PHẦN MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa thực tế của đề tài
Trong giao dịch thương mại quốc tế có rất nhiều phương thức thanh tóan quốc tế khác
nhau như : thanh tóan chuyển tiền trực tiếp cho nhau hoặc trước khi nhận hàng hoặc
sau khi nhận hàng, thanh tóan theo phương thức nhờ thu gồm nhờ thu trơn, nhờ thu
kèm chứng từ, nhờ thu trả ngay, nhờ thu trả chậm, thanh tóan theo phương thức tín
dụng chứng từ . . . và mỗi phương thức khác nhau đều có những ưu điểm và nhược
điểm khác nhau. Phương thức thanh tóan bằng tín dụng chứng từ là phương thức đáp
ứng được đòi hỏi của hai bên người nhập khẩu và người xuất khẩu. Trong phương
thức này thì ngân hàng của hai bên là những nhà trung gian đảm bảo cho người xuất
khẩu khi đã giao hàng thì sẽ nhận được tiền và bên nhập khẩu khi nhận được chứng
từ thì phải thanh tóan Nhờ vào sự ưu việt hơn so với những phương thức chuyển tiền
bằng điện, nhờ thu . . . nên phương thức tín dụng chứng từ đã trở thành phương thức
hữu hiệu với cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu và nó đã trở thành phương thức thông
dụng hiện nay. Tuy nhiên trong quá trình áp dụng các điều luật, các quy tắc quốc tế
vào trong quá trình thực hiện thì xảy ra những mâu thuẫn bất đồng do những quy tắc
thống nhất này ngày càng bộc lộ những điểm bất cập và không theo kịp với sự phát
triển và đa dạng hóa của quá trình trao đổi thương mại quốc tế tòan cầu. Chính vì vậy,
việc nghiên cứu những tranh chấp xảy ra khi áp dụng phương thức thanh toán tín
dụng chứng từ sẽ rất giúp ích cho nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu trong thực tế.
Đồng thời việc nghiên cứu phân tích những thay đổi của UCP600 so với UCP500 và
chỉ ra những hạn chế của UCP600 cũng giúp ích thêm phần nào cho việc đưa nhanh
UCP600 vào thực tiễn họat động thanh tóan quốc tế hiện nay, vốn đang rất sôi động
và đặc biệt là kể từ khi Việt nam gia nhập WTO, hội nhập vào nền kinh tế quốc tế
của thế giới.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Với ý nghĩa muốn chỉ ra những điểm hạn chế của UCP 500, những thay đổi trong
UCP600 và việc áp dụng UCP600 trong thực tiễn giao dịch thanh tóan chứng từ hiện
nay, luận văn cần phải nêu ra những cơ sở lý luận dùng để phân tích đánh giá, và đưa
ra kết luận.
Mục tiêu của đề tài trước tiên là nghiên cứu những lý luận cơ bản của phương thức
dụng UCP 500, UCP600, về những hiểu biết của họ về thay đổi của UCP600. Và từ
đó đưa ra những biện pháp ngừa ngừa việc phát sinh tranh chấp trong họat động thanh
tóan xuất nhập khẩu khi áp dụng phương thức tín dụng chứng từ.
2
4. Phương pháp nghiên cứu
Thông qua phần lý luận và tổng quan về phương thức tín dụng chứng từ, bằng
phương pháp mô tả tôi đã giới thiệu được cơ bản về phương thức tín dụng chứng từ,
quá trình áp dụng, vận dụng UCP vào phương thức này. Để nêu bật những tranh chấp
thường xảy ra trong phương thức tín dụng chứng từ, tôi đã sử dụng phương pháp
nghiên cứu tình huống. Bên cạnh đó bằng phương pháp phỏng vấn điều tra khảo sát
và thống kê thực tế, kết hợp với phương pháp phân tích tổng hợp số liệu, tôi đã đưa ra
một kết quả định lượng để xác định nguyên nhân thực tế gây ra tranh chấp xuất phát
từ sự hiểu biết chưa thấu đáo của các bên tham gia trong phương thức tín dụng chứng
từ , từ đó đưa ra một số biện pháp khắc phục.
Mô hình nghiên cứu đề tài được xây dựng theo mô hình sau :
3
Xác định mục tiêu
Phân tích tình huống
tranh chấp trong nghiệp
vụ tín dụng chứng từ khi
áp dụng UCP 500
Những thay đổi của UCP
600
Lý luận phương thức tín
dụng chứng từ
Nhận định, giải pháp
5. Điểm mới của đề tài
UCP600 mới ra đời và có hiệu lực từ ngày 1/7/2007 nên việc áp dụng còn tương đối
mới đối với các bên tham gia gồm cả ngân hàng và người xuất nhập khẩu. Những
thay đổi của UCP600 mang tính thực tiễn cao với mục đích để quá trình thanh tóan
CHƯƠNG I :
TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG
TỪ VÀ UCP600
1.1. Khái niệm và nội dung phương thức tín dụng chứng từ
Tín dụng chứng từ là phương thức thanh tóan trong đó một ngân hàng theo yêu
cầu của khách hàng cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng
hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó nếu
người này xuất trình được bộ chứng từ thanh tóan phù hợp với những quy định
nêu ra trong thư tín dụng. Diễn đạt một cách đơn giản hơn, phương thức tín dụng
chứng từ là một sự thỏa thuận mà trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín
dụng) đáp ứng những nhu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam
kết hay cho phép ngân hàng khác chi trả hoặc chấp thuận yêu cầu của người
hưởng lợi khi những điều kiện và điều khỏan quy định trong thư tín dụng được
thực hiện đúng và đầy đủ.
Qua khái niệm tín dụng chứng từ, chúng ta có thể thấy các bên tham gia phương
thức tín dụng chứng từ gồm có :
1. Người xin mở thư tín dụng (applicant) : thông thường là người mua hay là
tổ chức nhập khẩu.
2. Người hưởng lợi (beneficiary) : là người bán hay là người xuất khẩu hàng
hóa.
3. Ngân hàng mở hay ngân hàng phát hành thư tín dụng (the issuing bank) :
là ngân hàng phục vụ người nhập khẩu, ở bên nước người nhập khẩu,
cung cấp tín dụng cho người nhập khẩu và là ngân hàng thừơng được hai
bên nhà nhập khẩu và xuất khẩu thỏa thuận lựa chọn và được quy định
trong hợp đồng thương mại. Nếu chưa có quy định trước người nhập
khẩu có quyền lựa chọn.
4. Ngân hàng thông báo thư tín dụng (the advising bank) : là ngân hàng phục
vụ người xuất khẩu, thông báo cho người xuất khẩu biết thư tín dụng đã
mở. Ngân hàng này thường ở nước người xuất khẩu và có thể là ngân
hàng chi nhánh hoặc đại lý của ngân hàng phát hành thư tín dụng.
Để có cái nhìn tổng quát về tín dụng chứng từ, tòan bộ nội dung và các bước thực
hiện phương thức tín dụng chứng từ được mô tả ở sơ đồ số 1.1 sau:
6
Sơ đồ 1.1: Quy trình thực hiện phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
(1) Hai bên xuất khẩu và nhập khẩu ký kết hợp đồng thương mại
(2) Người nhập khẩu làm thủ tục u cầu ngân hàng mở L/C mở L/C cho người xuất
khẩu thụ hưởng
(3) Ngân hàng mở L/C mở L/C theo u cầu của người nhập khẩu và chuyển L/C
sang ngân hàng thơng báo để báo cho người xuất khẩu biết
(4) Ngân hàng thơng báo L/C thơng báo cho người xuất khẩu biết rằng L/C đã được
mở
(5) Dựa vào nội dung L/C, người xuất khẩu giao hàng cho người nhập khẩu
(6) Người xuất khẩu sau khi giao hàng lập bộ chứng từ thanh tóan xuất trình cho
ngân hàng thơng báo để được thanh tóan.
(7) Ngân hàng thơng báo chuyển bộ chứng từ thanh tóan sang để ngân hàng mở L/C
xem xét trả tiền.
(8) Ngân hàng mở L/C sau khi kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp thì trích tiền
chuyển sang ngân hàng thơng báo để ghi có cho người thụ hưởng. Nếu khơng
phù hợp thì từ chối thanh tóan.
(9) Ngân hàng thơng báo ghi có và báo có cho người xuất khẩu.
(10)Ngân hàng mở L/C trích tài khỏan và báo nợ cho người nhập khẩu.
(11)Người nhập khẩu xem xét chấp nhận trả tiền và ngân hàng mở L/C trao bộ chứng
từ để người nhập khẩu có thể nhận hàng.
Qua nội dung và trình tự các bước tiến hành phương thức tín dụng chứng từ như đã
mơ tả ở trên đây, chúng ta thấy rằng phương thức tín dụng chứng từ là phương thức
thanh tóan sòng phẳng đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu.
Bên xuất khẩu được ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền còn bên nhập khẩu được ngân
hàng đứng ra xem xét , kiểm tra bộ chứng từ nhằm đảm bảo cho bên nhập khẩu nhận
7
(3)
hiện phương thức tín dụng chứng từ, cần chú ý những điểm cơ bản sau:
• Viết đúng nội dung theo mẫu giấy đề nghị mở L/C do Ngân hàng mở L/C
ấn hành.
8
NH mở L/C
Người xin mở L/C
(NK)
Người hưởng thụ
L/C (XK)
NH thông báo L/C
(2) L/C
(1) Giấy đề nghò mở L/C
(3) L/C
Hợp đồng
• Tổ chức nhập khẩu cần phải thận trọng và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi
đưa những điều kiện ràng buộc bên xuất khẩu vào L/C, làm thế nào để
vừa đảm bảo được quyền lợi của mình, vừa để bên xuất khẩu có thể chấp
nhận được.
• Khi lập giấy đề nghị mở L/C, đơn vị nhập khẩu phải tôn trọng những điều
kiện trên hợp đồng, tránh tình trạng mâu thuẫn trái ngược nhau. Tuy nhiên
khi cần điều chỉnh hợp đồng cũng có thể thay đổi một số nội dung đã ký
trên hợp đồng.
• Giấy đề nghị mở L/C sẽ được lập tối thiểu là hai bản. Sau khi ngân hàng
ký nhận, đóng dấu gửi trả lại cho đơn vị một bản.
• Giấy đề nghị mở L/C là cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề tranh chấp giữa
người mở L/C với ngân hàng mở L/C và là cơ sở để ngân hàng mở L/C
soạn thảo L/C gửi cho bên xuất khẩu.
Khi lập giấy đề nghị mở L/C gửi cho ngân hàng, đơn vị nhập khẩu còn phải gửi
kèm theo các chứng từ sau:
Giấy đăng ký mã số thuế, mã số xuất nhập khẩu
báo thứ nhất (là ngân hàng có quan hệ đại lý với ngân hàng mở L/C) rồi ngân
hàng thơng báo thứ nhất mới chuyển tiếp đến ngân hàng thơng báo thứ hai là ngân
hàng X để ngân hàng X thơng báo trực tiếp cho người thụ hưởng. Trường hợp này
ngân hàng X chỉ cần kiểm tra chữ ký của ngân hàng thứ nhất và người thụ hưởng
phải chịu hai lần phí thơng báo từ hai ngân hàng.
1.2.2. Quy trình thanh tóan L/C
Quy trình thanh tóan L/C băt đầu từ bước 4 trở đi bao gồm các khâu chính đó là
giao hàng, lập bộ chứng từ của đơn vị xuất khẩu và kiểm tra bộ chứng từ, thanh
tóan của ngân hàng mở L/C. Quy trình thanh tốn L/C có thể chia ra thành hai
trường hợp : Thanh tóan tại ngân hàng mở L/C (sơ đồ số 1.2.2a) và thanh tóan tại
ngân hàng chỉ định (sơ đồ số 1.2.2b)
Sơ đồ 1.2.2a: Quy trình thanh toán L/C tại Ngân hàng mở L/C
10
NH
mở L/C
NK XK
NH
thương lượng
(7) Thanh toán
(9) Thanh
toán và nhận
bộ chứng từ
(8) Thanh
toán
(4) Hàng hoá
6) Telex và bộ chứng từ
(5) Bộ
chứng từ
L/C
Sơ đồ 1.2.2b: Quy trình thanh toán L/C tại Ngân hàng chỉ đònh trên L/C.
(8) Thanh toán
(9) Thanh
toán và nhận
bộ chứng từ
(6) Thanh
toán
chiết
khấu
(4) Hàng hoá
(7) Bộ chứng từ
(5) Bộ
chứng từ
L/C
ngang có xác nhận (confirmed irrevocable L/C), thư tín dụng chuyển nhượng
(transferable L/C) . . . Mỗi lọai có tính chất sử dụng khác nhau. Hiện nay lọai L/C
không thể hủy ngang và lọai có xác nhận hay được sử dụng.
Ngày và địa điểm hết hiệu lực : Tất cả L/C đều quy định nơi và ngày cuối cùng có
hiệu lực cho việc xuất trình chứng từ để thanh tóan. Đơn vị xuất khẩu cần phải
nghiên cứu thời hạn hịêu lực của L/C xem có đủ thời gian để thực hiện các khâu
chuẩn bị hàng hóa, giao hàng và xuất trình bộ chứng từ thanh tóan. Thông thường
thời hạn hiệu lực của L/C phải ít nhất là sau ngày giao hàng 10-15 ngày và địa
điểm hết hiệu lực tại nước người xuất khẩu.
Trị giá L/C : Thông thường thì trị giá L/C bằng giá hàng (CIF, FOB …) nhân với
số lượng hay trọng lượng hàng hóa. Nếu là hàng hóa cân theo trọng lượng (không
phải là bao kiện) thì thường quy định thêm dung sai +/- 5% trọng lượng hàng
họăc +/- 5% trị giá L/C.
Điều kiện giao hàng : Hàng hóa được phép giao từng phần hay không, chuyển tải,
cho phép hay không cho phép, hàng hóa phải được giao trên boong tàu (on deck)
hay trên khoang tàu (on board) hay chở trần (in bulk). Ngay cả khi L/C không cho
phép chuyển tải, ngân hàng sẽ chấp nhận vận đơn ghi rõ chuyển tải trong chừng
có gì sai biệt với L/C hay không
Sau khi kiểm tra thì tùy vào tình trạng cụ thể của bộ chứng từ mà ngân hàng giải
quyết. Nếu bộ chứng từ không có sai sót thì xem xét tới điều kiện trả tiền của L/C
là trả ngay (available by payment) hay thương lượng (available by negotiation),
L/C cho phép đòi tiền bằng điện hay không cho phép đòi tiền bằng điện. Nếu bộ
chứng từ có sai sót thì tất cả những sai sót đó thuộc lọai có thể sửa chữa được hay
không thể sửa chữa được. Tùy từng trường hợp mà ngân hàng của bên xuât khẩu
gửi bộ chứng từ đi đòi tiền với những chỉ thị phù hợp.
1.2.2.4. Bước 7
Ngân hàng mở L/C nhận được bộ chứng từ thanh tóan do ngân hàng bên xuât
khẩu gửi tới, tiến hành kiểm tra đối chiếu với những điều khỏan quy định trong
L/C nếu thấy phù hợp thì ngân hàng mở L/C sẽ thanh tóan cho bên xuất khẩu theo
lệnh của ngân hàng bên xuất khẩu.
Trường hợp mua hàng trả chậm thì ngân hàng mở L/C nếu đồng ý thanh toán sẽ
gửi điện chấp nhận thanh tóan vào ngày đáo hạn cho ngân hàng bên xuất khẩu và
đồng thời gửi hối phiếu cho đơn vị nhập khẩu để ký chấp nhận hối phiếu.
1.2.2.5. Bước 8
Nhận được điện báo có về khỏan thanh tóan bộ chứng từ hàng xuất khẩu, ngân
hàng bên xuất khẩu sẽ báo có vào tài khỏan cho đơn vị xuất khẩu hoặc thông báo
là hối phiếu có kỳ hạn đã được ngân hàng mở L/C chấp thuận thanh tóan.
13
1.2.2.6. Bước 9
Ngân hàng mở L/C yêu cầu đơn vị nhập khẩu thanh tóan tiền hàng và chuyển
chứng từ cho đơn vị nhập khẩu.
Nếu đơn vị nhập khẩu từ chối thanh tóan thì tùy từng trường hợp mà ngân hàng mở
L/C sẽ giải quyết. Cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp này là giấy đề nghị mở
thư tín dụng đơn vị nhập khẩu gửi cho ngân hàng khi yêu cầu mở thư tín dụng.
1.3. Các lọai thư tín dụng thương mại
Trong buôn bán quốc tế có rất nhiều lọai thư tín dụng khác nhau sau đây là một số
lọai thư tín dụng thường gặp trong thanh tóan quốc tế.
được áp dụng trong trường hợp hai bên xuất khẩu và nhập có quan hệ thường xuyên
và đối tượng thanh tóan không thay đổi. Khi áp dụng L/C tuần hòan, tổ chức nhập
khẩu có lợi ở hai điểm lớn : không bị đọng vốn, giảm được phí tổn do việc mở L/C.
Thư tín dụng tuần hòan được chia làm hai lọai :
• Lọai L/C tuần hòan có tích lũy : là loại L/C cho phép chuyển kim ngạch L/C
trước vào L/C sau và cứ như vậy cho đến L/C cuối cùng. Điều đó có nghĩa là
trong thời gian hiệu lực của L/C, tổ chức xuất khẩu vì lý do kỹ thuật nào đó
mà không thực hiện được đủ số lượng, giá trị trên L/C thì qua L/C kế tiếp đơn
vị xuất khẩu có thể tiếp tục giao hàng kể cả phần số lượng trên L/C trước
chưa thực hiện chuyển qua (cummulative revolving L/C)
• Lọai L/C tuần hòan không tích lũy : là lọai L/C tuần hòan không cho phép
chuyển số dư của L/C trước vào L/C sau (non cumulative revolving L/C)
Ngòai ra L/C tuần hòan có thể chia làm ba cách tuần hòan :
• L/C tuần hòan tự động : có nghĩa là L/C trước hết thời hạn thì L/C sau tự động
(đương nhiên) có giá trị, mà không cần sự thông báo của ngân hàng mở L/C.
• L/C tuần hòan không tự động : có nghĩa là L/C tuần hòan sau muốn có giá trị
phải có sự thông báo của ngân hàng mở L/C
• L/C tuần hòan bán tự động : có nghĩa là nếu sau ngày kể từ ngày L/C trước
hết thời hạn hiệu lực hoặc đã sử dụng hết kim ngạch L/C mà không có ý kiến
thông báo nào của ngân hàng mở L/C thì đương nhiên L/C sau đó có giá trị
hiệu lực.
1.3.5. Thư tín dụng giáp lưng (back to back letter of credit)
Là lọai thư tín dụng không thể hủy ngang được mở ra căn cứ vào một L/C khác làm
đảm bảo. Theo L/C này đơn vị xuất khẩu căn cứ vào thư tín dụng của người nhập
khẩu mở yêu cầu ngân hàng mở một thư tín dụng cho đơn vị xuất khẩu khác hưởng.
Thư tín dụng giáp lưng thường được sử dụng trong những trường hợp :
15
o L/C gốc (master L/C) không cho phép chuyển nhượng
o Khi các chứng từ cần có theo L/C gốc không trùng hợp với các chứng từ của
L/C thứ hai.
hại cho đơn vị nhập khẩu. Lọai thư tín dụng này cũng có thể quy định thực hiện theo
UCP600 hoặc ISP98.
1.3.10. Thư tín dụng có thể chuyển nhượng được
Là lọai L/C không thể hủy ngang trong đó quy định quyền được chuyển nhượng một
phần hay tòan bộ giá trị L/C cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi
đầu tiên. Tuy nhiên việc chuyển nhượng chỉ được tiến hành một lần. Do đó không thể
chuyển nhượng tiếp cho người hưởng lợi thứ ba, thứ tư . . . nào nữa. Trong trường hợp
người thứ hai không giao hàng hoặc không giao đúng hàng hay chứng từ không hòan
hảo thì người hưởng lợi thứ nhất phải chịu trách nhiệm về phía bên xuất khẩu theo hợp
đồng đã ký. Chi phí chuyển nhượng do người hưởng lợi thứ nhất thanh toán. L/C này
được sử dụng khi mua hàng qua các đại lý, mua hàng qua trung gian, hàng do các công
ty con hay chi nhánh giao nhưng công ty mẹ là người hưởng lợi.
Mục đích của L/C này nhằm giúp cho nhà xuất khẩu tiến hành các dịch vụ xuất khẩu
mà không cần đến vốn của mình. Chẳng hạn một nhà xuất khẩu không đủ tiền mua
hàng hóa từ nhà cung cấp để bán lô hàng đó cho người mua cuối cùng là nhà nhập
khẩu, nhà xuất khẩu sẽ yêu cầu người nhập khẩu thông qua ngân hàng của mình phát
hành một L/C có thể chuyển nhượng được. Sau đó người xuất khẩu yêu cầu ngân
hàng thông báo chuyển nhượng tòan bộ L/C này cho người cung cấp hàng hóa theo
các cách sau:
o Người hưởng lợi thứ nhất có thể chỉ thị cho Ngân hàng thông báo không tiết
lộ cho người thứ hai tên người mua cuối cùng
o Người hưởng lợi thứ nhất có thể làm thay đổi một số điều khỏan nhất định
của thư tín dụng: như giảm số tiền thư tín dụng, hoặc thay đổi ngày giao hàng
và ngày hiệu lực . .. Trong cách này ngân hàng thông báo hành động như một
ngân hàng mở .
o Cuối cùng khi nhà cung cấp xuất trình chứng từ quy định tới ngân hàng để
lấy tiền, nhà xuất khẩu có quyền xuất trình hối phiếu và hóa đơn của mình
thay thế hóa đơn và hối phiếu của nhà cung cấp để đòi khỏan chênh lệch.
1.4. Các quy định quốc tế áp dụng trong phương thức tín dụng chứng từ
thanh tóan do có sự khác biệt khi xuất trình lần đầu tiên.
• Bản phụ trương UCP600 về việc xuất trình chứng từ điện tử. Bản diễn giải số
1.1 năm 2007 (eUCP-2002)
Do trình độ công nghệ hiện đại hóa ngày càng cao nên việc xuất trình chứng từ
điện tử ngày càng nhịều. Chính vì vậy ICC đã nghiên cứu và đưa ra quy định
chung cho việc xuất trình chứng từ bằng điện tử. Bản phụ trương này có 12 điều
và có một số quy định khác biệt với UCP
18
• Quy tắc thống nhất về hòan trả tiền giữa các ngân hàng theo thư tín dụng
(URR525-1996)
Quy tắc thống nhất về hòan trả tiền giữa các ngân hàng theo thư tín dụng
URR525 được áp dụng cho các giao dịch hòan trả giữa các ngân hàng. Quy tắc
này ràng buộc các bên tham gia trừ khi có sự thỏa thuận rõ ràng khác trong Ủy
quyền hòan trả. Ngân hàng phát hành L/C có trách nhiệm quy định trong thư tín
dụng là : ‘yêu cầu hòan trả tuân thủ theo URR525’. Trong việc hòan trả tiền giữa
các ngân hàng tuân thủ quy tắc này, ngân hàng hòan trả hành động theo chỉ thị
hoặc theo sự ủy quyền của ngân hàng phát hành. Quy tắc này không lọai bỏ hoặc
thay đổi các điều khỏan của UCP.
• Tập quán Thư tín dụng dự phòng (ISP98)
Tập quán thư tín dụng dự phòng chỉ dùng cho lọai thư tín dụng dự phòng và
thường áp dụng ở thị trường Mỹ còn UCP thì áp dụng được cho cả thư tín dụng
thương mại và thư tín dụng dự phòng. Khi áp dụng ISP98 người ta thường quy
định vào trong L/C dự phòng đó là áp dụng theo ISP98 và luật New york.
1.5. Lịch sử hình thành UCP và tính tất yếu của việc ra đời của UCP600
UCP là viết tắt của “The Uniform Custom and Practice for Documentary Credits”
(Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ). Bản UCP đầu tiên được ICC
(Phòng thương mại quốc tế) phát hành từ năm 1933 với mục đích khắc phục các xung
đột về luật điều chỉnh tín dụng chứng từ giữa các quốc gia bằng việc xây dựng một
bản quy tắc thống nhất cho hoạt động tín dụng chứng từ. Theo đánh giá của các
chuyên gia, UCP là bản quy tắc (thông lệ quốc tế) tư nhân thành công nhất trong lĩnh
Carlo Di Ninni, cố vấn hiệp hội ngân hàng Italia tại Rome, nhóm tư vấn đã đưa ra
những góp ý rất có giá trị cho nhóm sọan thảo trước khi đệ trình dự thảo lên các Ủy
ban quốc gia của ICC.
Nhóm sọan thảo bắt đầu quá trình rà sóat bằng việc phân tích những ý kiến chính thức
của Ủy ban Ngân hàng đối với UCP500. Khỏang 500 ý kiến đã được xem xét để đánh
giá xem khi giải quyết các vấn đề phát sinh sẽ cần phải sửa đổi, bổ sung hay xóa điều
khỏan nào trong UCP.
Trong suốt 3 năm nghiên cứu, các Ủy ban của ICC đã lựa chọn ra được một văn bản
phù hợp nhất không chỉ dừng lại ở thực tiễn đang diễn ra có liên quan đến tín dụng
chứng từ mà còn cân nhắc cả những xu hướng phát triển của nó trong tương lai.
Những thay đổi có tính phát triển của UCP600:
- Thay đổi dựa trên việc kết hợp các vấn đề giải quyết tranh cãi do: ICC Opinion
đưa ra, do DOCDEX giải quyết và do tòa án giải quyết
- Giữ nguyên sự độc lập tồn tại của : URR525, ISP98, eUCP và ISBP
20
UCP600 ra đời, một trong những thay đổi trong cấu trúc của UCP600 là đưa vào các điều
khỏan về định nghĩa (điều 2) và giải thích (điều 3). Khi đưa ra định nghĩa về vai trò của
ngân hàng và ý nghĩa của các thuật ngữ và sự kiện cụ thể, UCP600 không nhắc lại lời văn
mô tả cách giải thích và áp dụng. Tương tự, điều khỏan giải thích nhằm lọai bỏ sự mập
mờ hoặc không rõ ràng trong ngôn ngữ thường xuất hiện trong thư tín dụng và đưa ra sự
giải thích dứt khóat các đặc trưng của UCP hoặc thư tín dụng.
1.6. Những khác biệt của UCP600 với UCP500 và một số hạn chế
Điều 1 : Áp dụng UCP600
UCP600 đã chỉ ra “UCP600 sẽ được áp dụng nếu nội dung của L/C chỉ ra rõ ràng
là dẫn chiếu đến quy tắc này” thay đổi so với UCP500 nói rằng “UCP500 sẽ áp
dụng khi các điều khỏan này là các bộ phận cấu thành của L/C”.
“Các quy tắc này ràng buộc tất cả các bên trừ khi tín dụng lọai trừ hoặc sửa đổi
một cách rõ ràng “ thay cho “Các quy tắc này ràng buộc tất cả các bên tham gia
trừ khi có sự quy định khác rõ ràng trong tín dụng”.
Bất cập khi sử dụng : UCP 600 chưa nêu được mối quan hệ giữa UCP với các quy
cách xác nhận chứng từ”, các thuật ngữ về thời gian “ngay lập tức”, “càng sớm
càng tốt” , điều kiện chi nhánh tham gia vào tín dụng . ..
Ngòai ra còn có các giải thích mới : thư tín dụng là không thể hủy ngang dù
không có đề cập đến , khái niệm về ngân hàng độc lập khác với điều 2 UCP 500 ,
cho phép dùng các thuật ngữ “hạng nhất”, “nổi tiếng” . . . để chỉ tư cách người
phát hành chứng từ và áp dụng cho bất kỳ người phát hành nào trừ người thụ
hưởng (khác với điều 20 của UCP500)
Việc giải thích các từ “vào khỏang ” “vào ngày” khác với điều 46c UCP500.
Điều 4 : Tín dụng và hợp đồng
Tương thích với điều 3 của UCP 500
UCP600 không khuyến khích người yêu cầu mở L/C đưa các văn bản của hợp
đồng cơ sở, hóa đơn chiếu lệ . . . như một bộ phận cấu thành của tín dụng thư .
Quan điểm : một tín dụng thư sau khi ra đời là hòan tòan độc lập với hợp đồng cơ
sở. Tuy nhiên tùy từng trường hợp cụ thể việc phát hành vẫn cần thiết phát hành
một thư tín dụng hỗn hợp vừa gửi bằng điện (swift) vừa gửi bằng thư ví dụ như
trong L/C sẽ có câu: “ contract will be sent nextly and will be incorporated in to
the text of credit” .
Bất cập khi sử dụng : Nếu một L/C quy định rằng : “Mô tả hàng hóa giống như
hóa đơn chiếu lệ sẽ được gửi kèm theo sau như là một phần của L/C”. Trong
22
trường hợp nhận được một L/C như trên thì chứng từ khi xuất trình cũng phải
phù hợp với điều kiện của hóa đơn chiếu lệ.
Điều 5 : Chứng từ và hàng hóa, dịch vụ hoặc thực hiện
Tương thích với điều 4 của UCP 500
UCP500 quy định “các bên liên quan chỉ căn cứ vào chứng từ . .. “ còn UCP600
thay “ các bên liên quan” thành “các ngân hàng”.
Điều 6 : Thanh toán, ngày hết hạn và nơi xuất trình
Tương thích với điều 9, 10, 42 của UCP 500
Điều 9a, b (iv) UCP 500 quy định “ một hối phiếu nếu ký phát cho người yêu cầu
mở L/C thì coi như là chứng từ phụ” còn UCP600 sửa lại “ không được ký phát
Tương thích với điều 9(d) của UCP 500
Khi nhận được thông báo chấp nhận hay từ chối sửa đổi , ngân hàng thông báo
phải thông báo cho ngân hàng yêu cầu sửa đổi. Việc quy định thời gian cho việc
chấp nhận hay từ chối sửa đổi là không được xem xét đến.
Bất cập khi sử dụng : UCP600 quy định người thụ hưởng phải thông báo việc
chấp nhận hay từ chối sửa đổi, nhưng không quy định ngân hàng phát hành hay
ngân hàng xác nhận có phải thông báo xác nhận sửa đổi hay không?
Điều 11 : Tín dụng và sửa đổi được sơ báo và chuyển bằng điện
Tương thích với điều 11 của UCP 500.
Điểm mới là quy định khi sử dụng ngân hàng nào thông báo L/C thì cũng phải sử
dụng ngân hàng đó thông báo tu chỉnh.
Điều 12 : Chỉ định
Tương thích với điều 10(c)(d) của UCP 500.
Ngòai việc quy định những chỉ định về thanh tóan, thương lượng thanh tóan,
UCP600 còn quy định thêm chỉ định về tiếp nhận chứng từ, chuyển chứng từ và
kiểm tra chứng từ.. Việc tiếp nhận, kiểm tra , chuyển chứng từ không tạo ra nghĩa
vụ thanh tóan và thương lượng thanh tóan.
Điều 13 : Thỏa thuận hòan trả tiền giữa các ngân hàng
Tương thích với điều 19 của UCP 500.
Điểm mới là đưa ra quy tắc lựa chọn áp dụng quy tắc hòan trả URR, nếu muốn áp
dụng quy tắc URR hiện hành thì phải ghi rõ trong thư tín dụng. Ủy quyền hòan trả
không phụ thuộc vào hiệu lực của tín dụng thư.
Điều 14 : Tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ
Tương thích với điều 13, 21, 22, 23, 31, 37, 43 của UCP 500.
Điểm mới là quy định lại thời hạn kiểm tra chứng từ tối đa là 5 ngày làm việc
ngân hàng. Thời hạn kiểm tra không thể rút ngắn hoặc không bị ảnh hưởng bởi
24
các sự cố trong hoặc sau ngày xuất trình rơi đúng vào ngày hết hạn hay ngày xuất
trình chậm nhất. Thời hạn xuất trình chứng từ vận tải là 21 ngày dương lịch sau
ngày giao hàng quy định.
25