Tæng quan vÒ ASEAN
t¹p chÝ luËt häc sè 9/2008 3
Ths. NguyÔn ThÞ ThuËn *
ăn bản pháp lí quốc tế đầu tiên cho sự
ra đời của ASEAN chính là Tuyên bố
Băng Cốc năm 1967 (còn được gọi là Tuyên
bố ASEAN) được các ngoại trưởng của 5
quốc gia Thái Lan, Singapore, Philippine,
Indonesia, Malaysia thông qua ngày 8/8/1967
tại thủ đô của Thái Lan. Quyết định xây dựng
Hiến chương ASEAN đã được thông qua tại
Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 11 ở
Kuala lumpur (Malaysia) tháng 12/2005. Sau
hai năm rưỡi soạn thảo, ngày 20/11/2007, tại
Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 13 ở
Singapore, nguyên thủ và người đứng đầu
chính phủ 10 nước thành viên ASEAN đã kí
vào bản Hiến chương ASEAN. Có thể khẳng
định sự ra đời của Hiến chương là nhu cầu tất
yếu của ASEAN sau 40 năm thành lập, đánh
dấu bước ngoặt trong lịch sử tồn tại và phát
triển của tổ chức. Nếu đối chiếu Tuyên bố
Băng Cốc với Hiến chương ASEAN có thể
thấy một số điểm cần lưu ý sau:
vào tên gọi cụ thể của các văn kiện đó”. Như
vậy, tính chất điều ước của một văn kiện
pháp lí quốc tế không hề bị chi phối bởi việc
nó được gọi là “tuyên bố” hay “hiến chương”.
- Về mặt thực tế, từ sau khi Tuyên bố
Băng Cốc được thông qua, một tổ chức quốc
tế khu vực với tên gọi Hiệp hội quốc gia
Đông Nam Á (Association of Southeast
Asian Nation - ASEAN) đã ra đời. Có thể
vẫn còn sự nhìn nhận khác nhau về ASEAN,
đặc biệt là ở những thập niên đầu tiên khi tổ
v
* Trường Đại học Luật Hà Nội
Tæng quan vÒ ASEAN
4 t¹p chÝ luËt häc sè 9/2008
chức này mới xuất hiện, nhưng vai trò, vị trí
của ASEAN đối với hợp tác phát triển của
mỗi quốc gia thành viên cũng như khu vực
và thế giới là không thể phủ nhận.
Thứ hai: Về nội dung và mức độ hoàn
chỉnh của Tuyên bố Băng Cốc và Hiến
chương ASEAN có sự khác biệt rõ rệt. Tuyên
bố Băng Cốc năm 1967 mới chỉ dừng ở mức
độ “khai sinh” ra ASEAN. Tuyên bố Băng
Cốc ngoài phần mở đầu chỉ có 5 điểm với nội
dung đề cập tới việc thành lập ASEAN, mục
đích tôn chỉ của Hiệp hội, bộ máy của
ASEAN
một số điều ước quốc tế mà các tổ chức quốc
tế liên chính phủ khác là một bên kí kết. Điển
hình như Liên hợp quốc, một số điều ước
quốc tế mà Liên hợp quốc là thành viên đều
do một số cơ quan chính của Liên hợp quốc
thay mặt tổ chức này kí kết. Ví dụ như những
điều ước quốc tế mà Hội đồng bảo an kí kết
với một số quốc gia thành viên Liên hợp quốc
về việc huy động lực lượng quân đội tham gia
các chiến dịch gìn giữ hoà bình và an ninh
quốc tế theo quy định của Điều 43 Hiến
chương Liên hợp quốc hoặc các điều ước
quốc tế mà Hội đồng kinh tế-xã hội kí kết với
một số tổ chức quốc tế liên chính phủ như Tổ
chức lao động quốc tế, tổ chức văn hoá, khoa
học và giáo dục của Liên hợp quốc theo quy
định của Điều 63 Hiến chương Liên hợp
quốc.
(4)
Cho đến nay, các điều ước quốc tế mà
ASEAN đã kí kết với đối tác của mình đều có
sự tham gia kí kết của đại diện các thành viên
ASEAN (trong đó có Việt Nam).
Xuất phát từ sự thoả thuận giữa các
thành viên, từ vị thế của ASEAN nên mặc
dù cũng đã có một số thành công nhất định
nhưng việc thực hiện quyền năng chủ thể
luật quốc tế của ASEAN trong thời gian qua
còn rất khiêm tốn. Như vậy, nếu không có
Tuyên bố Băng Cốc năm 1967 thì không thể
chức trong các văn kiện pháp lí quốc tế
trước năm 2007 mà còn ghi nhận một số quy
định mới trong đó điển hình nhất là vấn đề
thành lập cơ quan nhân quyền được quy định
tại Điều 14 Chương V. So với các quy định
tương ứng trong Tuyên bố Băng Cốc và một
số văn kiện khác của ASEAN như Hiệp ước
Bali, Tuyên bố hoà hợp ASEAN… Các mục
tiêu và nguyên tắc hoạt động của ASEAN
trong Hiến chương ASEAN đã được cụ thể
hoá tương đối chi tiết.
(6)
Hiến chương quy định những vấn đề
pháp lí về thành viên ASEAN trong Chương
III. Nguyên tắc bình đẳng, thoả thuận, tôn
trọng Hiến chương chi phối địa vị pháp lí
của các thành viên ASEAN. Trong các điều
kiện kết nạp thành viên mới vào ASEAN,
điều kiện “được tất cả các nước thành viên
ASEAN công nhận” - điều kiện mang tính
chủ quan vẫn tiếp tục được ghi nhận. Thẩm
quyền quyết định kết nạp thành viên mới sẽ
do Cấp cao ASEAN quyết định, Hội đồng
điều phối ASEAN sẽ quy định về thủ tục xin
gia nhập và kết nạp.
Cơ cấu của ASEAN theo Hiến chương
gồm 9 cơ quan, đó là: Cấp cao ASEAN; Hội
đồng điều phối ASEAN; các hội đồng cộng
đồng ASEAN; các cơ quan chuyên ngành cấp
của ASEAN. Cơ sở pháp lí của các quyền ưu
đãi, miễn trừ này được xác định trong thoả
thuận giữa ASEAN và nước chủ nhà, Công
ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao,
luật của quốc gia thành viên ASEAN. Trong
các văn kiện trước đây của ASEAN, vấn đề
này hầu như chỉ được quy định trong Hiệp
Tæng quan vÒ ASEAN
6 t¹p chÝ luËt häc sè 9/2008
định thành lập Ban thư kí ASEAN.
(9)
Đối với vấn đề giải quyết tranh chấp, các
quy định trong Hiến chương ASEAN là hoàn
toàn phù hợp với nguyên tắc hoà bình giải
quyết tranh chấp của luật quốc tế theo đó các
bên tranh chấp có nghĩa vụ phải giải quyết
hoà bình mọi tranh chấp quốc tế và có quyền
tự do thoả thuận lựa chọn biện pháp giải
quyết tranh chấp thích hợp. Ngoài việc duy trì
các cơ chế giải quyết tranh chấp hiện có trong
các văn kiện của ASEAN như cơ chế giải
quyết tranh chấp trong Nghị định thư Manila
năm 1996, trong Hiệp ước hợp tác thân thiện
Đông Nam Á năm 1976… ASEAN có thể
thiết lập các cơ chế giải quyết tranh chấp phù
hợp trong tất cả các lĩnh vực hợp tác như cơ
chế trọng tài (đối với tranh chấp có liên quan
Hiến chương, điều kiện để Hiến chương có
hiệu lực, các quy định về sửa đổi, xét lại Hiến
chương, giải thích Hiến chương, cơ quan lưu
chiểu Hiến chương cũng được quy định rõ.
Đặc biệt, trong bối cảnh vẫn tiếp tục thừa
nhận giá trị hiệu lực của các điều ước quốc tế,
các tuyên bố và các văn kiện khác của
ASEAN đã có trước Hiến chương, khoản 2
Điều 52 đã khẳng định giá trị ưu tiên của
Hiến chương khi có sự “không nhất quán
giữa quyền và nghĩa vụ của các quốc gia
thành viên ASEAN theo các văn kiện nói trên
và Hiến chương”. Mặc dù hẹp hơn về phạm
vi
(10)
nhưng có thể thấy quy định của Điều 52
Hiến chương ASEAN về cơ bản cũng tương
tự như quy định của Điều 103 Hiến chương
Liên hợp quốc theo đó “trường hợp có sự
xung đột giữa những nghĩa vụ của các hội
viên Liên hợp quốc chiểu theo Hiến chương
và những nghĩa vụ chiểu theo bất cứ một
hiệp định quốc tế nào thì những nghĩa vụ
của các hội viên chiểu theo Hiến chương
phải được ưu tiên thi hành”.
Từ khi Tuyên bố Băng Cốc năm 1967 ra
đời cho đến thời điểm Hiến chương được kí
kết, ASEAN cũng đã có không ít các cam kết
nhằm kiện toàn thể chế. Đặc biệt là sau mỗi
Tæng quan vÒ ASEAN
(12)
Sau khi Hiến chương được đại diện của
10 quốc gia thành viên kí chính thức vào
ngày 20/11/2007, ngày 7/1/2008, Singapore
đã trở thành thành viên đầu tiên trong
ASEAN chính thức phê chuẩn dự thảo Hiến
chương. Tính đến tháng 4/2008, ngoài
Singapore còn có thêm 5 quốc gia là Lào,
Malaysia, Brunei, Việt Nam và Cămpuchia
phê chuẩn Hiến chương.
(13)
Các nước thành
viên còn lại của ASEAN đều tỏ rõ quyết tâm
sẽ phê chuẩn Hiến chương trước cuối năm
2008. Theo quy định của khoản 4 Điều 47,
Hiến chương ASEAN sẽ có hiệu lực sau 30
ngày, kể từ khi Tổng thư kí ASEAN lưu
chiểu văn kiện phê chuẩn thứ 10, cùng với
quyết tâm và nỗ lực của các quốc gia thành
viên, hi vọng rằng sau khi Hiến chương có
hiệu lực, ASEAN sẽ thực sự trở thành một
khối thống nhất về mặt pháp lí và khẳng định
được vị thế của mình trên trường quốc tế./.
(1). Thông thường, điều ước quốc tế thành lập tổ chức
quốc tế liên chính phủ có tên gọi là “hiến chương”,
“quy chế”, “điều lệ”, “hiệp ước”… Để loại điều ước
này phát sinh hiệu lực, các bên kết ước cũng thường
áp dụng thủ tục phê chuẩn.
được Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm kí ngày 14/3/2008.