Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cơ sở pháp lý của việc thực hiện BHXH
I. Tổng quan về BHXH Việt Nam
Lịch sử phát triển BHXH Việt Nam
BHXH được thực hiện ở Việt Nam từ năm 1945 và đã trải qua nhiều lần bổ
sung, sửa đổi đặc biệt trong các năm 1961, 1985 và 1995.
Năm 1961, một Nghị định của Chính phủ được ban hành để cung cấp các
dịch vụ phúc lợi xã hội cho tất cả các cán bộ, viên chức làm việc trong
ngành nội chính, giáo dục, y tế, các doanh nghiệp Nhà nước, nội vụ. Hệ
thống này chỉ chịu trách nhiệm bảo hiểm cho khoảng 600.000 - 700.000
người trên tổng số dân là 17 triệu người của miền Bắc Việt Nam (theo số
liệu năm 1962). Năm 1964 Nghị định 218 thực hiện BHXH cho quân nhân.
Từ năm 1975 thì chính sách BHXH được thực hiện thống nhất trong cả
nước. Chế độ BHXH bao gồm: trợ cấp hưu trí, mất sức lao động và tử tuất,
cùng với các chế độ ốm đau, thai sản và tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
do cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp đóng góp.
Trước năm 1995, BHXH do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu
trách nhiệm quản lý thực hiện về các chế độ trợ cấp dài hạn (hưu trí, tử tuất,
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người nghỉ việc), Tổng Liên
đoàn Lao động chịu trách nhiệm quản lý thực hiện các khoản chi trả trợ cấp
ngắn hạn (trợ cấp đau ốm, thai sản và tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối
với người đang làm việc).
Từ tháng 01/1995, Bộ Luật Lao động có hiệu lực, trong đó có chương XII về
BHXH. Để hướng dẫn thực hiện Bộ Luật Lao động, ngày 16/02/1995 Chính
phủ ban hành Nghị định số 19/CP của Chính phủ thành lập hệ thống BHXH
Việt Nam để giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức thực hiện các chính sách,
chế độ về BHXH, BHYT và quản lý quỹ BHXH. Ngày 26/01/1995 Chính
phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 12/CP về điều lệ BHXH đối với dân
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sự với 5 chế độ BHXH: chế độ trợ cấp ốm đau; trợ cấp thai sản; trợ cấp tai
a) Chiến lược phát triển ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam và kế hoạch dài
hạn, năm năm về thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội
b) Đề án bảo tồn giá trị và tăng trưởng Quỹ Bảo hiểm xã hội;
2.2. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội; thu
các khoản đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện; chi các khoản trợ
cấp về bảo hiểm xã hội cho đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đầy đủ,
thuận tiện, đúng Thời hạn theo quy định của pháp luật;
2.3. Cấp các loại sổ, thẻ bảo hiểm xã hội;
2.4. Quản lý Quỹ Bảo hiểm xã hội theo nguyên tắc tập trung thống nhất theo
chế độ tài chính của Nhà nước, hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ;
2.5. Kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan nhà
nước có liên quan về việc sửa đổi, bổ sung chính sách, chế độ về bảo hiểm
xã hội; cơ chế quản lý Quỹ, cơ chế quản lý tài chính (kể cả chi phí quản lý
bộ máy của Bảo hiểm xã hội Việt Nam) và tổ chức thực hiện sau khi được
phê duyệt;
2.6. Ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện việc giải quyết các chế độ
bảo hiểm xã hội và nghiệp vụ thu, chi bảo hiểm xã hội theo Thẩm quyền;
quản lý nội bộ ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam;
2.7. Tổ chức Hợp đồng với các cơ sở khám, chữa bệnh hợp pháp để phục vụ
người có sổ, thẻ bảo hiểm theo quy định của pháp luật;
2.8. Kiểm tra việc ký hợp đồng và việc thu, chi bảo hiểm xã hội đối với cơ
quan, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động, cá nhân, cơ sở khám chữa bệnh;
kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cơ quan cấp trên của đơn
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vị sử dụng lao động, cơ sở khám chữa bệnh để xử lý những hành vi Vi phạm
pháp luật về bảo hiểm xã hội;
2.9. Từ chối việc chi các chế độ bảo hiểm xã hội khi đối tượng tham gia bảo
hiểm không đủ điều kiện hưởng bảo hiểm theo quy định của pháp luật hoặc
khi có căn cứ pháp lý về các hành vi giả mạo, khai man hồ sơ để hưởng bảo
phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Bảo hiểm Xã hội tỉnh) trực
thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
3.3. Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là Bảo hiểm xã hội huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Bảo hiểm xã hội
huyện) trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh.
Cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam ở Trung ương
1. Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội
2. Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế
3. Ban Thu
4. Ban Chi
5. Ban Cấp sổ, thẻ
6. Ban Tuyên truyền
7. Ban Hợp tác quốc tế
8. Ban Kiểm tra
9. Ban Thi đua - Khen thưởng.
10. Ban Kế hoạch - Tài chính.
11. Ban Tổ chức cán bộ.
12. Văn phòng
13. Viện Khoa học bảo hiểm xã hội
14. Trung tâm Thông tin
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
II. Cơ sở pháp lý của việc thực hiện BHXH ở Việt Nam
Từ sau Đại hội Đảng lần thứ 6, với chủ trương đổi mới quản lý Nhà nước từ
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng XHCN, chính sách BHXH cũng được xem xét, nghiên cứu thay
đổi sao cho phù hợp, không những so với tình hình đổi mới kinh tế của đất
nước mà dần hoà nhập với những quy định, những nguyên tắc của bảo hiểm
- Đối với lực lượng vũ trang cũng đã có quy định riêng về BHXH (Nghị
định số 45/CP của Chính phủ).
- Tài chính BHXH được đổi mới cơ bản, tập trung ở những nội dung chủ yếu
sau:
+ Quỹ BHXH được hình thành trên cơ sở sự đóng góp của người sử dụng
lao động và người lao động là chính, Nhà nước hỗ trợ cho nguồn Quỹ
BHXH là thứ yếu khi cần thiết. Mức đóng góp hàng tháng được quy định bắt
buộc thuộc trách nhiệm của cả người lao động và người sử dụng lao động.
+ Quỹ BHXH được tách khỏi ngân sách Nhà nước, hạch toán độc lập; quỹ
BHXH được thực hiện các biện pháp để bảo tồn và tăng trưởng. Quỹ BHXH
đảm bảo thu đủ để chi và có phần kết dư, bảo đảm tính chất của BHXH đoàn
kết, tương trợ giữa tập thể người lao động và giữa các thế hệ, đồng thời đảm
bảo cho việc thực hiện chính sách BHXH luôn được ổn định lâu dài.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Mức chi trả các chế độ BHXH được quy định cụ thể, hợp lý, phù hợp với
mức đóng góp của người lao động. Đặc biệt mức hưởng lương hưu được quy
định là 45% so với mức tiền lương nghạch bậc, lương hợp đồng cho người
có 15 năm làm việc và đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm được thêm 2%
và cao nhất là 75% cho người có 30 năm tham gia bảo hiểm xã hội.
Ngoài ra, người lao động nếu có thời gian tham gia BHXH từ năm thứ
31 trở lên thì mỗi năm thêm được được hưởng trợ cấp một lần bằng 1/2
tháng tiền lương, tối đa không quá 5 tháng tiền lương. Với quy định này đã
từng bước cân đối được thu - chi BHXH.
Để thực hiện chế độ chính sách BHXH và quản lý quỹ BHXH theo
luật định, xoá bỏ tính hành chính trong hoạt động BHXH, ngày 16/02/1995
Chính phủ ra Nghị định số 16/CP về việc thành lập Bảo hiểm xã hội Việt.
BHXH Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH
hiện nay ở Trung ương và địa phương thuộc hệ thống Bộ lao động - Thương
binh và Xã hội và Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam để giúp Chính phủ chỉ