Đánh giá sự phù hợp của pháp luật về bảo vệ không khí trong pháp luật môi trường việt nam với các cam kết mà nước ta là thành viên - Pdf 33

GVHD: Võ Thị Mỹ Hương

A. LỜI MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG

Nhóm 8

MỤC
LỤC

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHÔNG KHÍ
1. Cơ sở lý luận
2. Tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay
II. CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ MÀ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN
1. Công ước viên 1985, Công ước về bảo vệ tầng ozon.
2. Nghị định thư Montreal
3. Công ước khung về thay đổi khí hậu của liên hợp quốc
4. Nghị định thư Kyoto năm 1997 công ước khung của Liên
Hợp Quốc về biến đổi khí hậu.
5. Thỏa thuận chống biến đổi khí hậu toàn cầu COP21
III. CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM VỀ KHÔNG KHÍ
IV. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ PHÙ HỢP TRONG CÁC QUY ĐỊNH BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ CỦA PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG VIỆT NAM VỚI CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ MÀ VIỆT NAM
LÀ THÀNH VIÊN.
1. Kết quả đạt được.
2. Những vấn đề còn hạn chế.
3. Hướng hoàn thiện.
C. KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1

* Ô nhiễm không khí
Dưới góc độ pháp lí, ô nhiễm không khí được hiểu là sự thay đổi tính chất
không khí, vi phạm tiêu chuẩn không khí mà pháp luật đã quy định. Nói cách
khác, ô nhiễm không khí là tình trạng không khí có xuất hiện chất lạ hoặc có sự
biến đổi quan trọng trong thành phần không khí làm thay đổi tính chất lí, hóa
vốn có của nó, vi phạm tiêu chuẩn môi trường do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành, gây tác động có hại cho con người và thiên nhiên.
b. Nguồn gốc gây ô nhiễm không khí.
- Nguồn tự nhiên
+ Ô nhiễm do hoạt động của núi lửa: hoạt động của núi lửa phun ra một lượng
khổng lồ các chất ô nhiễm như tro bụi, khí SOx NOx, có tác hại nặng nề và lâu
dài tới môi trường.
+ Ô nhiễm do cháy rừng: cháy rừng do các nguyên nhân tự nhiện cũng như các
hoạt động thiếu ý thức của con người, chất ô nhiễm như khói, bụi, khí SOx NOx,
CO, THC.
+ Ô nhiễm do bão cát: hiện tượng bão cát thường xảy ra ở những vùng đất trơ
và khô không có lớp phủ thực vật ngoài việc gây ra ô nhiễm bụi, nó còn làm
giảm tầm nhìn.
+ Ô nhiễm do đại dương: Do quá trình bốc hơi nước biển co kéo theo một
lượng muối (chủ yếu là NaCl) bị gió đưa vào đất liền. không khí có nồng độ
muối cao sẽ có tác hại tới vật liệu kim loại.
+ Ô nhiễm do phân hủy các chất hữu cơ trong tự nhiên: Do quá trình lên men
các chất hữu cơ khu vực bãi rác, đầm lầy sẽ tạo ra các khí như metan (CH 4), các
3


GVHD: Võ Thị Mỹ Hương

Nhóm 8


còn để lại những hậu quả lâu dài như khuyết tật bẩm sinh và suy giảm chức năng
tâm thần do chất lượng không khí kém.
Số tử vong bao gồm 4,3 triệu người chết do ô nhiễm không khí trong nhà,
chủ yếu do đun nấu bằng bếp than, củi. Tác động của ô nhiễm không khí ngoài
trời ước tính là 3,7 triệu người, với nguồn gây ô nhiễm từ đốt than tới động cơ
diesel. Số tử vong ước tính chung là 7 triệu người.
Những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là khu vực Đông Nam Á, và
khu vực Tây Thái Bình Dương. Những khu vực này có 3,3 triệu người chết liên

4


GVHD: Võ Thị Mỹ Hương

Nhóm 8

quan đến ô nhiễm không khí trong nhà và 2,6 triệu người chết do ô nhiễm ngoài
trời – với tổng số tính chung là 5,1 triệu người.
b. Ô nhiễm không khí ở Việt Nam hiện nay.
Ông Jacques Moussafir, chuyên gia người Pháp chuyên cung cấp giải pháp
phần mềm tính toán, mô phỏng ô nhiễm môi trường không khí và hỗ trợ dự báo
khí tượng khẳng định tại một cuộc hội thảo về cải tạo chất lượng không khí và
giao thông đô thị đã khẳng định: “Tại các đô thị lớn ở Việt Nam, ô nhiễm không
khí ảnh hưởng tới hoạt động của người dân mọi lúc, mọi nơi, nhất là ở thủ đô Hà
Nội. Đây là một trong những thành phố ô nhiễm không chỉ đứng đầu Đông Nam
Á mà còn ở châu Á”.
Còn theo một nghiên cứu được công bố tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos,
Việt Nam nằm trong 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp nhất và ảnh
hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe. Đối với ô nhiễm không khí ở Việt Nam có
một số vấn đề ô nhiễm không khí đáng chú ý:

đô thị hóa tương đối nhanh do quá trình với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
- Hoạt động xây dựng diễn ra mạnh mẽ
Ở nước ta hiện nay hoạt động xây dựng nhà cửa, đường sá, cầu cống… rất
mạnh và diễn ra ở khắp nơi, đặc biệt là ở các đô thị. Các hoạt động xây dựng
như đào lấp đất, đập phá công trình cũ, vật liệu xây dựng bị rơi vãi trong quá
trình vận chuyển, thường gây ô nhiễm bụi rất trầm trọng đối với môi trường
không khí xung quanh. Ở hầu hết các đô thị nước ta đều bị ô nhiễm bụi, có
những nơi tới mức báo động, điển hình là các khu dân cư cạnh đường giao thông
lớn, ở gần các nhà máy, xí nghiệp.Nồng độ bụi trong các khu dân cư cạnh các
nhà máy, xí nghiệp hoặc gần đường giao thông lớn đều vượt trị số tiêu chuẩn cho
phép từ 1,5 đến 3 lần. Ở những nơi diễn ra việc xây dựng nhà cửa, đường sá thì
nồng độ này vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 đến 20 lần.
6


GVHD: Võ Thị Mỹ Hương

Nhóm 8

- Hoạt động giao thông vận tải
Cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, phương tiện giao thông cơ
giới ở nước ta tăng lên rất nhanh, đặc biệt là ở các đô thị. Trước năm 1980
khoảng 80-90% dân đô thị đi lại bằng xe đạp. Ngày nay ngược lại 80% dân đô
thị đi lại bằng xe máy, ô tô con. Nguồn thải từ giao thông vận tải đã trở thành
một nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường không khí ở đô thị, nhất là ở
các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,Hải Phòng, Đà Nẵng. Theo
đánh giá của chuyên gia môi trường, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông
vận tải gây ra chiếm tỷ lệ khoảng 70%.
Xét các nguồn thải gây ra ô nhiễm không khí trên phạm vi toàn quốc (bao


- Thỏa thuận chống biến đổi khí hậu toàn cầu COP21
1. Về công ước viên 1985 và nghị định thư Montreal
Nằm ở độ cao 12-50km, khí quyển chứa ôzôn hình thành một tầng bảo vệ
xung quanh trái đất. Tầng ô zôn bảo vệ trái đất khỏi các ảnh hưởng có hại của
các tia bức xạ mặt trời, giữ vai trò quan trọng đối với khí hậu và sinh thái. Tầng
ô zôn đã bị suy yếu đáng kể. Chất gây suy giảm ô zôn chính là CFC không tự
phát sinh mà chủ yếu được tạo bởi các hoạt động của con người. Khi tầng ô zôn
bị suy yếu, tỉ lệ bệnh tật của con người tăng lên rõ rệt. Vì vậy, ngày 22/3/1985
các quốc gia đã cùng nhau kí kết một văn bản thỏa thuận về trách nhiệm của các
nước trong việc giảm phát thải các chất có hại đến sự bình ổn của tầng ozon.
Công ước ra đời trong khi bối cảnh khí hậu thay đổi tầng ozon bị suy yếu
và với tư cách 1 công ước khung.Với mục đích hạn chế sự phát thải của các chất
khí có hại đến tầng ozon công ước viên thiết lập sự kiểm soát không đặc thù về
các chất làm suy giảm tầng ozon thay vì xác lập 1 cam kết chung cho các thành
viên để bảo vệ tầng ozon.
Một số quyền và nghĩa vụ của các quốc gia được nêu ra trong Công ước viên mà
Việt nam với tư cách là thành viên phải thực hiện:
Thứ nhất, Việt Nam cần có những biện pháp thích hợp để bảo vệ sức khỏe con
người và môi trường chống lại những ảnh hưởng có hại phát sinh hoặc dễ phát
sinh từ những hoạt động của con người. Các biện pháp được nhấn mạnh là ngăn
ngừa để kiểm soát cũng như việc hạn chế để sử dụng một số hóa chất hay chất
khí có thể làm suy giảm tầng ozon.
Thứ hai, Việt Nam phải đảm nhiệm và hợp tác với các quốc gia khác thực hiện
các nghiên cứu khoa học, quan trắc có liên quan tới tầng ozon, , sự biến đổi tầng
ozon, những chất làm ảnh hưởng đến tầng ozon cũng như những chất thay thế.
Nhằm thực hiện Công ước một cách có hiệu quả, 2 năm sau đó, Nghị định
thư Montreal 1987 về các chất làm suy giảm tầng ozon đã được ban hành. Nghị
định đã đưa ra một kế hoạch đặc biệt cho việc giảm sản xuất và tiêu thụ các chất
làm suy yếu tầng ozon trong 10 năm tới nghị định đã đặt ra 3 giai đoạn giảm khí

này là “cam kết của các quốc gia nhằm vạch ra khuôn khổ cho hoạt động kiểm
soát và cắt giảm phát thải khí nhà kính nhằm ổn định nồng độ khí nhà kính
trong khí quyển để ngăn chặn các tác động nguy hiểm của nó tới hệ thống khí
hậu”.
Công ước nhấn mạnh trách nhiệm của các nước phát triển phải đi đầu trong
việc ngăn ngừa biến đổi khí hậu và các ảnh hưởng tiêu cực của nó có tính đến
đặc thù và hoàn cảnh của các nước đang phát triển vì hầu hết sự phát thải khí
nhà kính của thế giới xuất phát và tiếp tục xuất phát từ các nước này. Họ phải
giữ vai trò chủ đạo trong việc chống lại sự biến đổi khí hậu và những tác động
9


GVHD: Võ Thị Mỹ Hương

Nhóm 8

xấu của nó. Rõ ràng là trách nhiệm của các nước phát triển và đang phát triển là
khác nhau trong quá trình hợp tác để đi đến thành công. Do đó trong các phụ lục
của công ước chia ra rất rõ ràng trách nhiệm của các nước phát triển và đang
phát triển. Việt Nam là nước đang phát triển, chúng ta cần thực hiện nghĩa vụ
như những quốc gia thuộc Phụ lục I:
Thứ nhất, Việt Nam sẽ không ngừng điều tra nhằm hạn chế nguồn phát thải khí
gây hiệu ứng nhà kính trong phạm vi quốc gia, xây dựng các chương trình khu
vực, quốc gia về biến đổi khí hậu , đưa vấn đề khí hậu vào các chính sách , vào
các hoạt động quốc gia về xã hội, kinh tế và môi trường.
Thứ hai, Việt Nam có nghĩa vụ hợp tác với các quốc gia trên thế giới về biến đổi
khí hậu.
3. Nghị định thư Kyoto năm 1997 công ước khung của Liên Hợp Quốc về
biến đổi khí hậu.
Nhằm tăng cường cơ sở pháp lý về trách nhiệm thực hiện Công ước khung

tham dự Hội nghị COP21 đã chính thức thông qua Thỏa thuận Paris. Thỏa thuận
vừa đạt được là đánh dấu bước đột phá quan trọng trong nỗ lực của Liên hợp
quốc suốt hơn hai thập kỷ qua nhằm thuyết phục Chính phủ các nước hợp tác để
giảm lượng khí thải gây ô nhiễm, hạn chế việc gia tăng nhiệt độ của Trái đất.
Bản Thỏa thuận Paris có 31 trang, 29 điều khoản và sẽ thay thế Nghị định thư
Kyoto từ năm 2020. Thoả thuận Paris sẽ có hiệu lực trong vào 30 ngày sau khi
có ít nhất 55 quốc gia, chiếm ít nhất 55% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính
toàn cầu phê chuẩn.
Về mục tiêu, thỏa thuận này đặt ra mức tăng nhiệt độ của Trái đất đến năm
2100 là thấp hơn đáng kể so với ngưỡng 2 độ C và gắng tiến tới ngưỡng thấp
hơn 1,5 độ C.
Thỏa thuận Paris còn đề ra cơ chế để mỗi nước tự nguyện rà soát, theo đó từ
năm 2023, cứ 5 năm/lần Liên hợp quốc sẽ tổ chức đánh giá hiệu quả tổng hợp về
các nỗ lực chống biến đổi khí hậu của các nước. Việc đánh giá này sẽ giúp các
nước có thêm thông tin để cập nhật và tăng cường các cam kết của họ.
Trong điều khoản về ‘tổn thất và thiệt hại’, các bên sẽ tăng cường hiểu biết,
hành động và hỗ trợ thông qua Cơ chế quốc tế về tổn thất và thiệt hại cùng với
tác động của biến đổi khí hậu.
Các nước phát triển sẽ cung cấp nguồn lực tài chính để hỗ trợ các nước đang
phát triển thích ứng và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và các bên được khuyến
khích cung cấp hoặc tiếp tục cung cấp hỗ trợ này trên cơ sở tự nguyện. Mức
đóng góp 100 tỷ đô la mỗi năm cho đến năm 2020 tiếp tục được khẳng định lại
nhưng quan trọng là Thỏa thuận Paris xem con số 100 tỷ USD này không đủ và
đang kêu gọi tăng thêm. Đến năm 2025 sẽ lại đưa ra được một con số cụ thể
khác về đóng góp tài chính.
11


GVHD: Võ Thị Mỹ Hương


VỚI CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ MÀ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN.
12


GVHD: Võ Thị Mỹ Hương

Nhóm 8

1. Kết quả thực thi công ước
Việc Việt Nam tham gia các điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu thể hiện
chính sách mở cửa của Việt Nam trong hợp tác quốc tế nhằm giải quyết vấn đề
biến đổi khí hậu toàn cầu. Các công ước quốc tế Việt Nam tham gia ký kết cũng
đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý quốc tế quan trọng cho sự hợp tác trên lĩnh vực
khác nhau giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới nhằm giải quyết hậu quả
của biến đổi khí hậu. Một số kết quả đạt được khi thực hiện các cam kết quốc tế
của Việt Nam:
-Thực hiện nội dung các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và bảo vệ tầng
ozon, Việt Nam đã ban hành các văn bản pháp luật có liên quan.
- Kể từ khi Việt Nam phê chuẩn Nghị định thư Montreal năm 1994 đến nay, Việt
Nam đã ban hành nhiều chính sách để hạn chế việc tiêu thụ các chất làm suy
giảm tầng ôzôn.
Hai văn bản quan trọng liên quan đến lĩnh vực này đã được Việt Nam ban
hành là Nghị định về cấm nhập khẩu các thiết bị làm lạnh sử dụng khí gas lạnh
CFC - một trong 10 chất chính làm suy giảm tầng ôzôn đang được sử dụng ở
Việt Nam và Thông tư liên tịch của hai Bộ Công Thương và Tài nguyên-Môi
trường về việc xuất nhập khẩu và tạm nhập-tái xuất các chất làm suy giảm tầng
ôzôn theo quy định của Nghị định thư.
Để giúp Việt Nam triển khai sâu rộng Nghị định thư này, năm 2006 Quỹ đa
phương về ôzôn thông qua Ngân hàng Thế giới đã tài trợ cho Việt Nam 6,3 triệu
USD để triển khai các dự án hỗ trợ chuyển giao công nghệ và kỹ thuật cho các

Việt Nam được xếp thứ tư về số lượng dự án CDM được đăng ký và xếp thứ
11 về lượng CER được cấp. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư
trong và ngoài nước và thu hút vốn đầu tư cho các hoạt động CDM, phục vụ
mục tiêu phát triển bền vững đất nước, Việt Nam đã ban hành một số văn bản
quy phạm pháp luật.

14


GVHD: Võ Thị Mỹ Hương

Nhóm 8

Hình 2: Một số dự theo CDM tiêu biểu của Việt Nam.
+Việt Nam đang trong quá trình đàm phán với phía Nhật Bản để sớm ban
hành hướng dẫn thực hiện Cơ chế tín chỉ chung (JCM) tại Việt Nam. Hai bên đã
cơ bản thông qua các hướng dẫn kỹ thuật phục vụ triển khai thí điểm một số dự
án JCM tại Việt Nam. Đến nay, 28 dự án JCM (18 dự án thuộc lĩnh vực năng
lượng, bốn dự án giao thông vận tải, ba dự án quản lý chất thải và ba dự án thuộc
lĩnh vực lâm nghiệp) đang trong giai đoạn nghiên cứu khả thi với tổng tiềm năng
giảm phát thải ước tính khoảng 10 triệu tấn CO2 tương đương.
Bên cạnh việc thực hiện các dự án JCM, hiện nay một số doanh nghiệp Việt
Nam đã tham gia đăng ký dự án tín chỉ các-bon theo Tiêu chuẩn các-bon được
thẩm tra (VCS) và Tiêu chuẩn vàng (GS) để có thể giao dịch trên thị trường cácbon tự nguyện. Tính đến ngày 15 tháng 6 năm 2014, Việt Nam đã có bốn dự án
được đăng ký theo GS và 15 dự án theo VCS. Tín chỉ các-bon được cấp qua các
dự án VCS là 419.452.
- 11 phương án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính đã được xây dựng cho ba lĩnh
vực phát thải chính , trong đó lĩnh vực năng lượng có sáu phương án; lĩnh vực
nông nghiệp có hai phương án; lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và
lâm nghiệp(LULUCF) có ba phương án. Tổng tiềm năng giảm phát thải/ tăng

- Chủ động hình thành một chiến lược thích nghi với tình trạng biến đổi khí hậu
của trái đất. Trọng tâm của chiến lược này nên nhằm vào một số lĩnh vực dễ bị
tổn thương như: tài nguyên nước, nông nghiệp, quy hoạch khu dân cư và khu
công nghiệp ở các vùng ven biển, năng lượng và giao thông vận tải.
- Hiện nay, Việt Nam tiếp tục công cuộc đổi mới, nền kinh tế đang phát triển
mạnh mẽ theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công tác quy
16


GVHD: Võ Thị Mỹ Hương

Nhóm 8

hoạch phát triển những nhà máy, xí nghiệp, những khu đô thị, những phương
tiện giao thông hiện đại cần phải gắn liền với việc tuân thủ chặt chẽ những quy
định về các vấn đề bảo vệ môi trường, chống phát thải vô nguyên tắc các chất
thải gây ô nhiễm môi trường.
- Để hạn chế sự phát thải khí nhà kính và chất thải vào môi trường, Việt Nam
cần đưa ra nhiều biện pháp như biện pháp kinh tế, kỹ thuật, pháp lý, trong đó
biện pháp pháp lý ngày càng phải được quan tâm, và pháp luật về biến đổi khí
hậu phải được tiếp tục hoàn thiện, cần rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy
định của pháp luật để thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Thiết lập và vận hành hệ thống kiểm kê quốc gia khí nhà kín có một vai trò và
ý nghĩa quan trọng giúp ước tính lượng phát thải khí nhà kính của các ngành lĩnh
vực nhằm cung cấp các thông tin hữu ích, tạo lập cơ sở vững chắc cho công tác
hoạch định chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc chỉ đạo và quản lý chặt chẽ quá trình
liên quan đến việc thực thi các dự án thuộc CDM.
- Tiếp tục hợp tác với các quốc gia trên thế giới về bảo vệ môi trường không khí.
Làm giảm hoặc ngăn ngừa khí thải gây hiệu ứng nhà kính, đấu tranh yêu cầu các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status