Cơ sở pháp lý của việc ký kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm hàng hải về thân tàu( hợp đồng bảo hiểm thân tầu) Thực tiễn tại Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (VINALINES) - Pdf 23

LỜI NÓI ĐẦU
Trong cuộc sống hàng ngày, trong hoạt động kinh tế của con người lao
động cũng như trong sản xuất kinh doanh con người dù đã chú ý ngăn ngừa, đề
phòng tai hoạ, tai nạn, sự cố... Nhưng những tai nạn, tai hoạ, sự cố ngẫu nhiên
vẩn xẩy ra gây thiệt hại về người và gây ra về người và tài sản. Những tai hoạ,
tai nạn, sự cố xẩy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên như vậy gọi là rủi ro. Để đối phó
với các rủi ro con người đã dùng các biện pháp như: tránh rủi ro, ngăn ngừa hạn chế
rủi ro; tự khắc phục rủi ro; chuyển nhượng rủi ro. Các biện pháp này có nhiều ưu
điểm. Song bên cạnh những ưu điểm chúng còn có những hạn chế nhất định.
Những rủi ro vẫn gây ra cho con người biết bao khó khăn trong cuộc sống
(do mất hoặc giảm nguồn thu nhập), phá hoại nhiêu tài sản, làm ngừng trệ sản
xuất kinh doanh...
Để đối phó với những tổn thất không lường trước được do các rủi ro gây ra,
bảo hiểm là một biện pháp tốt nhất, hiệu quả nhất để khắc phục hậu quả của các rủi
ro, nghĩa là chuyển nhượng rủi ro mà mình có thể gặp cho các tổ chức bảo hiểm.
Trong ngành giao thông vận tải, vận tải biển đóng một vai tró hết sức quan
trọng, lượng hàng vận chuyển ngày càng tăng nhanh cùng với sự phát triển
khoa học kỹ thuật, đội tàu biển ngày càng hiện đại hơn. Đảm bảo an toàn cho
con tàu là mục tiêu quan trọng của ngành vận tải biển nói chung và của Tổng Công
ty hàng hải Việt Nam nói riêng. Để đạt được mục tiêu quan trọng đó tổng công ty
đã sử dụng nhiều biện pháp để khắc phục rủi ro có thể xảy ra đối với con tàu.
Nhưng những rủi ro ngoài sự kiểm soát của con người vẫn xảy ra và hậu quả của
chúng gây thiệt hại làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh vận tải biển - hoạt
động kinh doanh chính của Tổng Công Ty và biện pháp tốt nhất để khắc phục hậu
quả xảy ra là mua bảo hiểm để bù đắp thiệt hại. Qua thời gian tìm hiểu thực tế tại
tổng công ty Hàng hải Việt Nam được sự ủng hộ của giáo viên hướng dẫn và các
cán bộ của Tổng Công ty nên tôi chọn đề tài để nghiên cứu là:
“Cơ sở pháp lý của việc ký kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm hàng hải
về thân tàu( hợp đồng bảo hiểm thân tầu) Thực tiễn tại Tổng Công ty Hàng hải
Việt Nam (VINALINES)”.
Nội dung chuyên đề gồm ba phần chính sau:

nhiên, có rất nhiểu đĩnh nghĩa khác nhau: Trong “quy tắc phòng ngừa va chạm
tàu thuyền trên biển”(International regulation for priventing conllision at sea,
1972) theo điều 3 các định nghĩa chung (Rule 3, General Difinition) thì tàu
thuyền bao gồm các phương tiện dùng hoặc có thể dùng làm phương tiện vận
chuyển mặt nước, kể cả các loại tàu thuyền không có trọng lượng chiếm nước và
thuỷ phi cơ
Như vậy, tàu thuyền phải đạt hai yêu cầu sau:
- Là phương tiện nổi trên mặt nước dùng để chuyên chở hoặc sự dụng vào
những mục đích khác nhau đã định trên biển.
- Chạy trên một hải trình đã quy định đó là đường hằng hải quốc tế và
trong nước.
2
Như vậy, tàu biển bao gổm tất cả các tàu lớn, tàu vừa, tàu nhỏ chuyên
chở hàng hoá hành khách; Sà lan; thuyền máy; thuyền buồm; tàu lai dắt; tàu cứu
hộ; cần cẩu nổi.. .ngoài ra ta còn cho tất cả các trang thiết bị của một con tàu
gồm: Neo, xuồng cứu sinh, máy móc, đều được coi là các bộ phận của con tàu.
* Các đặc trương của con tàu.
Tên tàu.
Cỡ tàu.
Kích thước của tàu (Dimention of ship).
+ Chiều dài (lenght).
+ Chiều rộng (Widh or breach extense).
+ Mớm nước (Draught, Draft).
+ Trọng lượng tàu (Shiplacement).
+ Trọng tải của tàu.
Trọng tải toàn phần (Deadweight all told).
Trọng tải tịnh ( Dead weight Cargo).
+ Dung tích tàu (Rigisered tonnage).
GRT: Dung tích đăng ký toàn phần.
NRT: Dung tích thực.

con tàu có trọng tải lớn và trang thiết bị hiện đại. Tương lai những con tàu có
trọng tải trên 1 triệu tấn sẽ ra đời để đáp ứng nhu cầu thương mại giữa các nước.
Ngoài việc hiện đại hoá các trang thiết bị cho những con tàu cũ hiện nay
người ta còn đóng những con tàu chuyên dùng khác như:Tàu chở khách, tàu
hàng đông lạnh, hàng nặng, hàng cồng kềnh, tàu chở dầu. Việc đang dạng hoá
các loại tàu một mặt phản ánh tỷ trọng hàng hoá xuất nhập khẩu giữa các nước,
mặt khác để làm giảm đến mức tối thiểu các tổn thất có thể xảy ra. Ta có thể kể
ra đây vài nét sơ lược về sự phát triển của tàu biển trên thế giới-vào thế kỷ thứ
XV, XVI nước Anh là nước có đội thương thuyền lớn nhất trên thế giới, đội
thương thuyền này đi hầu hết các châu lục để buôn bán. Cho đến nay đội tàu
biển đã phát triển vượt bực, đặc biệt là từ chiến tra thế giới thứ hai trở lại đây
đủ đáp ứng nhu cầu vận tải quốc tế.
Các nước có đội tàu lớn, có sức chở trên 10 tấn là: Anh, Nhật. Ba Lan,
Pháp, Mỹ... Hàng năm nguồn lợi do các đội tàu mang lại thông qua các phí vận
chuyển lên tới hàng tỷ Đôla. Như đã nói trên, giao thông đường thuỷ có ưu thế rất
lớn, nhưng cũng có những hạn chế đó là chịu sự chi phối của tự nhiên, thời tiết,
khí hậu.... Bởi vây cho dù đội ngũ tàu có luôn cải tiến với trang thiế bị hiện đại đội
ngũ thuyền viên luôn được nâng cao về tay nghề cũng không thể ngăng chặn hết
được rủi ro đường thuỷ thuộc về nặt khách quan và mặt chủ quan.
1.2. Những rủi ro về đường thuỷ và sự cần thiết phải bảo hiểm thân tàu.
4
1.2.1 Khái niệm về rủi ro đường thuỷ:
Rủi ro đường thuỷ là những rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ của biển
gây ra làm hư hỏng hàng hoá và phương tiện vận chuyển.
Rủi ro đường thuỷ phụ thuộc vào 3 yếu tố chính: Thiên nhiên, kỹ thuât,
xã hội và con người.
Tác động chủ yếu của thiên nhiên: Lịch sử loài người trước hết là lịch sử
đấu tranh với thiên nhiên, giành giật của thiên nhiên tất cả những gì cẩn thiết
cho sự tồn tại và phát triển của mình. Trong quá trình đó, con người không chỉ
tác động đến thiên nhiên, từng bước nhận thhức và vận dụng các quy luật của

động bình thường của sóng gió (ordinary action of wave and wind).
Thông thường những rủi ro bảo hiểm về đường thuỷ là:
Mắc cạn (Standing)
Đắm
Cháy (Fire).
Nổ (explode).
Tàu mất tích (missing ship).
Đâm va (Collission).
Hành vi phi pháp của thuyển trưởng và thuỷ thủ (Baratry)
Vứt hàng xuống biển. (jettision).
Những rủi ro này dẫn đến tổn thất lớn cho tàu biển, theo tcủa kê của tổ
chức hằng hải thế giới IMO những tổn thất này đã lên tới con số khổng lồ: Năm
1976 có 177 vụ đắm tàu với tổng số 2.6 triệu dung tích tàu, năm 1982 có 402 vụ
tàu gặp nạn và 250 chiếc trong số đó bị đắm. Chỉ trong thời gian từ năm 1970-
1976 số tiền thiệt hạn do đắm tàu lên tới con số gấp đôi. Theo tcủa kế của của
hãng sản xuất và sữa chữa tàu hàng năm xác suất đắm tàu là 0, 5%. Ở Việt
Nam, năm 1989 có tới 120 vụ tổn thất về thân tàu đặc biệt là vụ Hồng Lam10
bị chìm ở Vinh do bão gây ra thiệt hại toan bộ con tàu lên tơi 1 triêu USD. Năm
1990 có 189 vụ tổn thất về thân tàu được Bảo việt bồi thường 1, 6 tỷ đồngVNĐ,
năm1991, có 280 vụ tổn thất về tàu trong đó tàu Thành tô bị mắc cạn do bão đẩy
lên cạn ở bờ Nhật (đất neo) thiệt hai kéo tàu về Việt Nam và sửa chửa lên tới
300 nghìn USD. Năm 1992, điển hình là tàu Hạ Long 04 đâm va tàu Long Sơn
02 tàu Long Sơn bị chìm khoảng 60-70m toàn bộ tài liệu nhật ký thâta lạc....
Qua các dẫn chững cụ thể trên, để bảo đảm ổn định về tài chính cho các
chủ tàu khi xảy ra tổn thất, đảm bảo kinh doanh khai thác cho chủ tàu thì bảo
hiểm tàu biển ra đời là rất cần thiết và cần phát triển hơn nữa.
1.2.2 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm tàu biển.
Có một số quan điểm khác nhau về sự ra đời của bảo hiểm tàu biển . Có ý
kiến cho rằng, bảo hiểm thân tàu ra đời từ thế kỷ thứ XIV, XV khi các nhà
buôn cho vay nặng lãi, cấp vốn cho các thuyền buôn đi biển, nếu các thuyền

Xuất phát từ ý thức trách nhiệm nhằm bảo toàn tài sản để đảm bảo kinh
doanh và phát triển cũng như yên tâm về tài chính khi có bất kỳ rủi ro gì xảy ra
việc mua bảo hiểm với những công ty vận tải biển có trọng tải lớn, tuýên hoạt
động rộng, những người bán và người mua phải đi thuê tàu để chuyên chở hàng
hoá là một yêu cầu bức thiết., cho dù bảo hiểm là hoàn toàn từ nguyện.Đây cũng
chính là việc ký kết hợp đồng bảo hiểm thân tàu.
Hợp đồng bảo hiểm thân tàu là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định
quan hệ giao dịch giữa các bên.
2.1 Khái niệm.
Hợp đồng bảo hiểm thân tàu là một văn bản trong đó người bảo hiểm
cam kết cho người được bảo hiểm những mất mát , thiệt hại của đối tượng bảo
7
hiểm do một rủi ro được bảo hiểm gây nên còn người được bảo hiểm cam kết trả
phí bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiềm mang tính chất là hợp đồng bồi thường và là một hợp
đồng tín nhiệm. Tính tín nhiệm thể hiên ở chổ:
Phải có lợi ích bảo hiểm mới ký kết hợp đồng bảo hiểm lợi ích bảo hiểm
không nhất thiết phải có khi ký kết hợp đồng bảo nhưng phải có khi xảy ra tổn
thất.
Người được bảo hiểm phải thông báo mọi chi tiết về đối tượng bảo hiểm,
mọi thay đổi hoặc tăng thêm rủi ro mà mình biết được cho người bảo hiểm biết
Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm nếu đối tượng bảo hiểm đã được bảo đảm
an toàn đến nơi (trước thời điểm) rồi mà người bảo hiểm đã biết thì hợp đồng
bảo hiểm không có hiệu lực và phải hoàn lại phí bảo hiểm.
Ngược lại nếu người bảo hiểm chưa biết việc đó thì hợp đồng bảo hiểm
vẩn có hiệu lực.
- Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm mà đối tượng đã bị tổn thất mà người
được bảo hiểm đã biết thì hợp đồng bảo hiểm sẽ vô hiệu lực, ngược lại nếu
người được bảo hiểm chứa biết thì hợp đồng bảo hiểm vẩn có hiệu lực và vẩn
được bồi thường.

Hợp đồng bảo hiểm chuyến: Khi một hợp đồng bảo hiểm thân tàu có bao
gốm thuật ngữ “tại và từ” hoặc từ một địa điểm này đến địa điểm khác thì gọi là
hợp đồng bảo hiểm chuyến.
Hợp đồng bảo hiểm thời hạn: Nếu một hợp đồng bảo hiểm cho một con
tàu trong một thời gian nhất đinh từ 3 tháng đến 1 năm và thường là một năm
thì gọi là hợp đồng bảo hiểm thời hạn.
Đối tượng bảo hiểm là toàn bộ chiếc tàu bao gồm: vỏ tàu, máy móc trang
thiết bị của tàu.
Trong đăng ký hợp đồng, đối với hai loại hợp đồng bảo hiểm trên, chủ
tau phải nêu rõ tên tàu, cảng đăng ký, quốc tịch tàu năm và nơi đóng tàu, trọng
tải... đồng thời chủ tàu phải đảm bảo 3 điều quy định
+ Tàu dủ khả năng đi biển.
+ Quốc tịch của tàu không thay đổi suốt hành trình.
+ Hành trình con tàu phải hợp pháp.
Bảo hiểm theo thời hạn: thời hạn bảo hiểm tính theo dương lich và thời
gian dài nhất là 12 tháng, ngắn nhất không dưới 3 tháng hiệu lực hợp đồng bảo
hiểm bắt đầu và kết thúc theo thời gian ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm,
nhưng với điều kiện người được bảo hiểm đã nộp phí bảo hiểm đầy đủ và đúng
hạn theo quy định.
9
Bảo hiểm chuyến:Chuyến đi được bảo hiểm kể từ khi tàu thuyền tháo gỡ
giây chằng cột hoặc nhổ neo để bắt đầu chuyến đi và chấm dứt hiệu lực sau 24
giờ kể từ khi thả neo hoặc được cột vào bờ ở nơi đến ghi trong giấy chứng nhận
bảo hiểm hoặc giây sửa đổi bổ sung theo giấy chứng nhận đó ( nếu có).
3. HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM - ĐƠN BẢO HIỂM.
Hợp đồng bảo hiểm phải được bằng đơn bảo hiểm (policy) và chỉ khi ấy
hợp đồng mới có giá trị dẫn chứng. Một hợp đồng sẽ bị vô hiệu hoá nếu thực
hiện bằng man trá (Thí dụ tàu đượi bảo hiểm không có thực, hàng hoá được bảo
hiểm đã bị hư hỏng... ), hay nếu đơn bảo hiểm được coi là hợp đồng đánh
bạc( thí du người bảo hiểm không có quyền lợi có thể bảo hiểm).

một cơ sở pháp lý cụ thể bằng cách lựa chọn nguồn luật áp dụng cho hợp đồng.
Nguồn luật có thể là Điều ước quốc tế, luật quốc gia và tập quán hàng hải.Đối
với.mỗi loại hợp đồng thì nguồn luật đièu chỉnh là khác nhau.
1. ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO HIỂM THÂN TÀU :
Sự phát triển của thương mại hàng hải đã dẫn đến sự ra đời và phát triển
mạnh mẻ của bảo hiểm hàng hải và hàng loạt các thể lệ công ước hiệp ước quốc
tế liên quan đến thương mại và hàng hải như:
Mốu hợp đồng bảo hiểm LLOYDS năm 1776 và luật bảo hiểm hàng hải
Anh 1906(MIA-Marine insurance act 1906) rồi công ước Brussels 1924,hague
vis by 1968, Hămbua 1978, Incorterms 1953,1980, 1990....
Các điều khoản về bảo hiểm hàng hải cũng ra đời và ngày càng hiện thực.
Do sự phát triển lâu đời nên những luật lệ quy định về bảo hiểm hàng hải của
Anh khá hoàn chỉnh và được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng.
Thời xa xưa bảo hiểm hàng hải người ta đã dùng một mẩu hợp đồng bảo
hiểm của lloyds có tên gọi là S.G.FORM(bản đầu tiên có từ năm 1779). Mẫu SG
này quy định người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo
hiểm khi đối tượng bảo hiểm bị tổn thất do: các hiểm hoạ, biển cả, binh sĩ hoả
hoạn, kể thù cướp, cướp biển, trộm, vứt hàng xuống biển,chặn giữ, ngăn cản và
cầm giữ bởi vua chúa và nhân dân bất cứ nước nào, ở điều kiện nào, hành động
xấu cố ý của thuyền trưởng và thuỷ thủ, tất cả hiểm hoạ khác, các tổn thất không
may, nó đã hay sẽ làm phương hại, thương tổn hay tổn hại đến tàu và hàng.
Hoạt động bảo hiểm thân tàu biển ra đời từ thế kỷ thứ XVIII. Nhưng mải
đến năm 1870, luật bảo hiểm thân tàu biển mới ban hành và đây là luật bảo hiểm
thân tàu biển đầu tiên trên thế giới ra đời tại London. Viết tắt là ITC(institute
time clause), luật đã được hoàn thiện và bổ sung và 01/10/1970 và 01/10/1982
hai bộ luật này được sử dụng cho đến nay.
Ngoài ra, có các điều kiện bảo hiểm thân tàu: các quy định về bảo hiểm
thân tàu, luật bảo hiểm hàng hải nước Anh(INSURANCE ATC MIA 1906),
công ước viên BRUSSELS 1924,quy tắc HAGUE VISBY 1977, quy tắc YORT
ANTWERP 1974.

hoăch bằng 500GRT. Không áp dụng đối với tàu container cho đến ngày
01/07/2002. Từ ngày 01/07/2002 sẽ được áp dụng bắt buộc đối vơi tất cả các tàu
chở hàng hoá khác bao gồm tàu container va tàu giàn khoan di động có trọng tài
bằng hoặc lớn hơn 500GRT.Người bảo hiểm cũng gây sức ép đối với các chủ
tàu về việc phù hợp ISM, ví dụ:
Nay là thị trường bảo hiểm quốc tế thân tàu lớn thứ hai trên thế giới đang
bảo hiểm 15% đội tàu thương mại thế giới. Được biết 03 công ty bảo hiểm lớn
đứng đầu Nauy vừa quyết định áp dụng chính sách cứng rắn và từ chối bảo hiểm
cho các chủ tàu không phu hợp với các quy tắc ISM.
-Nhà bảo hiểm thân tàu tại London trên qaan điểm pháp lý đã đưa ra ý
kiến rằng việc gia nhập bảo hiểm của một tàu không phù hợp với quy tắc IMS là
một việc phi pháp theo tài phán của Anh quốc...
12
Khi áp dụng các điều ước quốc tế về điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm thân
tàu cần phải chú ý đến tính chất pháp lý của các loại quy phạm pháp luật có
trong điều ước quốc tế đó.
Đối với Việt Nam, các điều ước quốc tế về bảo hiểm mà chính phủ đã
tham gia ký kết hoặc do các bên dẫn chiếu tới có những quy định khác với pháp
luật Việt Nam thì có thể căn cứ vào Điều 11, điểm 6 của pháp lệnh ký kết và
thực hiện điều ước quốc tế của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều
827 khoản 2 Bộ luật dân sự Việt Nam để giải quyết xung đột pháp luật.
Những quy phạm pháp luật của điều ước quốc tế là những quy phạm pháp
luật thực chất đã được quốc giâ thống nhất. Do vậy, giựa vào các điều ước quốc
tế các chủ thể của hợp đồng bảo hiểm thân tàu có thể hiểu được thông nhất
trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh nhanh chóng tiết kiệm thời gian... Đối
với Việt Nam thì nguồn luật điều chỉnh chưa phát huy thật sự vai trò của nó do
chúng ta chưa ký kết được nhiều điều ước quốc tế.
2. Luật quốc gia.
Khi các bêb chủ thể hợp đồng bảo hiểm thân tàu thoả thuận chọn luật một
nước nào đó thì luật quốc gia đó trở thành nguồn luật điều chỉnh hợp đồng đó.

quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm hàng hải (hợp đồng bảo
hiểm thân tàu) đơn bảo hiểm cũng như luật do đơn này chỉ ra không điều chỉnh
hay điều chỉnh không đủ nội dung tranh chấp. Hay nói cách khác, tập quán hàng
hải sẽ được áp dụng trong hợp đồng bảo hiểm thân tàu trong 3 trường hợp sau:
- Khi hợp đồng bảo hiểm quy định .
- Khi các điều ước quốc tế liên quan quy định.
- Khi luật( luật quốc gia ) Do các bên thoả thuận lựa chọn, không có hoặc
có nhưng không đầy đủ, còn khiếm khuyết về vấn đề tranh chấp , về vấn đề cần
phải điều chỉnh( Điều 827 khoản 4 Bộ luật dân sự Việt Nam)
III. HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM THÂN TÀU BIỂN.
Mặc dù khoa học kỹ thuật phát triển cao, thiết bị của các đội tàu hiện đại,
nhưng rủi ro trong hàng hải vẩn xảy ra, vẩn gây thiệt hại lớn cho các chủ tàu,
cho nền kinh tế các nước, vì thế các chủ tàu vẩn tổ chức bảo hiểm và thế là là
hợp đồng bảo hiểm thân tàu ra đời:
1. CHỦ THỂ THAM GIA KÝ KẾT HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM.
Hợp đồng bảo hiểm là một chủng loại của hợp đồng kinh tế.Như chung ta
đã biết hợp đồng kinh tế là hợp đồng được ký kết để phục vụ cho hoạt động sản
xuất kinh doanh, do đó nguyên tắc chỉ có tôt chức kinh doanh và cá nhân kinh
doanh mới có thể là chủ thể của hợp đồng kinh tế (đương nhiên có một số
trường hợp ngoại lệ được xem xét cụ thể).
Như vây chủ thể của hợp đồng bảo hiểm thân tàu là các bên tham gia ký
kết hợp đồng bảo hiểm thân tàu.
Theo điều 2 pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định:
14
Hợp đồng kinh tế, hợp đồng bảo hiểm thân tàu được ký kết giữa các bên
sau đây:
- Pháp nhân với pháp nhân.
- Pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Các bên tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm bao gồm người bảo hiểm,
người được bảo hiểm( chủ tàu, người thuê tàu), người đại diên được uỷ quyền

O
O
O
X
X
X
X
X
O
O
O
O
X
X
X
X
X
X
X
X
O
X
X
X
X
X
X
X
X
X

nước ta phát triển kém xa so với sự phát triển của các nước trong khu vực và
trên thế giới. Từ năm 1986. Đảng và Nhà nước ta có chủ trương xoá bỏ cơ chế
quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theơ định hướng xã hội chủ nghĩa. Để phục vụ một cách có hiệu quả nhất
chính sách cải cách ,mở cửa và phát triển kinh tế thị trường trong những năm
86-90, Nhà nước ta có kế hoạch đồng bộ phát triển hệ thống pháp luật kinh tế,
tạo môi trường pháp lú thuận lợi để hoạt động kinh tế có điều kiện phát triển hội
nhập với khu vực và thế giới.
Với chủ trương cải tổ nền kinh tế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát
triển, làm ăn có hiệu quả hơn, hoạt động kinh doanh mở rộng, trao đổi buôn bán
hàng hoá với các nước trên thế giới càng phát triển, sự phát triển mạnh mẻ của
hoạt động xuất nhập khẩu kéo theo sự phát triển của ngành vận tải. Ngành vận
tải biển Việt Nam phát triển nhanh chóng, thị trường hàng hải Việt Nam cũng
được mở rộng hơn bao giờ hết.
Trong bối cảnh đó, việc ban hành Bộ luật hàng hải Việt Nam là cần thiết.
Bộ luật này được khởi thảo từ đầu năm 1985 và được xây dựng và chỉnh lý trong
5 năm. Ngày 30 tháng 06 năm1990, Bộ luật hàng hải Việt Nam được quốc hội
thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ ngày01/01/1991.
Cho đến nay, Bộ luật hàng hải Việt Nam vẩn là văn bản pháp lý quan
trọng nhất điều chỉnh các quan hệ pháp luật phát sinh từ hoạt động hàng hải.
Mặc dù các quốc gia trên thế giới đã tham gia ký kết các công ước quốc tế
để điều chỉnh quan hệ pháp luật liên quan đến hoạt động hàng hải nhưng Việt
Nam vẫn chưa tham gia ký kết chấp nhận các điều ước quốc tế như: Công ước
Brussels1924, và các Nghị định thư sửa đổi, công ước hamburg 1978. Vì vậy,
trước khi bộ luật hàng hải Việt Nam ra đời, trong hoạt động hàng hải chúng ta
dẫn chiếu áp dụng các điều ước quốc tế nhưng điều đó đã gây khó khăn khi có
xung đột pháp luật.
Bộ luật hàng hải Việt Nam ra đời là cơ sở pháp lý quan trọng cho các
doanh nghiệp hoạt động hàng hải Việt Nam sử dụng các quan hệ kinh doanh
vận tải biển với các chủ thể khác trong và ngoài nước, đặc biệt là các quan hệ

khi sử dụng tàu biển vào mục đích kinh tế như vận chuyển hàng hoá, khách hàng
và hành lý, mua bán tàu biển, hoa tiêu, môi giới hàng hải, thăm dò khai thác,
khí tượng thuỷ văn, thanh tra hải quan, phòng dịch.... Trừ các hoạt động liên
quan đến tàu biển chuyên dùng quân sự và an ninh, trật tự thuộc lược lượng vũ
trang.
Các quy định của Bộ luật này áp buộc bắt buộc đối với các bên tham gia
hợp đồng hàng hải đều là cá nhân, pháp nhân, tổ chức Việt Nam. Trong trường
hợp có ít nhất một bên trong quan hệ hợp đồng hàng hải là tổ chức, cá nhân
nước ngoài thì các bên có quyền thoả thuận lựa chọn luật áp dụng hoặc lựa chọn
tập quán hàng hải ngoài nước hoặc quốc tế trong các quan hệ hợp đồng. Trong
trường hợp đó,Bộ luật hàng hải Việt Nam đóng vai trò là một nguồn luật áp
dụng cho hợp đồng hàng hải .
Phạm vi áp dụng :
18
Căn cứ Điều 3- Bộ luật hàng hải, phạm vi áp dụng của bộ luật này được
quy định như sau:
+ Toàn bộ các quy định áp dụng được đối với các tàu biển là tàu buôn. Đó
là tàu biển chuyên dùng để vận chuyển hàng hoá, hành khách hàng và hành lý;
thăm dò - khai thác- chế biến tài nguyên biển; lai dắt hoặc cứu hộ trên biển; trục
vớt tài sản trên biển và thực hiện các mục đích kinh tế khác.
Đối với tàu công vụ Nhà nước là tàu biển chuyên dùng để thực hiện các
hoạt động bảo đảm hàng hải; khí tượng- thuỷ văn; thông tin - liên lạc, thanh tra
hải quan; phòng dịch chữa cháy; hoa tiêu; huấn luyện bảo vệ môi trường hoặc
chuyêndùng để tìm kiếm, cứu nạn trên biển thì không áp dụng các quy định về
vận chuyển hàng hoá, hành khách, giới hạn trách nhiệm dân sự của chủ tàu.
+ Các quy định về chuyên chở hàng hoá,hành khách, và hành lý tổn thất
chung cũng áp dụng đối với các tàu biển chuyên dùng để thực hiện hoạt động
nghiên cứu khoa học, kỹ thuật và thể thao.
+Đối với tàu biển chuyên dùng vào mục đích quân sự, và bảo vệ an ninh
trât tự thuộc các lược lượng vũ trang và các loại tàu biển nước ngoài, chỉ áp

1.2.2. Những nội dung cơ bản của Bộ luật hàng hải Việt Nam.
Bộ luật hàng hải Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 30/06/1990,
bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/1991, bao gồm 18 chương 244 điều quy định
về các nội dung sau:
Chương I Những quy định chung: Bao gồm các quy định về đối tượng áp
dụng, phạm vi áp dụng của Bộ luật, trường hợp xung đột pháp luật.
Chương II Tàu biển: Quy định về các vấn đề như:
+ Tàu biển Việt Nam: Quy định về khái niệm tàu biển Việt Nam, quyền
và nghĩa vụ của tàu biển Việt Nam, những nội dung khi đăng ký tàu biển Việt
Nam vào “Sổ đăng ký tàu biển quốc gia” của Việt Nam.
+ An toàn hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường, quy định về trách
nhiệm của chủ tàu, tàu biển Việt Nam và tàu biển nước ngoài khi hoạt động tại
vùng nước thuộc chủ quyền Việt Nam đối với vấn đề an toàn hàng hải và phòng
ngừa ô nhiễm môi trường.
+ Kiểm tra dung tích tàu biển: Quy định cơ quan có thẩm quyền kiểm tra
dung tích tàu biển và nghĩa vụ của tàu biển. Phải có giấy chứng nhận kiểm tra
dung tích tàu biển.
+ Tài liệu của tàu: Quy định những giấy tờ tài liệu phải có trên tàu.
+ Các quyền về sở hữu tàu biển: Quy định về thủ tục chuyển nhượng, cầm
cố, thế chấp và cầm giữ hàng hải đối với tàu biển.
Chương III Thuyền bộ: quy định thế nào là thuyền bộ và các vấn đề liên
quan đến việc tuyển dụng thuyền, viên sỹ quan làm việc trên tàu biển.
20
Chương IV Cảng biển và cảng vụ: Quy định thế nào là cảng biển, cảng vụ
và việc điều hành quản lý cảng biển.
Chương V Hợp đồng vận chuyển hàng hoá: Quy định về khái niệm hợp
đồng vận chuyển hàng hoá bằng tàu biển, chủ thể, quyền và nghĩa vụ của các
bên trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng tàu biển, trong vấn đề thực hiện
hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng tàu biển, thời hạn hợp đồng, cầm giữ hàng
hoá.

hành lý giữa các cảng biển Việt Nam. Tàu biển nước ngoài chỉ được vận chuyển
hàng hoá, hành khách và hành lý giữa các cảng biển Việt Nam trong trường hợp
do Bộ Giao thông-Vận tải và Bưu điện quy định...”
Với thực trạng kinh doanh của vận tải biển hiện nay, việc cho phép tàu
biển nước ngoài được vận chuyển hàng hoá, hành khách và hành lý giữa các
cảng biển Việt Nam đã tạo điều kiện cho các hãng tàu biển nước ngoài giành thị
phần vận chuyển nội địa của đội tàu Việt Nam. Với những kinh nghiệm và khả
năng của các hãng đó, nguy cơ sẽ thôn tính thị trường vận tải nước ta.
Và, Điều 202-Bộ luật hàng hải quy định:
“1. Người bảo hiểm có thể cho người khác tái bảo hiểm đối tượng bảo
hiểm mà mình đã nhận bảo hiểm”.
Bản chất của bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu là bảo hiểm tương
hỗ. Nhưng thực tiễn các công ty bảo hiểm ở Việt Nam chỉ nhận bảo hiểm 3/4
mức trách nhiệm tầu đâm va với tàu khác, phí bảo hiểm tính lãi. Do các công ty
kinh doanh bảo hiểm thường giới hạn mức trách nhiệm của mình trong phạm vi
số tiền bảo hiểm và tái bảo hiểm ra nước ngoài. Như vậy, không đảm bảo ổn
định kinh doanh cho các chủ tàu lớn.
Chính vì vậy, Chính phủ và các cơ quan quản lý chuyên ngành cần nhận
rõ sự bất cấp của một số điều khoản trong Bộ luật hàng hải để sửa đổi bổ sung,
nhằm hoàn thiện hơn nữa văn bản pháp luật này, tạo điều kiện thuận lợi về mặt
pháp lý cho ngành hàng hải Việt Nam trên con đường hội nhập vào sự phát triển
chung trong khu vực và thế giới.
Các quy định về hợp đồng bảo hiểm hàng hải về thân tàu.
Những quy định chung.
2.1.1 Khái niệm, vai trò của hợp đồng bảo hiểm hàng hải
Hợp đồng bảo hiểm hàng hải là một nội dung cơ bản của Bộ luật hàng hải
Việt Nam. Các nguyên tắc và quy định của hợp đồng bảo hiểm hàng hải được
quy định tại chương XVI của Bộ luật hàng hải.
Điều 200-Bộ luật hàng hải quy định:
22

hợp đồng đó là hợp đồng bảo hiểm chuyến hoặc hợp đồng bảo hiểm thời hạn.
Số tiền bảo hiểm;
Nơi ngày tháng và giờ cấp đơn bảo hiểm;
23
Chữ ký và xác nhận của người bảo hiểm.
2.1.2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm
hàng hải-bảo hiểm thân tàu.
Quyền và nghĩa vụ của bên bảo hiểm.
Theo yêu cầu của bên được bảo hiểm, người bảo hiểm có nghĩa vụ cấp
đơn bảo hiểm cho người được bảo hiểm.
Trước khi cấp đơn bảo hiểm, người bảo hiểm có nghĩa vụ cấp cho người
được bảo hiểm giấy chứng nhận về việc ký kết hợp đồng nếu người đó yêu cầu.
Trong trường hợp người được bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ: Phải cung cấp
cho người bảo hiểm biết tất cả các thông tin liên quan đến việc ký kết hợp
đồng... (Điều 204-Bộ luật hàng hải Việt Nam) thì người bảo hiểm rút khỏi hợp
đồng và vẫn được thu đầy đủ bảo hiểm phí.
Người bảo hiểm có quyền thu thêm bảo hiểm phí ở mức độ hợp lý và
không có quyền rút khỏi hợp đồng nếu người được bảo hiểm không có lỗi trong
việc khai báo không chính xác hoặc không khai báo theo quy định tại Điều 204
của Bộ luật này.
Quyền và nghĩa vụ của bên được bảo hiểm.
Người được bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho người bảo hiểm biết tất
cả các thông tin mà mình biết hoặc cấn phải biết liên quan đến việc ký kết hợp
đồng bảo hiểm, có thể ảnh hưởng đến việc xác định khả năng xảy ra hiểm hoạ và
các điều kiện bảo hiểm, trừ loại thông tin mà mọi người đều biết hoặc người bảo
hiểm đã biết hoặc cần phải biết.
Người được bảo hiểm có quyền rút khỏi hợp đồng bảo hiểm vào bất kỳ
lúc nào, trước khi xuất hiện hiểm hoạ được bảo hiểm và có nghĩa vụ trả tiền phạt
huỷ hợp đồng.
Trên đây chỉ là một số quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong quan

2.2.2. Quy định về chuyển giao quyền theo hợp đồng bảo hiểm hàng hải.
Các quyền theo hợp đồng bảo hiểm hàng hải chỉ được chuyển cho người
được chuyển nhượng đối tượng bảo hiểm; nếu các quyển đó không được chuyển
cho người được chuyển nhượng đối tượng bảo hiểm, thì hợp đồng mặc nhiên
chấm dứt và người bảo hiểm vẩn phải bồi thường các tổn thất liên quan, xảy ra
trước khi đối tượng bảo hiểm được chuyển nhượng.
Nghĩa vụ của người chuyển nhượng đối tượng bảo hiểm cũng đồng thời
được chuyển cho người nhận chuyển nhượng đối tượng bảo hiểm. Kể cả những
trách nhiệm liên quan đến những khiếu nại do người bảo hiểm đưa ra trước đó
đối với người chuyển nhượng đối tượng bảo hiểm.
Nếu đối tương bảo hiểm là tàu biển, thì việc chuyển theo hợp đồng bảo
hiểm phải được người bảo hiểm đồng ý trước. Nếu tàu đang hành trình ở thời
điểm được chuyển nhượng cho người khác thì các quyền theo hợp đồng bảo
hiểm tàu không được chuyển ngay cho người được chuyển nhượng tàu mà hợp
25

Trích đoạn GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ VIỆC KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TẠI TỔNG CƠNG TY ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂN THÂN TÀU TẠI TỔNG CƠNG TY HÀNG HẢI VIỆT NAM VỀ PHÍA NHÀ NƯỚC VỀ PHÍA TỔNG CƠNG TY
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status