Đề án môn học
LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta đang trong thời kì hội nhập, thời kì đem lại cho nước ta nhiều cơ
hội và thử thách to lớn. Nền kinh tế nước ta thật sự đang phải đối mặt với nhiều vận
hội và thử thách mới. Tuy nhiên, mức tăng trưởng kinh tế trong mấy năm gần đây
của nước ta đều xếp vào loại hàng đầu trên thế giới. Kinh tế hàng hóa ngày càng thu
hút nhiều nhà kinh doanh hơn. Mua bán hàng hoá là một nhân tố quan trọng nhất
trong nền kinh tế và nó đặc biệt quan trong trong nền kinh tế thị trường đầy biến
động như ở nước ta hiện nay. Các giao dịch mua bán hàng hóa theo đó mà diễn ra
và chiếm một số lượng chủ yếu trong các giao dich dân sự. Sử dụng pháp luật là
công cụ thực hiện các giao dịch dân sự , và gắn liền với các hoạt động mua bán
hàng hóa là hợp đồng mua bán hàng hóa. Các hoạt động trao đổi, mua bán của các
doanh nghiệp hiện nay dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp cũng đều đã sử
dụng hợp đồng mua bán như một công cụ hữu hiệu để thỏa thuận các điều khoản
giữa các bên. Việc các bên thỏa thuận quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp
đồng ngoài những thỏa thuận chung có quy định trong luật định thì cũng bao gồm
những thỏa thuận theo điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp. Bởi vậy việc tạo ra
một môi trường pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp đẩy mạnh việc cạnh tranh
lành mạnh giữa các doanh nghiệp, đồng thời bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp
trong thời đại mở cửa giao lưu buôn bán với thế giới.
Từ những kiến thức đã học tại trường và sự hướng dẫn tận tình của TS.
NGUYỄN HỢP TOÀN, em xin trình bày một số chế độ pháp lý và vấn đề thực tiễn
về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa hiện nay.
Em xin chân thành cảm ơn!
Đề án môn học
NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI MUA BÁN HÀNG
HÓA VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH.
1. Khái niệm đặc điểm Hợp đồng Thương mại mua bán hàng hóa
1.1. Khái niệm, đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên bình đẳng với nhau làm
này (gọi là giá giao kết) và phải trả một khoản tiền trước (gọi là giao kết) và phải
trả một khoản tiền nhất định để được mua quyền này (gọi là tiền mua quyền). Bên
mua quyền có quyền chọn thực hiện hoặc không thực hiện việc mua bán hoặc bán
hàng đó.
- Mua bán hàng hóa quốc tế: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm
xuất tái nhập, chuyển khẩu.
Đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thì các bên có thể thoả thuận áp
dụng, có thể là luật của Việt Nam hay luật của phía đối tác hay cũng có thể là luật
của một nước thứ ba
2. Pháp luật điều chỉnh
Bộ luật Dân sự được quốc hội thông qua ngày 14/06/2005 và có hiệu lực
ngày 01/01/2006 là nguồn luật chung điều chỉnh hợp đồng. Đây là luật chung điều
chỉnh , nêu nguyên tắc áp dụng chung về chủ thể, giao dịch dân sự, nghĩa vụ dân sự
được áp dụng các quan hệ hợp đồng dân sự (nghĩa hẹp), hợp đồng kinh doanh
thương mại… trên cơ sở những quy định áp dụng chung thì có luật áp dụng áp dụng
riêng đối với từng lĩnh vực Luật Thương mại, luật Lao động.
Luật Thương mại thông qua ngày 14/06/2005 và có hiệu lục thực hiện ngày
01/01/2006 được dùng có quan hệ hợp đồng trong hoạt động thương mại. Với hợp
đồng mua bán hàng hóa, luật Thương mại đóng vai trò là luật riêng áp dụng, luật
Dân sự là luật chung áp dụng. Trình tự áp dụng được tuân theo quy định chung, áp
dụng luật riêng trước, nếu không có những quy định liên quan thì sẽ áp dụng đến
luật chung tức là luật Dân sự.
Hệ thống các văn bản khác có liên quan như:
Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007 quy định chi tiết luật Thương
mại về hoạt động mua bán hàng hóa
Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/06/2006 của chính phủ quy định chi
tiết luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh.
Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ quy định chi tiết
Luật Thương mại về mua bán hàng hóa quốc tế và các đại lí mua bán, gia công và
quá cảnh với nước ngoài
ngăn cản bên nào.
Nguyên tắc thứ ba là nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương
mại đã được thiết lập giữa các bên để mà các bên đó biết hoặc phải biết nhưng
không được trái với quy định của pháp luật.
Các nguyên tắc tiếp theo là nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động
thương mại. Tại điều 13_ Luật Thương mại có quy định: trường hợp pháp luật
Đề án môn học
không có quy định, các bên không có thỏa thuận và không có thói quen đã được
thiết lập giữa các bên thì dụng tập quán thương mại nhưng không được trái với
những nguyên tắc quy định trong Luật Thương mại và trong Bộ luật dân sự.
Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng và thừa nhận giá trị pháp
lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại.
1.2. Chủ thể giao kết hợp đồng
Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là các cá nhân và tổ chức.
Đối với các cá nhân, để được thừa nhận là chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa,
cá nhân phải đảm bảo có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân
sự. Theo khoản 1 điều 122 bộ luật dân sự 2005 thì đây cũng là một trong các điều
kiện hiêu lực của hợp đồng.
Chủ thể giao kết hợp đồng có thể là thương nhân, có thể không phải thương
nhân
- Chủ thể là thương nhân
Trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa, ít nhất một bên phải là thương
nhân. Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt
động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.
Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn,
dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm. Quyền hoạt
động thương mại hợp pháp của thương nhân được Nhà nước bảo hộ. Nhà nước thực
hiện độc quyền Nhà nước có thời hạn về hoạt động thương mại đối với một số hàng
hóa, dịch vụ hoặc tại một số địa bàn để bảo đảm lợi ích quốc gia. Chính phủ quy
định cụ thể danh mục hàng hóa, dịch vụ, địa bàn độc quyền Nhà nước. Chính vì
+) Có tài sản độc lập với cá nhân
+) Tổ chức và tự chịu trách nhiệm về tài sản đó
+) Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập
- Chủ thể không phải là thương nhân
Trong rất nhiều trường hợp, cá nhân không phải là thương nhân cũng được
coi là chủ thể của hợp đồng thương mại. Bên không phải là thương nhân có thể là
mọi chủ thể có đủ năng lực vì hành vi để tham gia giao kết và thực hiện hợp đồng
mua bán hàng hoá theo quy định của pháp luật. Đó có thể là cá nhân, cơ quan, tổ
chức có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, cũng có thể là hộ gia
đình, tổ hợp và không hoạt động thương mại độc lập và thường xuyên như một
nghề.
1.3. Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa
Nội dung của hợp đồng là tất cả những gì mà các bên thoả thuận và pháp luật
quy định đối với một hợp đồng. Một hợp đồng mua bán hàng hoá sẽ có giá trị pháp
lực khi thoả măn tối thiểu những điều kiện về nội dung mà pháp luật quy định. Khi
thiếu một trong những nội dung đó th́ hợp đồng không thể phát sinh hiệu lực. Trong
thực tế, hậu quả xấu đă xảy ra xuất phát từ điểm các bên trong hợp đồng không quy
Đề án môn học
định rơ ràng hoặc đầy đủ những nội dung của hợp đồng dẫn tới có tranh chấp xảy ra
các bên sẽ không có chứng cứ hoặc chứng cứ không rơ ràng và những thiệt hại
không cần thiết có thể xảy ra đối với tất cả các bên và không thể lường trước được.
Luật thương mại năm 2005 đă không quy định về nội dung hợp đồng mua
bán hàng hoá. Trên cơ sở việc xác lập mối quan hệ với bộ luật Dân sự, khi xem xét
vấn đề nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá chúng ta có thể dựa trên các quy
định của bộ luật Dân sự. Theo đó trong hợp đồng mua bán hàng hoá, các bên có thể
thoả thuận về những nội dung sau đây:
- Đối tượng của hợp đồng
Trong mua bán hàng hoá, đối tượng của hợp đồng là một hàng hoá nhất định
đây là điều khoán cơ bản của một hợp đồng mua bán hàng hoá, mà khi thiếu nó hợp
đồng mua bán hàng hoá không thể h́nh thành được do người ta không thể h́nh dung
phương thức nhất định. Có nhiều phương thức thanh toán nhưng việc lựa chọn
phương thức nào cũng xuất phát từ nhu cầu của người bán là thu tiền nhanh đầy đủ
và yêu cầu của người mua là nhận được hàng đúng số lượng, chất lượng, thời hạn
như đă thoả thuận và không có rủi ro trong thanh toán. Việc chọn phương thức
thanh toán trong hợp đồng hoàn toàn phụ thuộc vào sự thoả thuận giữa các bên khi
tham gia qua lệ hợp đồng mua bán hàng hoá. Sự lựa chọn phương thức thanh toán
cũng căn cứ vào mức độ an toàn của phương thức thanh toán và phí tổn cho việc
thanh toán.
- Thời gian và địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng
Thời gian thực hiện hợp đồng là khoảng thời gian mà bên bán phải hoàn
thành nghĩa vụ giao hàng cho bên mua theo đúng đối tượng của hợp đồng đúng địa
điểm đă thoả thuận trong hợp đồng. Bên mua có nghĩa vụ và nhận hàng đúng thời
gian và địa điểm và trả tiền cho bên bán. Các bên có thể thoả thuận với nhau sao
cho hợp lưy căn cứ vào t́nh h́nh thực tiễn, khả năng thực hiện của mỗi bên. Địa
điểm giao hàng có thể do hai bên thoả thuận, phù hợp với điều kiện thực tế, thuận
tiện và có lợi cho cả hai bên. Khi thoả thuận cần thoả thuận cụ thể địa chỉ giao hàng,
đảm bảo nguyên tắc phù hợp với khả năng đi lại của phương tiện vận chuyển, đảm
bảo an toàn cho phương tiện.
1.4. Thủ tục giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
- Đề nghị giao kết hợp đồng
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, đề nghị giao kết hợp đồng chính là chào
hàng. Chào hàng là giai đoạn trong đó một bên có “đề nghị về việc kí kết hợp đồng
Đề án môn học
được gửi đích danh cho một hoặc vài người”. Chào hàng có thể là bất kì lời đề nghị
nào “đủ rõ ràng” và “ chỉ rõ tên hàng hóa, xác định một cách trực tiếp hoặc ngầm
định về số lượng và giá cả”. Chào hàng là một đề nghị giao kết hợp đồng, có nội
dung chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hoá, được chuyển cho một hoặc nhiều
nguời nhất định, có giá trị trong một thời gian nhất định. Đơn chào hàng về bản chất
là một đề nghị giao kết hợp đồng, là việc một bên bày tỏ ý chí của mình muốn giao
kết hợp đồng mua bán hàng hoá với một người cụ thể và chịu sự ràng buộc về đề
hàng trong thời hạn chấp nhận do người chào hàng quy định có thể bằng bất cứ
phương tiện thông tin liên lạc nào, được tính từ lúc bức điện được giao để gửi đi,
hoặc vào ngày ghi trên bì thư hoặc nếu ngày đó không có thì tính từ ngày bưu điện
đóng dấu trên bì thư. Thời hạn để chấp nhận chào hàng do người chào hàng quy
định, bắt đầu tính từ thời điểm người được chào hàng nhận được chào hàng.
- Ký kết hợp đồng
Hợp đồng được coi là đã ký kết kể từ thời điểm sự chấp nhận chào hàng có
hiệu lực. Bắt đầu từ thời điểm này, các bên có những quyền và nghĩa vụ được quy
định trong hợp đồng.
1.5. Thời điểm hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực
Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa là xác định được thời
điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên đối với nhau. Việc xác định thời
điểm có hiệu lực của hợp đồng là căn cứ để xem xét về tính hợp lệ và thời kiện khởi
kiện trong vụ án dân sự, có ý nghĩa quan trọng, nhất là khi giải quyết các tranh chấp
về tài sản trong hợp đồng mà quy ra thành tiền thì xác định giá trị của tài sản đó
theo giá thị trường tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực.
1.6. Hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu
Vấn đề một hợp đồng vô hiệu được quy định rất cụ thể trong Bộ luật Dân sự
2005 sửa đổi 2010 từ điều 127 đến điều 138. Một hợp đồng vô hiệu khác với hợp
đồng mất hiệu lực vì việc mất hiệu lực có thể xẩy ra ở bất kì thời điêm nào khi xuất
hiện các điều kiện cần thiết và không mang hiệu lực hồi tố. Hợp đồng bị vô hiệu
trong các trường hợp sau:
- Nội dung, mục đích của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo
đức xã hội (điều 128)
- Trong giao dịch hợp đồng có sự giả tạo ( điều 129)
- Hợp đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,
người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện(điều 130)
- Trong quá trình giao dịch có sự nhầm lẫn (điều 131)
- Giao dịch có dấu hiệu của sự đe dọa, lừa dối ( điều 132)
- Giao dịch do người xác lập không nhận thức và làm chủ hành vi của mình (
những tình huống có thể ảnh hưởng đến số phận của giao dịch và lợi ích của các
bên. Trong khi đó hành vi vi phạm hợp đồng là những biểu hiện khách quan dưới
dạng hành động hoặc không hành động trái với các nội dung mà các bên đã thỏa
thuận trước đó. Tuy nhiên khi sự vi phạm được gắn liền với yếu tố lỗi thì biểu hiện
khách quan đã được lồng ghép với những dấu hiệu chủ quan, bởi lỗi phản ánh trạng
thái nhận thức của người vi phạm khi có hành vi trái với thỏa thuận thiện chí là một
trong những nguyên tắc nền tảng của việc ký kết và thực hiện hợp đồng.
2.2. Giao nhận hàng hóa
Nghĩa vụ của bên bán là phải giao hàng hóa đúng quy định của hợp đồng và
Đề án môn học
các điều kiện kèm theo việc giao hàng. Việc giao hàng liên quan đến việc giao
chứng từ liên quan đến hàng hóa. Bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận
trong hợp đồng về số lượng , chất lượng cách thức đóng gói, bảo quản và các quy
định khác trong hợp đồng. Thông thường trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận với
nhau về điều kiện kèm theo việc giao hàng thoả thuận về điều kiện giao nhận hàng
hoá nhằm mục đích xác trách nhiệm và chi phí giao hàng của các bên như đối với
vận tải, bảo hiểm hàng hoá, thủ tục hải quan, thuế xuất nhập khẩu, gánh chịu rủi
ro…
Các bên có thể thoả thuận về địa điểm giao hàng tuỳ theo tính chất của các
hàng hoá trong hợp đồng khi đã thoả thuận về địa điểm giao hàng thì các bên phải
tôn trọng thoả thuận và phải thực hiện đúng thoả thuận đó. Bên bán phải có nghĩa
vụ giao hàng, bên mua phải có nghĩa vụ nhận hàng đúng địa điểm đã thoả thuận.
Trong trường hợp không thoả thuận về địa điểm giao hàng thì địa điểm giao
hàng được xác định như: Trường hợp hàng hoá là vật gắn liền với đất đai thì bên
bán phải giao hàng tại nơi có hàng hoá đó. Trường hợp trong hợp đồng có quy định
về vấn đề chuyển hàng hoá thì bên ngoài có nghĩa vụ giao hàng cho người vận
chuyển đầu tiên. Trường hợp trong hợp đồng không có quy định về vận chuyển
hàng hoá, nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng, các bên biết được địa điểm kho
chứa hàng, địa điểm xếp hàng hoặc nơi sản xuất, chế tạo hàng hoá thì bên bán phải
giao hàng tại địa điểm đó, Trong các trường hợp khác, bên bán phải giao hàng tại
xác định rõ bằng ký mã hiệu trên hàng hóa, chứng từ vận chuyển hoặc cách thức
khác thì bên bán phải thông báo cho bên mua về việc đã giao hàng cho người vận
chuyển và phải xác định rõ tên và cách thức nhận biết hàng hoá được vận chuyển.
Trường hợp bên bán có nghĩa vụ thu xếp việc chuyên chở hàng hoá thì bên
bán phải ký kết các hợp đồng cần thiết để việc chuyên chở được thực hiện tới đích
bằng các phương tiện chuyên chở thích hợp với hoàn cảnh cụ thể và theo các điều
kiện thông thường đối với phương thức chuyên chở đó.
Trường hợp bên bán không có nghĩa vụ mua bảo hiểm cho hàng hoá trong
quá trình vận chuyển, nếu bên mua có yêu cầu thì bên bán phải cung cấp cho bên
mua những thông tin cần thiết liên quan đến hàng hoá và việc vận chuyển hàng hoá
để tạo điều kiện cho bên mua mua bảo hiểm cho hàng hoá đó.
nếu hợp đồng chỉ quy định thời hạn giao hàng và không xác định thời điểm
giao hàng cụ thể mà bên bán giao hàng trước khi hết thời hạn giao hàng và giao
thiếu hàng hoặc giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì bên bán vẫn có thể giao
phần hàng còn thiếu hoặc thay thế hàng hoá cho phù hợp với hợp đồng hoặc khắc
phục sự không phù hợp của hàng hoá trong thời hạn còn lại.
Đề án môn học
Khi bên bán thực hiện việc khắc phục việc giao thiếu hàng, giao hàng không
phù hợp với hợp đồng mà gây bất lợi hoặc làm phát sinh chi phí bất hợp lý cho bên
mua thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán khắc phục bất lợi hoặc chịu chi phí đó.
2.3. Kiểm tra chất lượng hàng hóa
Trường hợp các bên có thoả thuận để bên mua hoặc đại diện của bên mua
tiến hành kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng thì bên bán phải bảo đảm cho bên
mua hoặc đại diện của bên mua có điều kiện tiến hành việc kiểm tra. Trừ trường
hợp có thỏa thuận khác, bên mua hoặc đại diện của bên mua trong trường hợp này
phải kiểm tra hàng hóa trong một thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho
phép; trường hợp hợp đồng có quy định về việc vận chuyển hàng hóa thì việc kiểm
tra hàng hoá có thể được hoãn lại cho tới khi hàng hoá được chuyển tới địa điểm
đến.
Trường hợp bên mua hoặc đại diện của bên mua không thực hiện việc kiểm
gánh chịu trách nhiệm vật chất. Trường hợp bên mua hàng chậm thanh toán tiền
hàng theo hợp đồng thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn
trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm tar,
khi bên vi phạm yêu cầu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Bên mua có thể ngừng thanh toán trong những trường hợp như bên mua có
bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng việc thanh toán. Bên
mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì có quyền
tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết. Bên mua có
bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì có quyền
tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục sự không phù hợp đó.
Trường hợp tạm ngừng thanh toán theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này
mà bằng chứng do bên mua đưa ra không xác thực, gây thiệt hại cho bên bán thì bên
mua phải bồi thường thiệt hại đó và chịu các chế tài khác theo quy định của pháp
luật.
Trường hợp không có thỏa thuận về địa điểm thanh toán cụ thể thì bên mua
phải thanh toán cho bên bán tại một trong các địa điểm: Địa điểm kinh doanh của
bên bán được xác định vào thời điểm giao kết hợp đồng, nếu không có địa điểm
kinh doanh thì tại nơi cư trú của bên bán. Địa điểm giao hàng hoặc giao chứng từ,
nếu việc thanh toán được tiến hành đồng thời với việc giao hàng hoặc giao chứng
từ.
Thời hạn thanh toán cũng là một yếu tố quan trọng. thời hạn thanh toán được
quy định như sau: Bên mua phải thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao
hàng hoặc giao chứng từ liên quan đến hàng hoá. Bên mua không có nghĩa vụ
thanh toán cho đến khi có thể kiểm tra xong hàng hoá trong trường hợp có thỏa
Đề án môn học
thuận theo quy định tại Điều 44 (Kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng).
Hai bên có thể lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp trên cơ sở tình hình
thị trường hàng hóa, sự hiểu biết và khả năng tài chính và tín nhiệm thương mại của
chủ thể giao kết. Hiện nay một số phương thức thanh toán được các bên kí kết thực
hiện như: phương thức chuyển tiên, phường thức ghi sổ, phương thức nhờ thu,
người vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho
bên mua thuộc một trong các trường hợp sau đây: Khi bên mua nhận được chứng
từ sở hữu hàng hoá. Khi người nhận hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu hàng
hoá của bên mua.
nếu đối tượng của hợp đồng là hàng hoá đang trên đường vận chuyển thì rủi
ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm
giao kết hợp đồng.
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, việc chuyển rủi ro trong các trường hợp
khác được quy định như sau:
- Trong trường hợp không được quy định tại các Điều 57, 58, 59 và 60 của
Luật này thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua, kể
từ thời điểm hàng hóa thuộc quyền định đoạt của bên mua và bên mua vi phạm hợp
đồng do không nhận hàng
- Rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá không được chuyển cho bên
mua, nếu hàng hoá không được xác định rõ ràng bằng ký mã hiệu, chứng từ vận tải,
không được thông báo cho bên mua hoặc không được xác định bằng bất kỳ cách
thức nào khác
2.7. Bảo hành hàng hóa
Trường hợp hàng hoá mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách
nhiệm bảo hành hàng hoá đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận. Bên bán phải
thực hiện nghĩa vụ bảo hành trong thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho
phép. Bên bán phải chịu các chi phí về việc bảo hành, trừ trường hợp có thoả thuận
khác.
2.8. Chế tài áp dụng đối với vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa
Sáu loại chế tài trong luật thương mại 2005: Buộc thực hiện đúng hợp đồng.
Phạt vi phạm. Buộc bồi thường thiệt hại. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng. Đình chỉ
thực hiện hợp đồng. Huỷ bỏ hợp đồng
- Buộc thực hiện đúng hợp đồng
Đề án môn học
Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm
- Bồi thường thiệt hại
Đề án môn học
Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành
vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Giá trị bồi thường thiệt hại bao
gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm
gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có
hành vi vi phạm.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:
1. Có hành vi vi phạm hợp đồng;
2. Có thiệt hại thực tế;
3. Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.
4. Lỗi
Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất
do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được
hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp
dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực
tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra. Nếu bên yêu cầu bồi
thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền
yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn
chế được.
- Tạm ngừng thực hiện hợp đồng
Tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện
nghĩa vụ trong hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây: Xảy ra hành vi
vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
Khi hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực. Bên bị
vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật này.
Bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc huỷ
bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc tạm ngừng, đình chỉ hoặc
huỷ bỏ hợp đồng. Trong trường hợp không thông báo ngay mà gây thiệt hại cho bên
đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ sau đó thì bên bị vi phạm có quyền
tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ sau đó,
với điều kiện là bên đó phải thực hiện quyền này trong thời gian hợp lý. Trường hợp
một bên đã tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với một lần giao hàng, cung ứng dịch vụ
Đề án môn học
thì bên đó vẫn có quyền tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với những lần giao hàng,
cung ứng dịch vụ đã thực hiện hoặc sẽ thực hiện sau đó nếu mối quan hệ qua lại
giữa các lần giao hàng dẫn đến việc hàng hoá đã giao, dịch vụ đã cung ứng không
thể được sử dụng theo đúng mục đích mà các bên đã dự kiến vào thời điểm giao kết
hợp đồng.
Sau khi huỷ bỏ hợp đồng, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết,
các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng,
trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợp đồng và về giải quyết
tranh chấp. Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của
mình theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải
được thực hiện đồng thời; trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận
thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền. Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi
thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
3. Giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán
hàng hóa
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu một bên có hàng vi vi phạm sẽ phát
sinh tranh chấp. theo điều 317 Luật Thương mại thì có 4 cách giải quyết tranh chấp
như sau:
3.1. Thương lượng giữa các bên
Là phương thức được các bên tranh chấp lựa chọn trước tiên và trong thực tế,
phần lớn các tranh chấp trong kinh doanh thương mại được giải quyết bằng phương
thức này. Nhà nước khuyến khích áp dụng phương thức tự thương lượng để giải
quyết tranh chấp trên tinh thần hoàn toàn tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên
Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng thực chất được thực hiện bởi cơ
chế giải quyết nội bộ và hoàn toàn xuất phát từ sự tự nguyện của các bên tranh
được đảm bảo do tòa án thực hiện xét xử theo nguyên tắc công khai.
Bên cạnh những ưa điểm trên, giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa
giải vẫn còn tồn tại những nhược điểm nhất định: Việc hòa giải có được tiến hành
hay không phụ thuộc vào sự nhất trí của các bên, hòa giải viên không có quyền đưa
ra một quyết định ràng buộc hay áp đặt bất cứ vấn đề gì đối với các bên tranh chấp
thỏa thuận hòa giải không có tính bắt buộc thi hành như phán quyết của trọng tài
hay của tòa án. Thủ tục này ít được sử dụng nếu các bên không có sự tin tưởng với
nhau.
3.3. Giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa theo thủ tục trọng tài
thương mại
Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp
không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường và ngày càng được các nhà kinh doanh
Đề án môn học
ưa chuộng. Đó là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của Hội đồng
trọng tài hoặc trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết mâu
thuẫn tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc các bên phải thi
hành.
Ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp này là có tính linh hoạt, tạo
quyền chủ động cho các bên; tính nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian có thể rút
ngắn thủ tục tố tụng trọng tài và đảm bảo bí mật. Trọng tài tiến hành giải quyết
tranh chấp theo nguyên tắc án, quyết định trọng tài không được công bố công khai,
rộng rãi. Theo nguyên tắc này họ có thể giữ được bí quyết kinh doanh cũng như
danh dự, uy tín của mình. Giải quyết trọng tài không bị giới hạn về mặt lãnh thổ do
các bên có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm trọng tài nào để giải quyết tranh chấp
cho mình. Phán quyết của trọng tài có tính chung thẩm, đây là ưu thế vượt trội so
với hình thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hòa giải. Sau khi trọng tài
đưa ra phán quyết thì các bên không có quyền kháng cáo trước bất kỳ một tổ chức
hay tòa án nào.
Nhược điểm: Giải quyết bằng phương thức trọng tài đòi hỏi chi phí tương
đối cao, vụ việc giải quyết càng kéo dài thì phí trọng tài càng cao. Việc thi hành
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay yếu tố thỏa thuận trong giao kết hợp
đồng được đề cao. Tất cả các hợp đồng đều là sự thỏa thuận. Tuy nhiên không thể
suy luận ngược lại: Mọi sự thỏa thuận của các bên đều là hợp đồng. Chỉ được coi là
hợp đồng những thỏa thuận thực sự phù hợp với ý chí của các bên, tức là có sự ưng
thuận đích thực giữa các bên. Hợp đồng phải là giao dịch hợp pháp do vậy sự ưng
thuận ở đây phải là sự ưng thuận hợp lẽ công bằng, hợp pháp luật, hợp đạo đức. Các
hợp đồng được giao kết dưới tác động của sự lừa dối, cưỡng bức hoặc mua chuộc là
không có sự ưng thuận đích thực. Những trường hợp có sự lừa dối, đe dọa, cưỡng
bức thì dù có sự ưng thuận cũng không được coi là hợp đồng, tức là có sự vô hiệu
của hợp đồng. Như vậy, một sự thỏa thuận không thể hiện ý chí thực của các bên thì
không phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên.
Một số hạn chế của pháp luật hiện hành về hợp đồng mua bán hàng hóa
Một là, thiếu sót lớn nhất của pháp luật hợp đồng ở Việt Nam là có sự trùng
lặp nhưng lại thiếu nhất quán và không đồng bộ.
Ở nước ta hiện nay, những quy định về hợp đồng được quy định ở rất nhiều
văn bản. Ngoài những văn bản quy định chung như Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Hợp
đồng kinh tế năm 1989 thì trong từng lĩnh vực cụ thể, việc ký kết và thực hiện hợp
đồng còn chịu sự chi phối của các văn bản mang tính chuyên ngành dưới những
Đề án môn học
hình thức khác nhau như: Bộ luật hàng hải Việt Nam, Luật Thương mại, Luật Hàng
không dân dụng Việt Nam, Luật về các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo
hiểm…
Do có sự phân biệt giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự nên ở Việt
Nam dường như tồn tại 2 hệ thống pháp luật hợp đồng tách biệt nhau, không có tính
liên thông, tính hỗ trợ lẫn nhau. Trong Bộ luật Dân sự năm 1995 và Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế năm 1989 đều có những quy định chung về hợp đồng đã phát sinh sự
trùng lặp trong sự điều chỉnh quan hệ hợp đồng. Do có sự trùng lặp, mau thuẫn,
không thống nhất nên trong thời gian qua pháp luật về hợp đồng đã gây ra không ít
sự vướng mắc, sự lúng túng trong việc áp dụng pháp luật để tiến hành giao kết hợp
đồng và giải quyết tranh chấp. Bộ luật Dân sự năm năm 1995 là văn bản được ban