Lời mở đầu
Ngành dệt may là ngành truyền thống lâu đời ở Việt Nam, từ xa xa, ng-
ời Việt cổ đã sớm biết trồng dâu nuôi tằm và dệt lụa, nghề trồng bông dệt vải
từ thế kỷ thứ IV-V đã khá phát triển. Và ngày nay, ngành công nghiệp dệt
may ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó
không chỉ phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con ngời mà còn là ngành giải
quyết nhiều việc làm cho lao động xã hội, có thế mạnh trong xuất khẩu, tạo
điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển và đóng góp ngày càng nhiều cho
ngân sách Nhà nớc.
Để thúc đẩy sự phát triển của ngành dệt may, ngày 29/4/1995, Thủ tớng
Chính phủ đã ký Quyết định thành lập Tổng công ty Dệt May Việt Nam (tên
giao dịch quốc tế là VINATEX).
Trong báo cáo tổng hợp này, em xin đợc trình bày những vấn đề tổng
quan về Tổng công ty Dệt May Việt Nam nh: Lịch sử hình thành và phát triển,
chức năng và nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, tình hình sản xuất và kinh doanh.
Cũng qua báo cáo này, em xin đợc gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS-
TS Nguyễn Duy Bột và Th.s Nguyễn Trọng Hà - những ngời đã tận tình giúp
đỡ em hoàn thành báo cáo tổng hợp này.
1
I. Lịch sử hình thành và phát triển
Ngành Dệt May là ngành truyền thống lâu đời ở Việt Nam, từ xa xa, ng-
ời Việt cổ đã sớm biết trồng dâu nuôi tằm và dệt lụa, nghề trồng bông dệt vải
từ thế kỷ thứ IV-V đã khá phát triển. Ngành dệt may xuất khẩu của Việt Nam
ra đời từ những năm 1958 ở miền Bắc và những năm 1970 ở miền Nam, tuy
nhiên sau khi đất nớc thống nhất, thì dệt may Việt Nam mới có sự phát triển
đáng kể. Tuy nhiên, thời kỳ này hàng dệt may của chúng ta chủ yếu xuất sang
thị trờng Liên Xô và các nớc Đông Âu theo nghị định th đợc ký kết hằng năm
giữa các Chính phủ.
Việc xuất khẩu hàng dệt may theo nghị định th hoàn toàn chịu sự quản
lý của Nhà nớc, chỉ tiêu hàng dệt may xuất khẩu đợc giao cho một số đơn vị
làm đầu mối xuất khẩu, sau đó các tổ chức đầu mối này mới giao cho các đơn
Hơn nữa, năm 1989-1990 Liên Xô cũ và các nớc Đông Âu tan rã, thị tr-
ờng quen thuộc chiếm thị phần 90% của ta không còn. Thêm vào đó, lệnh cấm
vận của Mỹ đối với nớc ta càng làm cho ngành dệt may vốn đã khó khăn càng
trở nên khó khăn. Tuy vậy, ngành dệt may cũng chứng tỏ đã trởng thành về
mọi mặt, ngành dệt may nớc ta đã nhanh chóng chuyển hớng xuất khẩu sang
các nớc kinh tế thị trờng: Các nớc EU, Hàn Quốc, Nhật Bản... Thị trờng mới
yêu cầu chất lợng rất cao, đòi hỏi ngành dệt may phải đầu t đổi mới thiết bị và
công nghệ.
Ngành dệt và ngành may là hai ngành có liên quan chặt chẽ về công
nghệ sản xuất để ra sản phẩm cuối cùng nhng cơ chế tổ chức và quản lý hai
ngành này trong thời gian này ở trong tình trạng phân tán, cục bộ, thiếu sự
phối hợp hai ngành. Ngành dệt và ngành may tồn tại một cách độc lập với
nhau. Chính vì sự tồn tại độc lập làm cho hai ngành này ít có quan hệ với nhau
3
trong khi xét về bản chất chúng có những mối liên hệ rất khăng khít. Cũng
chính sự tồn tại độc lập thiếu sự phối kết hợp giữa hai ngành nên dẫn đến sự
phát triển mất cân đối. Trong khi ngành may có sự phát triển mạnh mẽ trong
mấy năm qua thì ngành dệt không đáp ứng đợc yêu cầu của ngành may. Từ đó
dẫn đến hệ quả là ngành may chủ yếu phải nhập khẩu nguyên liệu cho may
xuất khẩu mà thực chất là thực hiện gia công cho nớc ngoài, nên hiệu quả xuất
khẩu của ngành đạt thấp.
Chính vì các lý do đó, ngày 19/04/1995, Thủ Tớng Chính phủ đã ký
Quyết định thành lập Tổng công ty Dệt May Việt Nam (VINATEX). Tổng
công ty Dệt May Việt Nam là một trong các Tổng công ty Nhà nớc có mô
hình tổ chức và hoạt động theo Quyết định Số 91/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ
tớng Chính phủ. Tổng công ty Dệt May đợc thành lập với mục đích tăng cờng
tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất để thực hiện
nhiệm vụ Nhà nớc giao; nâng cao khả năng và hiệu quả kinh doanh của các
đơn vị thành viên và của toàn Tổng công ty; đáp ứng nhu cầu của thị trờng.
Tổng công ty Dệt May đợc thành lập theo Quyết định Số 253/TTg ngày
ngoài nớc phù hợp với pháp luật và chính sách của Nhà nớc.
2. Nhận và sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn do Nhà nớc giao,
gồm cả phần vốn đầu t vào doanh nghiệp khác, nhận và sử dụng có hiệu quả
tài nguyên, đất đai và các nguồn lực khác do Nhà nớc giao để thực hiện nhiệm
vụ kinh doanh và những nhiệm vụ khác đợc giao.
3. Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học, công
nghệ và công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ và công nhân trong Tổng công ty.
6
2. Cơ cấu tổ chức
Tổng công ty có Hội đồng quản trị, đứng đầu là Chủ tịch Hội đồng quản
trị và cơ quan điều hành đứng đầu là Tổng Giám đốc.
Danh sách các đơn vị thành viên đến nay gồm:
1-Khối cơ quan văn phòng Tổng công ty:
- 04 Ban chức năng
- 06 Trung tâm làm chức năng dịch vụ, hỗ trợ kinh doanh
- 01 Tạp chí dệt may
2- Khối doanh nghiệp
- 40 doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập trong đó:
+ 21 doanh nghiệp Dệt
+ 12 doanh nghiệp May
+ 04 doanh nghiệp cơ khí dệt may
+ 03 doanh nghiệp khác là: Bông, tài chính...
- 05 doanh nghiệp thành viên hạch toán phụ thuộc
- 06 đơn vị sự nghiệp, y tế, giáo dục, nghiên cứu
7
Sơ đồ tổ chức của VINATEX
8
Hội đồng quản trị
Tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc
- Chi nhánh tại Hải Phòng
- Chi nhánh tại Cần Thơ
- KCN dệt may Phố Nối
- KCN dệt may Bình An
- KCN dệt may Nhơn Trạch
Công ty cổ
phần và liên
doanh trong
nớc
Các đơn vị
phía Bắc
Các đơn vị
phía Nam
Liên doanh
với nớc ngoài
Ban giám sát
3. Tình hình sản xuất kinh doanh
1-Tình hình sản xuất
1.1-Năng lực sản xuất
Kể từ khi thành lập năm 1995, Tổng công ty Dệt May đã có những bớc
phát triển khá ấn tợng, đặc biệt là về kim ngạch xuất khẩu. Năng lực sản xuất
cũng nh chất lợng hoạt động đã có những bớc tiến đáng kể tạo ra cho ngành
tiềm lực cho những bớc phát triển trong những năm sắp tới. Trong mấy năm
qua, đặc biệt là từ sau thời kỳ tan rã của thị trờng Liên Xô (cũ) và Đông Âu,
ngành dệt may đã đầu t hàng trăm triệu USD để đổi mới thiết bị công nghệ sản
xuất nhằm bắt kịp trình độ dệt may, nhất là may công nghiệp tiên tiến của khu
vực và thế giới. Do đó, năng lực sản xuất của Tổng công ty Dệt May đã đợc
mở rộng khá nhanh chóng, số thiết bị sản xuất có sự gia tăng đáng kể.
Về kéo sợi
Hoạt động với hơn 900.000 cọc sợi và 10.000 rotor trong đó trên 40% là
Trong những năm qua, Tổng công ty Dệt May Việt Nam đã liên tiếp
trang bị thêm cho các nhà máy may của các công ty các thiết bị mới và hiện
đại từ Nhật Bản, Đức, Nam Triều Tiên. Hiện nay, Tổng công ty có hơn 30.000
máy may công nghiệp, trong số đó có nhiều máy có chức năng đặc biệt khác
nh: máy cắt chỉ tự động, bàn là hơi nớc, máy thêu nhiều đầu kim, máy giặt,
máy may sơmi cao cấp. Đặc biệt, Tổng công ty đã đa vào sử dụng hệ thống
thiết kế mẫu và sản phẩm bằng máy vi tính.
Các loại sản phẩm: sản phẩm may mặc của Tổng công ty Dệt May rất
đa dạng: áo sơ mi, quần dài, quần sóc, áo khoác, đồ bảo hộ lao động, áo vét,
quần áo thề thao, quần áo trẻ em, drap trải giờng, càvạt, rèm cửa, khăn trải
bàn, khăn mặt, vải bạt, áo ngủ, áo lạnh.
Công suất: 54 triệu sản phẩm/năm
1.2-Cơ cấu sản phẩm dệt may
10
Cùng với sự thay đổi nhanh chóng của nhu cầu tiêu dùng trong nớc và
nớc ngoài, cơ cấu sản phẩm của Tổng công ty Dệt May cũng có nhiều thay đổi
để thích ứng với yêu cầu mới.
Trong những năm gần đây, sản phẩm dệt may đã dần đợc đa dạng hoá.
Trong khâu sản xuất sợi, thay vì sử dụng hoàn toàn nguyên liệu sợi tự nhiên
nh trớc đây, hiện nay tỷ trọng các mặt hàng sợi nhân tạo đang tăng nhanh từ
các mặt hàng polyeste pha bông với nhiều tỷ lệ khác nhau 50/50, 65/35.
83/17... đến các loại sợi tổng hợp nh cotton/visco, cotton/acrylic,
wool/acrylic... đều đã đợc sản xuất và đa ra thị trờng tiêu thụ.
Trong khâu dệt vải cũng có nhiều biến đổi, để đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của ngời tiêu dùng trong nớc và phục vụ cho xuất khẩu, nhiều mặt
hàng dệt thoi mới chất lợng cao đã đợc sản xuất. Mặt hàng 100% sợi bông, sợi
đơn chải kỹ chỉ số cao phục vụ xuất khẩu, mặt hàng sợi bông dày đợc tăng c-
ờng công nghệ làm bóng, phòng co cơ học... đã đợc xuất khẩu sang EU và
Nhật Bản. Nếu nh trớc đây, vải dệt chỉ gồm một số chất liệu đơn giản nh vải
phin, kate thì hiện nay chủng loại đã phong phú lên rất nhiều bởi các mặt hàng
-33.77 120.59 42.22
Sợi
4.04 12.58 4.00
Vải
13.19 3.27 7.29
Hàng dệt kim
9.41 -2.71 12.56
Hàng may mặc
5.77 12.66 17.18
Tốc độ tăng trởng một số sản phẩm của Tổng công ty Dệt May
(Nguồn: Tổng công ty Dệt May Việt Nam )
Trong những năm vừa qua, tình hình sản xuất của Tổng công ty Dệt
May Việt Nam đã gặt hái đợc những tiến bộ đáng kể. Qua bảng số liệu trên ta
thấy, sản lợng bông năm 2000 tăng 207% , bình quân tăng 25.21% - một tỷ lệ
rất cao. Sản xuất vải tuy không tăng cao nh sản xuất sợi nhng kết quả đạt đợc
cũng rất khả quan. Trong thời gian qua thì hàng dệt kim có tốc độ tăng trởng
12
thấp nhất trong số các sản phẩm chủ yếu của Tổng công ty Dệt May Việt
Nam, bình quân chỉ đạt 3.27%. Hàng may mặc đang ngày càng khẳng định đ-
ợc vị trí của mình và tốc độ tăng trởng không ngừng tăng lên.
1.4-Về trang thiết bị và công nghệ
Ngành dệt
Các doanh nghiệp thuộc VINATEX hiện nay có 900.000 cọc sợi gồm cả
sợi bông và sợi pha với chỉ số Nm (quốc tế) từ Nm 10 đến Nm 102; số lợng
máy dệt với hơn 6.400 máy gồm các loại máy dệt nh: máy dệt thoi, máy dệt
thoi kẹp, máy dệt kim và máy dệt nớc; các thiết bị nhuộm có thể hoàn tất 250
triệu mét vải/năm với nhiều loại vải khác nhau kể cả in hoa; 900 máy dệt kim
gồm cả máy dệt kim tròn và dọc cho ra 50 triệu sản phẩm/năm.
Nếu tính về số lợng, số trang thiết bị trên là tơng đối lớn, tuy nhiên trên
thực tế, phần lớn số thiết bị của ngành dệt đã rất cũ và thiếu đồng bộ. Cụ thể
năng chấn chỉnh sai sót ngay cũng nh thay đổi mã hàng nhanh. Khâu hoàn tất
đợc trang bị các thiết bị là hết diện tích, đóng túi, súng bắn nhãn, máy dò
kim... công nghệ tin học cũng đợc đa vào một số khâu sản xuất ở một số
doanh nghiệp. Trong từng công đoạn sản xuất cũng đợc trang bị thêm máy
móc với tính năng công dụng mới nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao
chất lợng sản phẩm. Riêng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài,
do các u thế về vốn đầu t nên thiết bị công nghệ khá hiện đại, vì vậy, đảm bảo
đợc chất lợng và đa dạng hoá sản phẩm.
2-Tình hình kinh doanh
2.1-Hoạt động kinh doanh trên thị trờng nội địa
Trớc kia, ngời tiêu dùng Việt Nam cha quen lắm với hàng may sẵn công
nghiệp, đầu những năm 90, hàng may sẵn công nghiệp chỉ chiếm khoảng 20%
thị phần tại các thành phố lớn, nhng hiện nay, tỷ lệ này đã tăng lên nhiều. Rất
nhiều ngời, đặc biệt là tầng lớp trung lu tại các thành phố lớn nh Hà Nội,
14