gia hoạt động kinh
doanh bảo hiểm bao gồm cả các công ty bảo hiểm Việt Nam và các công
ty bảo hiểm nước ngoài. Đó là điều tất yếu của nền kinh tế thị trường, xu
thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, nó tạo ra môi trường khuyến khích và cởi
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41
PHAN THỊ THU TRANG

2. Quy trình giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm thân tàu
2.1. Giao kết hợp đồng bảo hiểm thân tàu
Giao kết hợp đồng bảo hiểm là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo
những nguyên tắc và trình tự nhất định để qua đó xác lập nên hợp đồng bảo
hiểm.
Việc giao kết hợp đồng bảo hiểm nhìn chung phải tuân thủ những
nguyên tắc mà pháp luật qui định như sau:
- Tự do giao kết hợp đồng nhưng không trái pháp luật, đạo đức xã hội.
- Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực, cùng có lợi
Quy trình giao kết hợp đồng bảo hiểm thân tàu thường diễn ra theo các
bước sau:

2.1.1. Yêu cầu bảo hiểm:
Người được bảo hiểm tuỳ theo điều kiện con tàu, khả năng tài
chính của mình mà lựa chọn hình thức bảo hiểm thời hạn hoặc chuyến,
điều kiện bảo hiểm mọi rủi ro hay tổn thất toàn bộ cho thích hợp để kê
khai trong Giấy yêu cầu bảo hiểm.
Giấy yêu cầu bảo hiểm phải gửi cho công ty bảo hiểm trước một số
ngày nhất định tuỳ theo quy định của từng công ty bảo hiểm kể từ ngày
yêu cầu bảo hiểm có hiệu lực với nội dung kê khai theo mẫu in sẵn của
công ty bảo hiểm. Đối với tàu mới tham gia bảo hiểm lần đầu tại công ty
bảo hiểm thì kèm theo Giấy yêu cầu bảo hiểm phải có các tài liệu sao chụp
nhất định theo yêu cầu của công ty bảo hiểm, thông thường các tài liệu này
bao gồm các loại giấy tờ sau:
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP K41
PHAN THỊ THU TRANG
24
- Chứng nhận quốc tịch tàu.
- Giấy chứng nhận khả năng an toàn đi biển của tàu có kem theo các
biên bản kiểm tra từng phần của Đăng kiểm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status