Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập vào tổ chức
thương mại thế giới WTO sau 8 năm đàm phán. Để chuẩn bị tham gia và chấp
nhận những luật lệ chung cho hầu hết các nước trên thế giới, luật pháp Việt Nam
đã có những thay đổi căn bản nhằm làm thu hẹp khoảng cách giữa luật Việt
Nam và luật quốc tế, tạo sân chơi bình đẳng cho tất cả các bên tham gia vào hoạt
động thương mại tại Việt Nam. Đáp ứng các yêu cầu đó, năm 2005, Quốc hội
Việt Nam đã thông qua nhiều đạo luật mới trong đó có bao gồm Bộ luật dân sự
2005 và Luật thương mại 2005 thay thế cho Bộ luật dân sự và Luật thương mại
cũ đồng thời chấm dứt hiệu lực của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Đây là một thay
đổi lớn đối với toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về hợp đồng
nói riêng.
Hợp đồng mua bán hàng hóa là quan hệ trao đổi hợp pháp mà hầu hết các
cá nhân tổ chức kinh doanh đều phải thực hiện trong quá trình tồn tại và phát
triển. Việc kí kết, thực hiện hợp đồng phải tuân theo đúng các quy định của pháp
luật mới có thể giúp gắn chặt mối quan hệ hợp tác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên, đồng thời góp phần tăng cường hiệu quả quản lý kinh tế của
nhà nước trong nền kinh tế.
Với sự ra đời của các đạo luật nêu trên, quy định về pháp luật hợp đồng
hiện nay đã khá đầy đủ và có hệ thống. Tuy nhiên việc áp dụng các chính sách
mới trong việc kí kết và thực hiện hợp đồng vẫn đang có nhiều vấn đề cần bàn
luận. Bài viết “Chế độ pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam và
thực tiễn áp dụng tại Công ty cổ phần kỹ thuật nền móng và công trình ngầm
FECON” dưới đây trình bày một cách khái quát về tình hình áp dụng pháp luật
trong việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa ở Công ty cổ phần kỹ thuật
nền móng và công trình ngầm FECON. Bài viết này bao gồm ba phần chính:
Lại Cẩm Linh Luật kinh doanh K45
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương I: Chế độ pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa
1. Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc
không được làm;
2. Số lượng, chất lượng;
3. Giá, phương thức thanh toán;
Lại Cẩm Linh Luật kinh doanh K45
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
4. Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
5. Quyền, nghĩa vụ của các bên;
6. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
7. Phạt vi phạm hợp đồng;
8. Các nội dung khác.”
Trong tất cả các điều khoản nói trên, có những điều khoản mà ở hợp đồng
này các bên không cần thỏa thuận nhưung ở một hợp đồng khác, các bên lại
buộc phải thỏa thuận thì hợp đồng mới được coi là giao kết. Mặt khác, ngoài
những nội dung cụ thể này, các bên còn có thể thỏa thuận để xác định với nhau
thêm một số nội dung khác. Vì vậy, có thể phân chia các điều khoản trong nội
dung của hợp đồng thành ba loại:
2.1. Điều khoản cơ bản
Các điều khoản cơ bản xác định nội dung chủ yếu của hợp đồng. Đó là
những điều khoản không thể thiếu được đối với từng loại hợp đồng. Nếu không
thỏa thuận được những điều khoản đó, thì hợp đồng không thể giao kết được.
Điều khoản cơ bản có thể do tính chất của từng hợp đồng quyết định hoặc do
pháp luật quy định. Tùy theo từng loại hợp đồng mà điều khoản cơ bản có thể là
đối tượng, giá cả, địa điểm… có những điều khoản đương nhiên là điều khoản
cơ bản, vì không thỏa thuận tới nó sẽ không thể hình thành hợp đồng. Chẳng
hạn, điều khoản về đối tượng luôn là điều khoản cơ bản trong hợp đồng mua bán
tài sản. Ngoài ra, có những điều khoản mà vốn dĩ không phải là điều khoản cơ
bản nhưng các bên thấy cần phải thỏa thuận được điều khoản đó mới giao kết
hợp đồng thì những điều khoản này cũng là điều khoản cơ bản của hợp đồng sẽ
khoản tùy nghi. Chẳng hạn, địa điểm giao vật trong hợp đồng mua bán tài sản sẽ
là điều khoản cơ bản, nếu lúc giao kết, các bên đã thỏa thuận cụ thể về nơi giao
vật. Ngược lại, nó là điều khoản thông thường nếu các bên không thỏa thuận mà
mặc nhiên thừa nhận và thực hiện theo quy định của pháp luật. Mặt khác, địa
Lại Cẩm Linh Luật kinh doanh K45
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
điểm trong hợp đồng mua bán sẽ là điều khoản tùy nghi nếu các bên đã thỏa
thuận cho phép bên có nghĩa vụ được lựa chọn một trong nhiều nơi để thực hiện
nghĩa vụ giao vật.
Dựa vào tính chất của các điều khoản tùy nghi, người ta còn có thể phân
chúng thành hai loại khác nhau: tùy nghi ngoài pháp luật và tùy nghi khác pháp
luật.
II. Chế độ pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa
1. Khái niệm
Hàng hóa theo nghĩa rộng được hiểu là sản phẩm lao động của con người,
được tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thỏa mãn những nhu cầu mang tính xã
hội. Nhu cầu của con người phong phú và biến thiên liên tục vì vậy hàng hóa
cũng luôn phát triển phong phú và đa dạng. Dựa vào đặc trưng từng loại mà
hàng hóa được phân thành bất động sản (bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây
dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng
đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai) và động sản (là những tài sản không
phải là bất động sản) hay phân thành tài sản hữu hình và tài sản vô hình(quyền
tài sản). Hàng hóa có thể là vật, là lao động của con người, là các quyền tài sản
mang tính vô hình. Luật thương mại 2005 quy định, hàng hóa bao gồm: a) Tất
cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; b) Những vật
gắn liền với đất đai. Khái niệm này đã được mở rộng so với quy định trong Luật
thương mại 1997, và đã bao gồm hầu hết các đối tượng thực tế được mua bán
trên thị trường.
Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ
Thứ nhất là nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật: Thương nhân thuộc mọi
thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại. Trong
quá trình xác lập quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên tham gia đều
Lại Cẩm Linh Luật kinh doanh K45
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bình đẳng, không được lấy bất cứ một lý do nào về sự khác biệt để đối xử không
bình đẳng. Các chủ thể bình đẳng về năng lực pháp luật, bình đẳng giữa các hình
thức sở hữu. Sự bình đẳng được thể hiện ở các điểm:
- Bình đẳng trong việc tham gia vào quan hệ hợp đồng không phụ thuộc
vào giới tính và các địa vị xã hội khác;
- Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ khi hợp đồng được xác lập. Các bên
phải thực hiện nghĩa vụ đối với những người có quyền;
- Bình đẳng về trách nhiệm dân sự nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện,
thực hiện không đúng nghĩa vụ đều phải chịu trách nhiệm tài sản đối với bên có
quyền.
Thứ hai là nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận: Các bên tham gia có
quyền tự do thỏa thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong
mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong
hoạt động thương mại; các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực
hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào. Mọi cam kết, thỏa
thuận không có sự tự nguyện của các bên có thể bị coi là vô hiệu.
2.2. Hình thức hợp đồng
Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản
hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Việc lựa chọn hình thức giao kết hợp
đồng là do các bên giao kết hợp đồng tự lựa chọn trừ trường hợp đối với các loại
hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản
thì phải tuân theo các quy định đó (Điều 24 Luật thương mại 2005).
2.3. Thủ tục ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa
2.3.1. Đề nghị giao kết hợp đồng:
nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị, thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới
Lại Cẩm Linh Luật kinh doanh K45
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
(Bộ luật dân sự 2005 Ðiều 395). Ðiều đó có nghĩa rằng đề nghị được đưa ra
trước không còn hiệu lực.
2.3.2. Chấp nhận đề nghị
* Khái niệm: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên
được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề
nghị.
* Sự im lặng: Sự im lặng cũng được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp
đồng, khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa
thuận im lặng là sự trả lời chấp thuận (Bộ luật dân sự 2005 Ðiều 404 khoản 2).
Cần lưu ý câu chữ của luật: nếu có thỏa thuận.... Một người gửi một đề nghị cho
người khác và ghi rõ trong đề nghị rằng nếu người nhận đề nghị im lặng, thì hết
thời hạn trả lời, người này coi như chấp nhận giao kết hợp đồng. Ðiều kiện đó
hoàn toàn vô nghĩa nếu người nhận được đề nghị, trong thời hạn trả lời, không
xác nhận với người đề nghị về việc chấp nhận điều kiện. Một người nhận được
một đề nghị có ghi rõ thời hạn trả lời và báo cho người đề nghị biết rằng nếu hết
thời hạn đó mà người nhận đề nghị vẫn im lặng, thì coi như người này chấp
nhận đề nghị: trong trường hợp này, sự im lặng trở thành hình thức diễn đạt sự
chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, theo sự thỏa thuận giữa hai bên liên
quan.
* Hệ quả của việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng: Việc chấp nhận
đề nghị giao kết hợp đồng, cũng như việc đề nghị, không ràng buộc người bày tỏ
ý chí chừng nào ý chí được bày tỏ chưa được thông tin cho người đối tác: người
chấp nhận đề nghị có quyền rút lại lời chấp nhận trong trường hợp người đề nghị
chưa nhận được lời chấp nhận. Nhưng, khác với đề nghị, chấp nhận đề nghị, một
khi đã được người đề nghị tiếp nhận, sẽ không thể được rút lại hay thay đổi theo
ý chí đơn phương của người chấp nhận đề nghị, trừ trường hợp chấp nhận đề
định những chuẩn mực chung nhất trong quan hệ giữa người mua, người bán và
Lại Cẩm Linh Luật kinh doanh K45
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các bên liên quan, dựa vào đó các bên cụ thể hóa quyền và nghĩa vụ của mình.
Trong trường hợp không có thỏa thuận, cơ quan tài phán có thể dựa vào đó mà
xác định quyền và nghĩa vụ cho các bên.
Tuy vậy, để Hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực thì mục đích và nội
dung các thỏa thuận trong Hợp đồng không được trái pháp luật và đạo đức xã
hội. Ví dụ: hàng hóa mà các bên mua bán không phải là hàng cấm kinh doanh
theo quy định của pháp luật Việt Nam. Danh mục hàng hóa cấm kinh doanh hiện
nay được quy định trong Nghị định 11/1999/NĐ-CP ngày 03/3/1999 của Chính
phủ.
III. Chế độ thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
1. Các nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
Sau khi được giao kết hợp pháp, hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực
bắt buộc đối với các bên (Điều 4 Bộ luật dân sự 2005). Hợp đồng khi đó trở
thành “luật”, các bên phải tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận, nếu
không tự nguyện thực hiện thì có thể bị cưỡng chế thực hiện theo quy định của
pháp luật (Điều 7 Bộ luật dân sự 2005).
Trong quá trình thực hiện Hợp đông mua bán hàng hóa, các bên phải tuân
thủ những nguyên tắc sau:
* Thực hiện hợp đồng một các trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi
nhất cho các bên, đảm bảo tin cậy lẫn nhau.
Tham gia hợp đồng là tự nguyện ràng buộc vào các nghĩa vụ. Các nghĩa
vụ càng phức tạp và mang tính tổng thể thì cách thỏa thuận càng chi tiết nhằm
dự liệu việc điều chỉnh các tình huống có thể xảy ra. Song dù có thỏa thuận chi
tiết đến đâu, vào thời điểm ký kết, người soạn thảo hợp đồng cũng không thể
lường trước được tất cả những tình huống có thể xảy ra, ảnh hưởng đến quá
trình thực hiện hợp đồng sau này. Do vậy, để việc thực hiện hợp đồng diễn ra
Lại Cẩm Linh Luật kinh doanh K45
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.1.1 Giao đúng loại hàng:
Người bán không được giao các loại hàng khác hoặc thực hiện các nghĩa
vụ khác thay thế các loại hàng đã thỏa thuận, nếu bên mua không chấp nhận. Để
tránh tranh chấp về loại hàng, điều khoản tên hàng trong Hợp đồng mua bán
hàng hóa cần được soạn thảo chi tiết: Tên hàng thường được ghi bằng một danh
từ thông dụng và rõ nghĩa nhất, nếu có nguy cơ danh từ đó có thể hiểu theo
nhiều nghĩa không đồng nhất, thì kèm theo tên hàng cần ghi thêm tên khoa học,
công dụng, chức năng và mục đích sử dụng, nơi sản xuất, nguồn gốc, nhãn hiệu
của hàng hóa. Nếu hàng hóa được giao không đúng chủng loại, không phù hợp
với hợp đồng, hầu quả pháp lý được quy định tại Điều 68 Luật thương mại 1997,
điều luật này (đáng ra là một quy định cụ thể, phù hợp với những đặc thù của
quan hệ mua bán thương mại) lại chung chung hơn cả Điều 430 của Bộ luật dân
sự 1995. Bất cập này đã được sửa chữa bằng Điều 40 Luật thương mại 2005.
Theo quy định đó, khi hàng hóa được giao không đúng chủng loại: “Trừ trường
hợp các bên có thoả thuận khác, trách nhiệm đối với hàng hóa không phù hợp
với hợp đồng được quy định như sau:
- Bên bán không chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng
hoá nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng bên mua đã biết hoặc phải biết về
những khiếm khuyết đó;
- Trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, trong thời hạn khiếu nại
theo quy định của Luật này, bên bán phải chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm
khuyết nào của hàng hoá đã có trước thời điểm chuyển rủi ro cho bên mua, kể cả
trường hợp khiếm khuyết đó được phát hiện sau thời điểm chuyển rủi ro;
- Bên bán phải chịu trách nhiệm về khiếm khuyết của hàng hóa phát sinh
sau thời điểm chuyển rủi ro nếu khiếm khuyết đó do bên bán vi phạm hợp
đồng.”
Lại Cẩm Linh Luật kinh doanh K45
Điều luật này đã xóa bỏ phần nào sự cứng nhắc của Luật thương mại 1997
quy định nếu không có thỏa thuận về địa điểm giao hàng thì hợp đồng được coi
như là chưa giao kết.
2.1.3. Giao hàng đúng thời hạn:
Tương tự như vậy thời hạn giao hàng theo quy định của Luật thương mại
1997 cũng thuộc những nội dung chủ yếu của Hợp đồng mua bán hàng hóa, mà
nếu thiếu thỏa thuận về nó trong hợp đồng sẽ được coi như là chưa giao kết,
Điều 50 Luật thương mại 1997. Luật thương mại 2005 quy định trường hợp
không có thỏa thuận về thời hạn giao hàng thì bên bán phải giao hàng trong một
thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng(Điều 37). Tùy theo từng loại hàng,
các bên có thể thỏa thuận hàng được giao toàn bộ hoặc từng phần theo lịch trình
nhất định.
Nếu người bán hàng giao hàng sau thời hạn thỏa thuận, tùy vào từng loại
hàng khác nhau mà hậu quả pháp lý cũng khác nhau. Nếu hàng hóa được dùng
cho một thời điểm nhất định mà sau thời điểm đó trở nên không cần thiết nữa (ví
dụ bánh kẹo, đồ chơi phục vụ trực tiếp cho trẻ em dịp Tết Trung Thu, hàng hóa
đặc biệt phục vụ cho lễ Noel, cho Tết Nguyên Đán); bên mua có quyền từ chối
tiếp nhận hàng giao chậm và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Trong những trường
hợp khác, bên mua thường gia hạn hợp lý để bên bán có thể thực hiện được
nghĩa vụ giao hàng và yêu cầu bên bán đền bù thiệt hại hoặc trả phạt hợp đồng
theo quy định liên quan đến trách nhiệm vật chất khi vi phạm hợp đồng.
2.1.4. Giao hàng đúng phương thức:
Tùy theo tính chất, quy mô và các điều kiện cụ thể mà các bên thỏa thuận
cụ thể về phương thức giao hàng. Hàng có thể được giao trực tiếp cho người
mua tại trụ sở, nơi bán hoặc nơi sản xuất của người bán, được giao cho người
vận chuyển là chủ phương tiện vận chuyển như đường sắt, đường thủy, đường
bộ, đường hàng không. Phương thức giao hàng (bằng phương tiện gì, bên nào
Lại Cẩm Linh Luật kinh doanh K45
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hoá.
2.3. Chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro
Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận
khác, quyền sở hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng
hóa được chuyển giao. (Điều 62 Luật thương mại 2005)
Về nguyên tắc, địa điểm và thời gian quyền sở hữu hàng hóa được chuyển
từ người bán sang người mua do các bên tự do thỏa thuận. Bên bán thường ràng
buộc việc chuyển giao quyền sở hữu với điều kiện bên mua đã thanh toán đầy đủ
tiền hàng. Trong trường hợp này thời điểm chuyển quyền sở hữu có thể không
đồng nhất với thời điểm giao hàng. Chỉ khi các bên không thỏa thuận và pháp
luật không quy định thì quy định của điều 62 Luật thương mại 2005 mới được
áp dụng. Khi đó thời điểm chuyển quyền sở hữu là thời điểm giao hàng.
Gắn liền với thời điểm chuyển quyền sở hữu là trách nhiệm gánh chịu rủi
ro đối với hàng hóa (ví dụ hàng thất thoát, hư hỏng, tiêu hao trên đường vận
chuyển hoặc lưu kho). Vấn đề chuyển rủi ro được quy định từ điều 57 đến điều
61 Luật thương mại 2005.
Nếu hàng hóa đã sẵn sàng để chuyển giao, song người mua chậm thực
hiện nghĩa vụ nhận hàng, thì phải bồi thường thiệt hại cho người bán và phải
chịu mọi rủi to xảy ra kể từ thời điểm chậm tiếp nhận hàng, nếu trong hợp đồng
các bên không có thỏa thuận khác. Trường hợp này được gọi là rủi ro chuyển
sớm, tương tự như quy định của điều 69 Công ước Viên 1980.
2.4. Nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán của người mua
Nếu việc giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hóa là nghĩa vụ cơ bản
của người bán thì nhận hàng và thanh toán tiền mua hàng là nghĩa vụ cơ bản
tương xứng của người mua.
Lại Cẩm Linh Luật kinh doanh K45
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nhận hàng là một nghĩa vụ pháp lý của người mua mà việc vi phạm nghĩa
vụ đó có thể kéo theo một số hậy quả pháp lý được quy định trong Luật thương
4. Trường hợp tạm ngừng thanh toán theo quy định tại khoản 2 và khoản 3
Điều này mà bằng chứng do bên mua đưa ra không xác thực, gây thiệt hại cho
bên bán thì bên mua phải bồi thường thiệt hại đó và chịu các chế tài khác theo
quy định của Luật này.”
IV. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa
Trách nhiệm pháp lý thường được hiểu là sự áp dụng chế tài cho một chủ
thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng một nghĩa vụ nhất định. Trong
quan hệ hợp đồng, nếu vi phạm nghĩa vụ, bên vi phạm phải gánh chịu những hậu
quả bất lợi mang tính vật chất, chính vì vậy thuật ngữ trách nhiệm vật chất khi vi
phạm hợp đồng được sử dụng rộng rãi. Điều kiện để xuất hiện trách nhiệm vật
chất trước hết là sự vi phạm hợp đồng, được hiểu là không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng.
Căn cứ để xác định trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng đó là hành vi vi
phạm hợp đồng; thiệt hại; mối quan hệ trực tiếp giữa hành vi vi phạm hợp đồng
và thiệt hại xảy ra; lỗi.
Xác định thiệt hại: việc xác định thiệt hại là nhiệm vụ của bên bị vi
phạm.Bên bị vi phạm phải có nhiệm vụ xác định xem bên vi phạm đã không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nội dung hợp đồng như thế
nào và phải chứng minh là đã có thiệt hại xảy ra đối với mình.
Thiệt hại xảy ra đối với bên bị vi phạm phải là thiệt hại về tài sản và là
thiệt hại có thực, có thể tính toán được. Cụ thể hơn, những thiệt hại có thực tức
là những thiệt hại cho bên bị vi phạm được tính toán dựa trên:
- Tổn thất: mất mát có thực về mặt tài sản do hành vi vi phạm hợp đồng
gây ra
Lại Cẩm Linh Luật kinh doanh K45
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Chi phí: những chi phí hay những khoản bên bị vi phạm đã phải chi thêm
ra để ngăn ngừa hạn chế thiệt hại (chi phí hợp lý).
- Thất thu: những khoản đáng lẽ thu được nhưng bị bỏ lỡ và những mất
vụ kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch
vụ hoặc giao hàng khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng. Bên vi
phạm không được dùng tiền hoặc hàng khác chủng loại, loại dịch vụ khác để
thay thế nếu không được sự chấp thuận của bên bị vi phạm.
Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện theo quy định tại khoản 2
Điều này thì bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của
người khác để thay thế theo đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng và
bên vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có; có
quyền tự sửa chữa khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ và bên vi phạm
phải trả các chi phí thực tế hợp lý.
Bên bị vi phạm phải nhận hàng, nhận dịch vụ và thanh toán tiền hàng, thù
lao dịch vụ, nếu bên vi phạm đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định tại
khoản 2 Điều này.
Trường hợp bên vi phạm là bên mua thì bên bán có quyền yêu cầu bên
mua trả tiền, nhận hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác của bên mua được quy
định trong hợp đồng và trong Luật này.
2. Phạt vi phạm
Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản
tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường
hợp miễn trách nhiệm đã được quy định.
Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với
nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá
trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.
Lại Cẩm Linh Luật kinh doanh K45
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3. Bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do
hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Giá trị bồi thường thiệt hại
bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi
4. Tạm ngừng thực hiện, đình chỉ thực hiện, hủy hợp đồng
(Điều 308 - 315 Luật thương mại 2005)
Tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện
nghĩa vụ trong hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để tạm
ngừng thực hiện hợp đồng;
- Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
Khi hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực và
bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật
này.
Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ
hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để đình
chỉ hợp đồng;
- Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
Khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm
một bên nhận được thông báo đình chỉ. Các bên không phải tiếp tục thực hiện
nghĩa vụ hợp đồng. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh
toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng. Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi
thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Huỷ bỏ hợp đồng bao gồm hủy bỏ toàn bộ hợp đồng và hủy bỏ một phần
hợp đồng: Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất
cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng; Hủy bỏ một phần hợp đồng
Lại Cẩm Linh Luật kinh doanh K45
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp
đồng vẫn còn hiệu lực. Chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường
hợp sau đây (Điều 312 Luật thương mại 2005):
- Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để hủy bỏ