QUÁ TRÌNH KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HẢI - HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM THÂN TÀU THỰC HIỆN TẠI TỔNG CÔNG TY HÀNG HẢI VIỆT NAM(VINALINES) - Pdf 76

QUÁ TRÌNH KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG
HẢI - HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM THÂN TÀU THỰC HIỆN TẠI TỔNG
CÔNG TY HÀNG HẢI VIỆT NAM(VINALINES)
Để đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Đảng và
Nhà nước ta coi việc hiện đại hóa ngành hàng hải và tàu biển là một trong
những chính sách quan trọng nhất của quốc gia. Nhưng từ khi đất nước mở của
hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu ngày càng phát triển mạnh thì những non
trẻ của hệ thống cảng biển và đội tàu Việt Nam ngày càng thể hiện rõ nét. Hệ
thống cảng biển và đội tàu yếu kém, lạc hậu về công nghệ và rất thiếu vốn đầu
tư cải tạo, nâng cấp, đổi mới trang thiết bị để đáp ứng yêu cầu về lượng hàng gia
tăng đáng kể mà mở cửa nền kinh tế đã đem lại.
Ngay từ đầu thập niên 90, tốc độ phát triển ngoại thương gia tăng nhanh
điều đó đòi hỏi việc xây dựng một ngành công nghiệp hàng hải phát triển mà
trong đó hệ có một đội tàu vận tải biển quốc gia lớn mạnh về số lượng, chất
lượng và hệ thống cảng biển hiện đại về công nghệ làm nòng cốt là một việc
làm hiển nhiên và hết sức quan trọng.
Cùng với sự ra đời của một số Tổng công ty Nhà nước khác trên cơ sở
quyết định 91/Ttg ngày07/03/1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm
thành lập tập đoàn kinh doanh, ngày 29/04/1995 Thủ tướng Chính phủ ra quyết
định số 250/TTg quyết định thành lập một Tổng công ty mạnh - Tổng công ty
hàng hải Việt Nam. Việc thành lập Tổng công ty hàng hải Việt Nam sẽ góp phần
đưa ngành hàng hải Việt Nam tiến đến hoà nhập với các nước trong khu vực và
thế giới.
Tổng Công ty hàng hải Việt Nam có tê giao dịch là VietNam national
Shipping Lines( Viết tắt là Vinalines). Có trụ sở chính tại 201Khâm Thiên-
Đống Đa - Hà Nội. Tại thời điểm mới thành lập Tổng Công ty được giao số vốn
ban đầu là 1420,577 tỷ VNĐ trong đó có 49 tàu biển loại từ 100 DWT trở lên
với tổng trọng tải khoảng 393401DWT, 34 cầu tàu có tổng chiều dài 4985m với
6.600m
2
diện tích bề mặt; 52 kho hàng với tổng diện tích 127. 504m

doanh khác có liên quan đến hàng hải theo qui hoạch, kế hoạch phát triển hàng
hải của Nhà nước, xuất nhập khẩu phương tiện, vật tư, thiết bị chuyên ngành
hàng hải, cung ứng lao động hàng hải cho các tổ chức kinh doanh trong và
ngoài nước, hợp tác liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài
nước về hàng hải phù hợp với pháp luật và chính sách của Nhà Nước.
- Nhận và sử dụng có hiệu quả, bảo đảm và phát triển vốn do Nhà nước
giao bao gồm cả phần vốn đầu tư vào các doanh nghiệp khác; nhận và sử dụng
tài nguyên đất đai và các nguồn lực khác do Nhà nước giao để thực hiện nhiệm
vụ kinh doanh và những nhiệm vụ khác được giao.
- Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công
nghệ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công nhân trong Tổng công ty.
I. ĐẶC ĐIỂM KINH DOANH HÀNG HẢI VÀ SỰ CẦN THIẾT
CỦA BẢO HIỂN THÂN TẦU TẠI TỔNG CÔNG TY
1. Đặc điểm kinh doanh hàng hải
Qua ba năm thực hiện kế hoạch 5 năm 1996-2000, công cuộc đổi mới,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất nước đang được thực
hiện. Nền kinh tế nước ta vẫn tiếp tục kế thừa và phát huy được những thành
tựu to lớn của 10 năm đổi mới, đang từng bước chuyển dịch cơ cấu, tập trung
nội lực để đầu tư, đổi mới công nghệ nhằm hướng mạnh về xuất khẩu, tăng khả
năng cạnh tranh và hội nhập của hàng hóa Việt Nam với khu vực và thế giới.
Trong bối cảnh đó, ngành hàng hải với nhiệm vụ là tổ chức thực hiện các
hoạt động vận tải, bốc xếp và dịch vụ liên quan để phục vụ xuất nhập khẩu và
lưu thông hàng hóa, chúng ta đã cố gắng đi trước một bước trong việc tập trung
đầu tư và đổi mới phương tiện, thiết bị công nghệ cửa cả đội tàu, hệ thống cảng
biển và hệ thống dịch vụ trên bờ nhằm nâng cao năng lực và chất lượng phục
vụ, góp phần vào việc tăng khả năng cạnh tranh cũng như mở rộng thị trường
cho hoạt động xuất nhập khẩu của đất nước. Một đặc điểm nổi bật là Việt Nam
nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, đặc điểm này làm cho thiên nhiên Việt
Nam khác hẳn với các nước khác cùng vĩ độ ở Tây á, Đông phi và Tây phi tác
động sâu sắc đến hoạt động kinh tế không những thế Việt Nam nằm ở phía

XHCN. Việt Nam được viện trợ để đóng thêm những con tàu hiện đại.
Như vậy, các đội tàu Việt Nam ra đời hoạt động tốt và có hiệu quả
bên cạnh đó cũng thành lập và phát triển một số nhà máy đóng tàu, sửa chữa
như Ba Son, Bạch Đằng... chỉ tính riêng từ năm 1980 đến năm 1993 Việt Nam
đã đóng mới được 306 chiếc tàu(Theo số liệu đăng kiểm Việt nam 1993). Đội
tàu Việt nam có 640 chiếc có dung tích từ 100TDK trở lên. Trong số 50% số tàu
đóng trong nước nhưng chỉ chiếm 11% tổng trọng tải của đội tàu. Ta có thể thấy
điều đó qua bảng số liệu sau:
Khái quát chung về đội tàu Việt Nam
Số lượng
tàu
(chiếc)
Tổng
dung
tích(TDK)
Tổng
trọng
tải(Tấn)
Tổng
công suất
(CV)
Tuổi bình
quân
(Năm)
Mua nước
ngoài 323 665.781 1021.253 1021.253 17,0
Đóng trong
nước 317 108.537 127.292 127.292 6,5
Tổng 640 784.318
1148.545

thuê tàu biển Việt Nam - VITRANSCHART...
Trên đây là số liệu thống kê của Bảo Việt cuối năm 1993 đầu năm
1994. Về đội tàu biển quốc gia. Sau đây là số liệu và danh sách về đội tàu của
Tổng công ty hàng hải Việt Nam(VINALINES):
Khái quát về đội tàu của Tổng công ty
ST
T
TÊN TÀU TÀU LOẠI ĐÓNG
NĂM
ĐÓNG
NỚI
TRỌNG TẢI NĂM
MUA/GIÁ(N
NG.USD
TUỔ
I
TÀU
GHI
CHÚ
GRT DWT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

LỤC NAM
SÀI GÒN 3
HAW ONE
SÀI GÒN 4
SÀI GÒN 5
FAR EAST
SÔNG NGÂN
VĨNH PHỨƠC
CHƯƠNG
DƯƠNG
BẾN HẢI
TRÀ KHÚC
SÔNG THƯƠNG
SÔNG ĐÁY
LONG BÌNH
LONG THÀNH
LONG AN
VIỆT NAM-NAM

HÀ TÂY
NINH BÌNH
NAM ĐỊNH
LONG HẢI
FOR TUNE N
FOR TUNE F
HÀNG RỜI
-
-
-
-

1978
1973
1973
1979
1980
1980
1980
1983
1982
1980
1982
1998
1986
1974
1974
1974
1976
1976
1984
1978
1982
1970
1975
1975
1976
1974
1978
1978
1981
NHẬT

NHẬT
NHẬT
15.120
14,287
11,894
8,462
7,760
7,760
8,414
8,414
8,414
8,940
11,000
11,359
8,940
8,927
7,166
7,317
7,317
7,194
6,249
6,149
5,717
6,804
4,849
5,909
5,051
5,051
5,051
4,619

8,294
8,332
6,560
6,560
7,071
6,477
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42
43
44
45
46
46
48
49
50
51
52
53
54
55
56

TRÀNG AN
VĂN LANG
MÊ LINH
HỒNG BÀNG
VẠN XUÂN
DIÊN HỒNG
HẬU GIANG 02
PACÌIC FÁLCON
HEAL THI
FALCON
MIGHTỲALCON
BẮC SƠN
PHẢ LẠI
VIẸT301
BẠCH ĐẰNG 06
BẠCH ĐẰNG 14
PHƯỚC LONG
01 BẠCH
ĐẰNG22
LAVA SO 02
THUỶ BẮC 01
THUỶ BẮC 02
THUỶ BẮC 03
THUỶ BẮC 04
THUỶ BẮC LB
-
-
-
-
-

1982
1982
1975
1982
1981
1966
1969
1970
1966
1981
1967
1980
1989
1984
1983
1981
1983
1983
1984
1984
1986
1978
1986
1985
1966
1986
1962
1980
1985
1987

3,266
2,826
2,608
4,724
1,459
1,450
3,354
1,440
4,724
1,442
11,573
3,933
4,028
426TE
U
594TE
U
426TE
U
594TE
U290T
EU
9,816
2,904,
4,724
2,861
5,923
4,485
4,747
6,200

CỘNG 623.871
Như vậy, cho đến nay đội tàu Việt Nam nói chung và đội tàu của Tổng
công ty nói riêng có một số thay đổi theo chiều hướng tốt hơn. Tổng công ty
và một số đơn vị thành viên mua sắm được một số tầu đạt tiêu chuẩn quốc tế,
nhưng con số đó còn rất ít. Bởi vì giá trị một con tàu rất lớn, không thể một
thời gian ngắn mà thay thế ngay được. Chính vì vậy, có những chủ tàu chưa
đáp ứng được tốt nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hóa. Thêm vào đó là
lỗi của con người(như thiếu mẫn cán trong công việc, lỗi về thao tác kỹ thuật
- nghiệp vụ của thuỷ thủ, thợ máy, sỹ quan trưởng ca, trình độ nghiệp vụ yếu
kém của hoa tiêu; sự lơ là thiếu trách nhiệm trong việc chấp hành các quy tắc
phòng ngừa va chạm tàu thuyền trên biển và nội quy cảng...). Do đó nên
trong quá trình vận tải của tàu ngoài những tổn thất tai nạn bất ngờ có thể xảy
ra thì những tổn thất được gọi là “không đáng có” cũng khó tránh khỏi.
Với tình hình như vậy, mua bảo hiểm là một giải pháp tốt nhằm
bảo đảm tài sản, ổn định tài chính cho chủ tàu khi có tổn thất xảy ra và đảm bảo
kinh doanh có lãi.
Tuy nhiên bộ số tàu hiện thuộc quyền quản lý khai thác trực tiếp
của Tổng công ty hàng hải Việt Nam hoặc của các doanh nghiệp thành viên đều
là loại tàu cũ đã qua sử dụng nhiều năm, nhưng do có một chế độ quản lý khai
thác và chế độ bảo dưỡng định kỳ hợp lý, nên đại đa số vẫn đảm bảo các điều
kiện an toàn đi biển cần thiết. Bên cạnh đó, còn là do phần lớn đội ngũ cán bộ
quản lý và sỹ quan thuyền viên của Tổng công ty đều là những người được đào
tạo chính quy, có nhiều kinh nghiệm quản lý - khai thác đội tàu trong nhiều
năm, nên cũng góp phần giảm thiểu được số lượng tai nạn, sự cố hàng hải
nghiêm trọng.
II. TÌNH HÌNH KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HẢI
- HỢP ĐỒNG BẢO HIỂN THÂN TÀU(GỌI TẮT LÀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TẠI
TỔNG CÔNG TY HÀNG HẢI VIỆT NAM (VINALINES)
1. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
TẠI TỔNG CÔNG TY

ngừa va chạm tàu thuyền trên biển 1972 và quy ước HARMBURS 1977. Việt
Nam vẫn sử dụng điều ước để điều chỉnh việc ký kết và thực hiện hợp đồng này.
Tổng công ty hàng hải Việt Nam và các doanh nghiệp thành viên vẫn thường áp
dụng các điều ước này khi ký kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm đặc biệt là
khi ký kết hợp đồng với các đối tác nước ngoài.
Bộ luật hàng hải Việt Nam 1990, pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989
và văn bản dưới luật như Nghị định của Chính phủ số 100/CP ngày 18/12/1993
về kinh doanh bảo hiểm thường được các công ty bảo hiểm trong nước cũng
như Tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên dẫn chiếu để áp dụng khi ký
kết hợp đồng bảo hiểm trong nước.
Trường hợp ký hợp đồng với các đối tác nước ngoài, Bộ luật hàng
hải Việt Nam cũng được dẫn chiếu khi các bên thoả thuận với nhau.
Tập quán hàng hải về bảo hiểm cũng là một nguồn luật điều chỉnh
hợp đồng bảo hiểm thân tàu giữa Tổng công ty và đối tác nước ngoaì khi đơn
bảo hiểm và nguồn luật áp dụng trong hợp đồng bảo hiểm không đề cập đến vấn
đề nào đó gây ra tranh chấp giữa các bên.
2. TÌNH HINH KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂN THÂN TÀU TẠI
TỔNG CÔNG TY
2.1 Ký kết hợp đồng bảo hiểm
Bắt đầu chính thức đi vào hoạt động từ năm 1996, tính đến nay
Tổng công ty đã chính thức đi vào hoạt động được ba năm Tổng công ty đã đạt
được sản lượng vận chuyển cao với số lượng 4,8 triệu tấn năm 1996, đạt 110%
kế hoạch đề ra bao gồm cả vận chuyển trên tuyến nội địa và vận chuyển quốc tế,
bắt đầu giành lại thị phần trong ngành vận tải biển nước ta. Trong tiến trình này,
không ít những khó khăn và rủi ro đến với đội tàu của Tổng công ty. Việc ngăn
ngừa, hạn chế và khắc phục tổn thất trong hoạt động kinh doanh của mình là
một mục tiêu quan trọng và cần thiết. Dù đã có những biện pháp khắc phục
truyền thống như: sửa chữa bảo dưỡng thuyền bộ, tìm mọi cách bảo đảm, duy trì
các điều kiện an toàn đi biển nhưng cũng không thể triệt để được và những rủi
ro ngoài tầm kiểm soát của con người thì vẫn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Việc

hiểm London, có khi dùng nguyên văn có khi tu chỉnh sơ sài và phân biệt ra
mẫu thân tàu và hàng hóa. ở Việt Nam mẫu hợp đồng bảo hiểm thân tàu mà
công ty bảo hiểm soạn thảo là như nhau bao gồm:
* Tên, địa chỉ của người bảo hiểm và người được bảo hiểm:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status