NGƯỜI QUẢN LÝ DI SẢN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC THANH TOÁN
CÔNG SỨC CHO NGƯỜI QUẢN LÝ DI SẢN:
Khi một người chết có di sản để lại sẽ phát sinh quan hệ thừa kế. Thừa kế được mở kể từ
thời điểm người để lại di sản chết. Nhưng trong thực tế ít có trường hợp ngay khi mở
thừa kế đã diễn ra việc chia thừa kế. Thông thường việc chia thừa kế diễn ra sau đó một
thời gian khá dài. Đặc biệt là các vụ tranh chấp thừa kế tại Tòa án thì hầu hết thừa kế đã
mở từ lâu, có những vụ thời điểm mở thừa kế cách thời điểm tranh chấp từ 10 năm đến
30 - 40 năm, cá biệt có vụ còn lâu hơn, do đó sẽ xuất hiện “người quản lý di sản”.
Tuy pháp luật thừa kế được quy định từ sớm, nhưng các quy định ban đầu còn rất sơ lược
và chung chung, mới chỉ đề cập đến một vài nguyên tắc cơ bản về thừa kế chứ chưa đề
cập đến việc thanh toán công sức cho “người quản lý di sản”. Song, qua thực tiễn công
tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao đã có nhiều hướng dẫn, trong đó phải kể đến Thông
tư số 81 ngày 24/7/1981. Trong Thông tư này vấn đề thừa kế được quy định tương đối có
hệ thống và cũng tại đây lần đầu tiên pháp luật của Nhà nước ta đề cập đến việc những
người “có công nuôi dưỡng, chăm sóc người để lại di sản và người có công giữ gìn di sản
của người đã chết, cần được chiếu cố” khi chia di sản.
Ngày 30/8/1990 Pháp lệnh thừa kế được ban hành cũng tiếp tục quy định việc thanh toán
“chi phí cho việc bảo quản di sản; các chi phí khác” (điểm 10 Điều 334 Pháp lệnh thừa
kế).
Tuy nhiên các văn bản pháp luật ra đời trước năm 1995 chưa ra thuật ngữ “người quản lý
di sản”, chưa đề cập đến nghĩa vụ và các quyền của họ, khi Bộ luật Dân sự ra đời, vấn đề
này đã được quy định từ Điều 641 đến Điều 643. Tại Điều 686 Bộ luật Dân sự coi việc
thanh toán “chi phí cho việc bảo quản di sản” là điểm ưu tiên thứ 9.
Vậy Bộ luật Dân sự đã quy định “người” nào được công nhận là “người quản lý di sản”?
Theo quy định tại Điều 641 thì:
1. Người quản lý di sản là người chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa
thuận cử ra.
2. Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế
chưa cử được người quản lý di sản, thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản
tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản.
3. Trong trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý,
Hiện nay đang có các ý kiến khác nhau về việc trả thù lao cho người quản lý di sản.
Có ý kiến cho rằng đối với trường hợp người quản lý di sản không khai thác lợi ích của
tài sản, thì dù có thỏa thuận trước hay không có thỏa thuận trước, các thừa kế đều phải trả
thù lao tương xứng với công sức của người quản lý di sản đã bỏ ra. Nhưng đối với các
trường hợp người quản lý di sản đồng thời là người chiếm hữu, sử dụng khối di sản đó, ví
dụ sử dụng nhà di sản để cả gia đình ở, hoặc khai thác lợi ích, hoa lợi của tài sản, ví dụ
hàng năm thu hoạch vườn cây ăn quả v.v… thì không nên buộc các thừa kế phải trả thù
lao cho họ; trừ trường hợp chính họ tự nguyện thỏa thuận trả thù lao. Sở dĩ không trả thù
lao là vì người quản lý di sản đã được hưởng lợi từ tài sản mà họ quản lý, ví dụ được khai
thác công dụng của nhà di sản mà không phải trả tiền thuê nhà. Nếu buộc các thừa kế trả
thù lao cho họ thì họ được hưởng lợi hai lần.
Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng trong mọi trường hợp, nếu người quản lý di sản yêu
cầu thì đều phải trả thù lao cho họ. Vì nếu nhà đất, vườn cây không có người ở, người
quản lý, trông coi sẽ bị lấn chiếm, mất đất; nhà không có người ở sẽ nhanh hư hỏng
hơn… Họ có “giữ” thì di sản mới còn nguyên vẹn. Đó là chưa kể có những giai đoạn, nếu
di sản không có người quản lý, Nhà nước sẽ lấy mất, cấp cho người khác nếu nhà đất
rộng. Vì vậy phải thanh toán thù lao cho họ. Những quan điểm khác nhau được phản ánh
trong thực tiễn xét xử.
II. THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VIỆC TRẢ THÙ LAO CHO NGƯỜI QUẢN LÝ DI
SẢN:
- Về mặt từ ngữ: Bộ luật Dân sự đã dùng từ “trả thù lao cho người quản lý di sản”, còn
trong thực tiễn xét xử các Tòa án thường dùng từ trích công sức cho người quản lý di sản.
Đây là hình thức trả công để bù đắp lao động đã bỏ ra, căn cứ vào thời gian lao động.
Hình thức lao động ở đây là hành động giữ gìn, bảo tồn di sản. Vì vậy, về mặt lý thuyết,
nếu số lượng và chủng loại di sản như nhau thì thời gian phải trông coi, giữ gìn, bảo tồn
di sản càng dài thì thù lao càng phải lớn.
Bộ luật Dân sự quy định có 4 loại “người” quản lý di sản, cả 4 loại người này đều được
hưởng thù lao theo thỏa thuận, không có sự phân biệt loại người nào được hưởng thù lao
nhiều, loại nào được hưởng thù lao ít. Bộ luật này cũng không quy định tỷ lệ hưởng thù
lao với khối di sản mà người đó quản lý. Vì vậy, khi xét xử, việc quyết định mức thù lao
Tại bản án phúc thẩm số 132 ngày 19/11/1998 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên quyết
định:
Buộc ông Mỹ thanh toán cho ông Chiến tiền công sức đóng góp, xây dựng, duy trì, bảo
quản di sản là 20.000.000 đồng. Ông Mỹ đã thanh toán cho ông Chiến 5.000.000 đồng.
Nay phải thanh toán tiếp 15.000.000 đồng. Giao cho ông Mỹ quản lý số tiền còn lại
230.000.000 đồng trong đó có phần thừa kế của ông Mỹ, bà Nghiêm và tiền công duy trì,
bảo quản di sản thừa kế.
Tại Quyết định số 199 ngày 20/12/1999 Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng
nghị bản án phúc thẩm trên.
Chúng tôi thấy: Tòa án phúc thẩm xác định ông Chiến không phải là con nuôi của cụ
Phúc Anh và cụ Hợi là có căn cứ. Riêng về công sức của ông Chiến trong thời gian ở nhà
cụ Phúc Anh và cụ Hợi thấy rằng: ông Chiến đến ở với hai cụ năm 1945 khi đó mới 5
tuổi, sau hai năm đi làm con nuôi người khác đến năm 1949 mới quay lại. Thời gian ở với
cụ Anh và cụ Hợi, ông Chiến vừa đi học vừa phụ giúp hai cụ làm việc vặt trong nhà. Đến
năm 1954 gia đình cụ Phúc Anh có chuyển nhà lùi phía sau. Theo bà Nghiêm, lúc chuyển
nhà có nhiều người tham gia trong đó có ông Chiến. Việc san đất nền nhà làm trong một
ngày và diện tích san được không đáng kể. Còn ông Chiến cho rằng việc san đất làm
trong hai tháng, diện tích san được khoảng 2/3 so với diện tích đất cũ.
Tòa án cấp phúc thẩm chưa xác minh rõ diện tích đất do cụ Phúc Anh và cụ Hợi mua là
bao nhiêu? Đến năm 1954 diện tích san thêm được bao nhiêu? Do đó, chưa có cơ sở xác
định công sức đóng góp của ông Chiến. Mặt khác, ông Chiến đã đi thoát ly khỏi gia đình
cụ Phúc Anh, cụ Hợi từ năm 1960. Toàn bộ tài sản do cụ Phúc Anh, cụ Hợi, ông Mỹ sử
dụng đến khi bán. Như vậy, ông Chiến không có công duy trì, bảo quản tài sản của các
cụ. Nhưng Tòa án cấp phúc thẩm khẳng định ông Chiến có công sức đóng góp và duy trì,
bảo quản tài sản (di sản) đáng kể để buộc ông Mỹ thanh toán 20.000.000 đồng cho ông
Chiến là chưa có căn cứ vững chắc.
Lẽ ra trong trường hợp này Tòa án chỉ xác định ông Chiến có công sức đóng góp và khối
di sản với tư cách là đồng sở hữu hay không? Nếu có thì thanh toán tương ứng công sức
đóng góp, chứ không thể thanh toán công duy trì, bảo quản di sản. Bởi lẽ lúc đó hai cụ
còn sống, đang tự quản lý tài sản của mình. Việc thanh toán công duy trì, bảo quản di sản
+ Thanh toán công chăm lo nuôi dưỡng và bảo quản di sản cho bà Hòa là 2.015.000
đồng.
- Xác nhận di sản còn lại là 3.000.000 đồng chia cho các thừa kế gồm bà Yên, bà Hòa và
cụ An mỗi người được hưởng 1.000.000 đồng
- Giao toàn bộ nhà đất cho cụ An, cụ An có nghĩa vụ thanh toán cho bà Yên, bà Hòa mỗi
người 1.000.000 đồng.
Sau khi xét xử phúc thẩm bà Yên có đơn khiếu nại cho rằng Tòa án cấp phúc thẩm trích
chi phí mai táng, công chăm sóc và bảo quản di sản là không đúng.
Chúng tôi cho rằng: Tòa án cấp phúc thẩm xác định đúng đắn phần di sản và hàng thừa
kế của cụ Thạch. Riêng phần trích công sức chăm sóc và bảo quản di sản cho cụ Vũ Thị
An và bà Hòa là chưa hợp lý. Bởi lẽ, theo lời khai của cụ An thì từ khi cụ Thạch ốm cho
đến khi chết khoảng 6 tháng. Khi cụ Thạch chết, các con không có trách nhiệm, chi phí
chủ yếu do tôi (An) và anh em chồng lo. Lẽ ra phải trừ vào di sản của cụ Thạch nhưng tôi
không yêu cầu về chi phí đó (BL số 12, 18). Tại lời khai của bà Hòa cũng thừa nhận: Bố
tôi chết năm 1992 tại nhà của bố tôi lúc còn sống. Trước khi chết bố tôi không ốm nặng,
chết là do tuổi cao, sức yếu (BL số 11). Mặt khác phần tài sản (nhà, đất) của cụ Thạch và
cụ An từ năm 1992 đến nay không có gì thay đổi. Nhưng Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng
cụ An và bà Hòa có công lao đáng kể trong việc bảo quản, giữ gìn khối tài sản từ năm
1968 đến nay, đồng thời trích khoản chi phí mai táng, cải táng cụ Thạch và công chăm lo
nuôi dưỡng cụ Thạch trong thời gian ốm đau, công duy trì bảo quản di sản cho cụ Vũ Thị
An 8.000.000 đồng, trích cho bà Hòa 2.015.000 đồng là không có căn cứ.
Rõ ràng năm 1968 cụ Thạch vẫn còn sống cùng cụ An quản lý tài sản. Đến năm 1992 cụ
Thạch mới chết, nên việc lấy năm 1968 là mốc để trích cho cụ An và bà Hòa công sức
bảo quản, giữ gìn khối tài sản là không hợp lý.
3. Thay đổi mức đền bù công sức duy trì, bảo quản tài sản không có căn cứ
Vụ Thái Thị Lý, Thái Thị Nét, Thái Gia Tiến – kiện bị đơn Thái Gia Sửu:
Nội dung: Cụ Thái Gia Nhiễu (chết năm 1957) và cụ Nguyễn Thị Doan (chết năm 1973).
Hai cụ có 4 con chung là ông Thái Gia Tuấn, ông Thái Gia Sửu (có con là Bình), bà Thái
Thị Nét và bà Thái Thị Tý.
Về tài sản cụ Nhiễu, cụ Doan có 3 gian nhà lá lợp lá gồi và tôn, bếp, vườn và ao. Ngày 7-
ngày 10.000 đồng và bồi thường giá trị số cây ăn quả tôi đã trồng.
Tại bản án phúc thẩm số 29 ngày 16-7-1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã
quyết định:
Căn cứ Điều 677, 678, 680 Bộ luật Dân sự tuyên xử:
…
- Bác yêu cầu của ông Lê Văn Dương đòi các đồng thừa kế phải thanh toán tiền công bảo
quản di sản của cụ Chắt, cụ Lụt. Buộc ông Lê Văn Dương phải tháo dỡ nhà tạm làm quán
cắt tóc để trả mặt bằng lại cho ông Bê trên diện tích ông Bê được chia.
Vụ Trần Thanh Nghị và bị đơn Trần Thanh Độ:
Nội dung: Cụ Trần Thanh Ba có hai vợ, vợ cả là cụ Lũ có 2 con chung là ông Danh và
ông Phương; vợ hai là cụ Nguyễn Thị Xuân có hai con chung là ông Độ và bà Nghị. Cụ
Ba và cụ Lũ có tài sản chung là căn nhà trên 1166m2 đất tại thôn Long Hải. Giữa cụ Ba
và cụ Xuân không có tài sản chung. Do có mâu thuẫn với cụ Ba nên năm 1954 cụ Xuân
đưa bà Nghị, ông Độ đi làm ăn ở Buôn Mê Thuột, còn cụ Ba và ông Phương với ông
Danh vẫn ở nhà đất trên. Năm 1961 cụ Xuân lấy chồng khác ở Sông Bé, bà Nghị lấy
chồng ở Bình Định, còn ông Độ về sống cùng cụ Ba. Ngày 28-3-1988 cụ Ba đã lập di
chúc phân chia đất cho 2 dòng con: Ông Danh, ông Phương được chia 648m2 đất, trên có
hai căn nhà, 15 cây dừa và một số cây trái khác; ông Độ và bà Nghị được chia chung
518m2 đất, trên có căn nhà, 19 cây dừa và cây ăn trái khác. Phần nhà đất của ông
Phương, ông Danh hai ông đã nhận và tự phân chia.
Phần nhà đất của ông Độ và bà Nghị do ông Độ quản lý, sử dụng cho đến nay. Qua quá
trình quản lý, ông Độ đã sửa nhà, xây một số công trình phụ.
Năm 1994 bà Nghị kiện chia thừa kế phần đất nhà theo di chúc của cụ Ba chia cho bà và
ông Độ.
Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều không trích công sức cho ông Độ.
Tại quyết định số 526 ngày 28-10-1996, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị
bản án phúc thẩm với nhận định: “… tuy nhiên, kể từ năm 1961 ông Độ là người trực
tiếp quản lý, sử dụng nhà đất, ông đã có công duy trì, tu bổ tài sản… lẽ ra khi chia thừa
kế phải trích cho ông Độ một phần từ giá trị khối di sản phù hợp với công sức của ông
Độ…”.
song cũng có những người là người ở nhờ, ở thuê, mượn tài sản, v.v…
- Người quản lý di sản là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (khoản 3 Điều 641).
Điều 642 Bộ luật Dân sự đã quy định 5 nghĩa vụ cho những người quản lý di sản được
quy định ở khoản 1 và khoản 3 Điều 641 Bộ luật Dân sự. Những người quản lý di sản
được quy định ở khoản 2 Điều 641 Bộ luật Dân sự chỉ có 4 nghĩa vụ. Như vậy người
quản lý di sản đồng thời là người sử dụng di sản được quy định ở khoản 2 Điều 641
không có nghĩa vụ “lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà
người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Tại sao người quản lý di sản đồng thời là người sử dụng di sản lại không có nghĩa vụ lập
danh mục di sản, ít nhất là số di sản họ đang quản lý, sử dụng thì họ phải có nghĩa vụ kê
khai, lập danh mục. Còn nếu người quản lý và sử dụng di sản đồng thời là người thừa kế
tại sao không có nghĩa vụ lập danh mục số di sản họ đang quản lý, sử dụng và cả danh
mục di sản đang do người khác quản lý? Tại sao lại không có nghĩa vụ phải thu hồi tài
sản thuộc di sản của người chết mà người khác (không phải người trong diện được hưởng
tài sản thừa kế) đang chiếm hữu. Nếu luật giao nghĩa vụ này cho họ và họ thực hiện đúng
thì khi tranh chấp xảy ra giải quyết sẽ thuận lợi hơn. Do đó, theo chúng tôi khoản 2 Điều
642 cần bổ sung thêm nghĩa vụ: “lập danh mục di sản” cho người quản lý di sản được
quy định ở khoản 2 Điều 641 Bộ luật Dân sự.
Nghĩa vụ thứ 5 (điểm đ) khoản 1 Điều 642 chỉ quy định: “giao lại di sản theo yêu cầu của
người thừa kế”, nhưng nghĩa vụ thứ 4 (điểm d) khoản 2 Điều 642 lại quy định “giao lại di
sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người
thừa kế”.
Thực ra chỉ có người quản lý di sản được quy định ở khoản 3 Điều 641 là đúng với nghĩa
vụ thứ 5 (điểm đ) khoản 1 Điều 642, còn người quản lý di sản được quy định ở khoản 1
Điều 641, đặc biệt người quản lý di sản là do “những người thừa kế thỏa thuận cử ra”
mới có nhiều khả năng có thỏa thuận theo hợp đồng với các thừa kế. Nhưng điểm đ
khoản 1 Điều 642 lại không quy định việc: “giao lại di sản theo thỏa thuận trong hợp
đồng giữa người quản lý di sản với các người thừa kế”. Thiết nghĩ đó là một thiếu sót,
cần phải được bổ sung.
Như vậy, Điều 642 Bộ luật Dân sự cần bổ sung thêm như sau:
Song nếu các bên không có thỏa thuận, hoặc không thỏa thuận được việc trả thù lao thì
Tòa án có quyền quyết định việc trả thù lao không? Hiện có ý kiến cho rằng nếu không
có thỏa thuận việc trả thù lao thì không buộc các thừa kế phải thanh toán thù lao cho
người quản lý di sản. Chúng tôi cho rằng đối với người chỉ quản lý di sản, không sử
dụng, khai thác lợi ích di sản thì dù hai bên không thỏa thuận được việc trả thù lao Tòa án
vẫn có quyền quyết định mức thù lao tương xứng với công sức họ đã bỏ ra. Vì vậy, điểm
b khoản 1 Điều 643 cần có sự sửa đổi, chỉ cần quy định: “được hưởng thù lao” là sẽ bao
hàm cả việc có thỏa thuận hoặc chưa có thỏa thuận việc trả thù lao hoặc có thể quy định
theo hướng: “Nếu hai bên không có thỏa thuận việc trả thù lao, thì giải quyết theo quy
định của pháp luật”; còn nếu có thỏa thuận mà thỏa thuận đó là hợp pháp thì công nhận
thỏa thuận đó.
Riêng trường hợp người quản lý di sản đồng thời là người sử dụng, khai thác lợi ích di
sản, hưởng hoa lợi từ di sản (khoản 2 Điều 641) nếu giữa người thừa kế và người quản lý
di sản không có thỏa thuận về việc trả thù lao, thì Tòa án có buộc các người thừa kế phải
trả thù lao không? Thực tế xét xử nhìn chung đi theo hướng dù không có thỏa thuận về
việc trả thù lao Tòa án vẫn trích từ khối di sản trả công duy trì, quản lý di sản cho họ trừ
trường hợp người quản lý, sử dụng di sản đồng thời là người thuê, người ở nhờ thì Tòa án
mới không cho họ hưởng thù lao.
Hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Theo chúng tôi người quản lý di sản
đồng thời là người sử dụng, khai thác lợi ích, hưởng lợi từ di sản thì chỉ được hưởng thù
lao khi có thỏa thuận, còn nếu không có thỏa thuận khi có tranh chấp Tòa án không buộc
các thừa kế phải trả thù lao cho họ. Vì vậy điểm b khoản 2 Điều 643 vẫn giữ nguyên như
quy định hiện nay, nghĩa là việc trả thù lao chỉ diễn ra khi có thỏa thuận với những người
thừa kế.
Vậy khoản 1 Điều 643 viết lại như sau:
“1. Người quản lý di sản được quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 641 của Bộ luật này
có các quyền sau đây:
a. Đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến phần
di sản thừa kế đang quản lý hoặc theo chỉ định trong di chúc hay theo thỏa thuận của các
thừa kế.