Bài tập học kì Dân sự 2
Bài làm
Lời mở đầu
Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải tham gia nhiều
mối quan hệ xã hội khác nhau. Trong đó, việc thiết lập với nhau những quan hệ
để thông qua đó chuyển giao cho nhau những lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu
vầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng một vai trò to lớn là một tất yếu đối với đời sống
xã hội. Quan hệ trao đổi lợi ích vật chất đó được gọi là hợp đồng. Để thiết lập
một hợp đồng và để nó có hiệu lực cần phải có những quy định nhất định của
pháp luật. Tuy nhiên, có nhiều hợp đồng bị tuyên vô hiệu do các bên không am
hiểu về các điều kiện đó, hoặc do một bên không hiểu biết nên bị bên kia lừa dối,
hoặc do nhầm lẫn... Do vậy, cần phải tìm hiểu về cá điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng để có thể xem xét và thiết lập một hợp đồng không trái với pháp luật và
mang lại hiệu quả cao nhất cho bản thân. Trong khuôn khổ bài tập lớn, em xin
trình bày quan điểm của mình về vấn đề :”Các điều kiện có hiệu lực có hiệu lực
của hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành – Một số
vấn đề lí luận và thực tiến”
Nội dung
I.
Một số vấn đề lí luận chung về điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng dân sự
1.
Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng dân sự
1.1.
Khái niệm
Trong quá trình sản xuất cũng như trong cuốc sống hàng ngày, không thể thiếu
là sự kiện pháp lý – giao dịch dân sự nhằm mục đích xác lập, thay đổi, chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự; là chính quan hệ pháp luật phát sinh từ sự kiện pháp lý
– giao dịch dân sư đó; là hình thức ghi nhận quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên
dưới dạng văn bản. Tuy nhiên, không phải lúc nào hợp đồng dân sự cũng được
thể hiện dưới dạng văn bản.
1.2.
2|Page
Đặc điểm của hợp đồng dân sự
Bài tập học kì Dân sự 2
Hợp đồng dân sự có các đặc điểm cơ bản sau:
-
Hợp đồng dân sự có sự thỏa thuận của các bên
Khi nói đến hợp đồng bao giờ cũng nói đến sự thỏa thuận ít nhất của hai bên
( bên bán tài sản và bên mua tài sản, bên thuê tài sản và bên cho thuê tài
sản…). Hợp đồng là giao dịch dân sự, nhưng không phải mọi giao dịch dân sự
đều là hợp đồng bởi lẽ “giao dịch dân sự có thể là hợp đồng hoặc hành vi
pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi chấm dứt quyền , nghĩa vụ dân
sự” (Điều 121 BLDS), mỗi bên của giao dịch dân sự có thể là một hoặc nhiều
bên, có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác.
Hợp đồng được tạo lập là do sự hợp tác của hai hay nhiều bên, giữa các bên
có sự thỏa thuận, sự thỏa thuận này đủ đê lập nên hợp đồng. Sự thỏa thuận
đó không cần phải theo bất cứ một công thức nào nhưng để có sự thỏa thuận
thì các bên phải thể hiện ý chí của mình ra bên ngoài dưới một hình thức
nhất định làm cho bên kia có thể nhận biết được.
Khái niệm , ý nghĩa pháp lí của điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
dân sự
2.1.
Khái niệm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự
Pháp luật coi trọng việc tự do thỏa thuận giữa các bên. Tuy nhiên, sự tự do ấy
phải trong khuôn khổ của pháp luật. Tức là, giới hạn sự tự do ý chí của các
chủ thể khi giao kết hợp đồng bao giờ cũng được đặt ra trong mối liên hệ với
lợi ích của người khác, lợi ích của xã hội và trật tự cộng đồng. Nếu để các bên
tự do vô hạn thì hợp đồng đó không khác gì công cụ bóc lột cuả người giàu
với người nghèo, kẻ mạnh chà đạp kẻ yếu, lợi ích chung của xã hội bị coi
thường. Nếu các hợp đồng chỉ dựa trên ý chỉ của cá nhân thì hợp đồng đó đã
thoát khỏi sự điều chỉnh của pháp luật. Vì thế, một hợp đồng chỉ có giá trị
pháp lí, được pháp luật coi trọng và bảo vệ khi ý chí của các bên phù hợp với
ý chí của nhà nước. Những giới hạn nhất định cho quyền tự do ý chí cuẩ các
bên chủ thể được gọi là những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự.
Theo Từ điển Luật học, “điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự là các yếu
tố cần và đủ được pháp luật quy định cho giao dịch dân sự để giao dịch dân
sự đó được pháp luật công nhận và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các
bên”.
4|Page
Bài tập học kì Dân sự 2
Theo quy định tại điều 122 BLDS về Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân
sự thì “ Để giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau:
Người tham gia giao dịch có năng lực trách nhiệm hành vi dân sự
Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật,
Việc quy định này tạo hành lang pháp lí an toàn cho các chủ thể
tham gia hợp đồng. Khi các bên tham gia hợp đồng có quyền tự do, tự
nguyện tham gia hợp đồng nhưng sự tự do đó ở trong khuôn khổ pháp
luật. Pháp luật quy định rõ nếu các bên trong hợp đồng không tuân thủ
các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì chế tài đối với hành vi đó là hợp
đồng đó bị vô hiệu, các bên tham gia sẽ phải chịu hậu quả bất lợi cho
mình. Quy định này của pháp luật đã tạo ra hành lang pháp lí an toàn cho
các bên tham gia giao kết hợp đồng dân sự, đồng thời bảo vệ quyền lợi
chính đáng của các bên trong hợp đồng.
Đây là cơ sở để giải quyết các tranh chấp trong hợp đồng dân sự.
Khi tham gia vào quan hệ hợp đồng dân sự, các bên chủ thể phải đáp ứng
những quyền và nghĩa vụ nhất định. Đặc biệt, sự thỏa thuận của các bên
sẽ ghi trong hợp đồng, do đó, nếu bên nào vi phạm thì dựa vào hợp đồng
để giải quyết. Hợp đồng là căn cứ pháp lí quan trọng và cơ bản để giải
quyết các tranh chấp đó. Ngoài ra, quy định của pháp luật về điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng cũng là một căn cứ pháp lí không thể thiếu trong
quá trình giải quyết tranh chấp. Bởi lẽ bên cạnh sự thỏa thuận thì pháp
luật cũng quy định những điều khoản cần thiết để bảo vệ lợi ích hợp pháp
của các bên liên quan. Ví dụ như trong hợp hợp đồng được giao kết do bị
ép buộc thì hợp đồng đó sẽ bị tuyên vô hiệu, và quyền lợi của người bị ép
buộc xác lập hợp đồng đó được bảo vệ.
Việc quy định này cũng góp phần ổn định quan hệ dân sự nói riêng
và quan hệ pháp luật nói chung. Các quy định về điều kiện có hiệu lực của
hợp đồng là cơ sở pháp lí buộc các chủ thể tham gia hợp đồng phải thực
hiện, từ đó có thể hạn chế được tình trạng áp đặt, mỗi hợp đồng lại có
những quy định khác nhau tùy nghi theo các chủ thể khác nhau. Lúc đó, sẽ
6|Page
-
Chủ thể cá nhân
Đây là chủ thể phổ biến và thường xuyên nhất của các giao dịch dân sự, đặc
biệt là hợp đồng dân sự. Theo quy định tại Điều 17 BLDS 2005 thì :” năng lực
7|Page
Bài tập học kì Dân sự 2
hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình
xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.”. Và tại khoản 1 Điều 122 BLDS
cũng có quy định điều kiện của giao dịch dân sự là phải có sự tự nguyện của
cá nhân. Quy định này là hết sức cần thiết bởi lẽ bản chất của hợp đồng là sự
thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của các chủ thể khi tham gia hợp đồng. Luật
Dân sự Việt Nam quy định mỗi cá nhân ở mỗi độ tuổi khác nhau sẽ có năng
lực hành vi dân sự khác nhau và có khả năng tham gia xác lập và thực hiện
những hợp đồng khác nhau. Quy định này giống với Luật pháp của các nước
nhưng khác về độ tuổi. Ở BLDS Việt Nam thì người đủ mười tám tuổi trở lên
là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (Điều 18, Điều 19 BLDS) trừ
những trường hợp quy định tại Điều 22 BLDS. Còn theo quy định của các
nước Thái Lan, Nhật Bản thì độ tuổi có năng lực hành vi dân sự dầy đủ là 20
tuổi.
Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có toàn quyền tham gia xác lập
một hợp đồng dân sự nào đó và họ phải tự chịu trách nhiệm về hợp đồng mà
mình đã xác lập. Những người này có đầy đủ tư cách chủ thể, toàn quyền
tham gia vào quan hệ dân sự với tư cách là chủ thể độc lập và tự chịu trách
nhiệm về những hành vi do họ thực hiện. Những người từ đủ mười tám tuổi
trở lên được suy đoán là người có năng lực hành vi đầy đủ. Họ chỉ bị mất
được thực hiện những giao dịch phù hợp với lứa tuổi. Ví dụ như hợp đồng
vay tiền tại ngân hàng thì chủ thể phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên.
Đối với người dưới 6 tuổi, họ là người chưa có năng lực hành vi dân sự do đó
mọi giao kết hợp đồng đều phải thông qua người đại diện.
Đối với người mất năng lực hành vi thì mọi hợp đồng dân sự của những
người này đều phải do người đại diện xác lập. Còn đối với người bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự thì các hợp đồng dân sự liên quan đến tài sản của họ
phải có sự đồng ý của người đại diện, trừ những hợp đồng nhằm phục vụ nhu
cầu sinh hoạt hàng ngày. Tuy nhiên, nhu cầu sinh hoạt hằng ngày ở đây
9|Page
Bài tập học kì Dân sự 2
không được hiểu là nhu cầu mua rượu uống đối với người nghiện rượu, hay
nhu cầu mua ma túy đối với người nghiện ma túy.
Đối với cá nhân là người nước ngoài , theo quy định tại Điều 762 BLDS
thì :”năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định
theo pháp luật của nước mà người đó là công dân, trừ trường hợp pháp luật
của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác
Trong trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự
tại Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài được xác lập
theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
-
Chủ thể là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác
Pháp nhân là chủ thể của hợp đồng dân sự. Pháp nhân là những tổ chức theo
quy định tại Điều 84 BLDS:” được thành lập hợp pháp, có cơ cấu chặt chẽ, có
tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đây là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự. Nhà nước tham gia vào
một số quan hệ dân sự , Nhà nước nắm quyền định đoạt đối với các tài sản mà
pháp luật quy định thuộc chế độ sở hữu toàn dân. Nhà nước giao quyền của
mình cho các cơ quan nhà nước thực hiện quyền quản lí các tài sản, giao cho các
tổ chức thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tài sản của
nhà nước, quy định về trình tự, giới hạn thực hiện các quyền đó.
1.2.
Điều kiện về mục đích và nội dung của hợp đồng dân sự
Mục đích của hợp đồng dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt
được khi xác lập giao dịch đó. Nội dung của hợp đồng dân sự là tổng hợp các
điều khoản mà các bên đã cam kết, thỏa thuân trong hợp đồng. Những điều
khoản này xác định quyền, nghĩa vụ của các bên phát sinh từ giao dịch. Mục đích
và nội dung của hợp đồng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Con người xác lập, thực
hiện hợp đồng dân sự luôn nhằm được mục đích nhất định. Muốn đạt được mục
11 | P a g e
Bài tập học kì Dân sự 2
đích đó thì họ phải cam kết, thỏa thuận với nhau về nội dung, những nội dung ấy
để đạt được mục đích của hợp đồng.
Tại điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS có quy định “mục đích và nội dung của giao
dịch không vi phạm điều cấm và không trái với đạo đức xã hội”. Để hợp đồng
dân sự có hiệu lực thì mục đích và nội dung của hợp đồng không được vi phạm
điều cấm của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội. Điều cấm của pháp
nguyện là vi phạm pháp luật. Do vậy, hợp đồng dân sự thiếu đi sự tự nguyện thì
không làm phát sinh hậu quả pháp lí. Hợp đồng thỏa mãn sự tự nguyện là khi
các chủ thể tự nguyện xác lập, lựa chọn hình thức, đối tượng của hợp đồng, các
điều khoản nội dung của hợp đồng là kết quả của sự thống nhất ý chí của các
bên mà không có bất kì sự đe dọa cướng é, nhầm lẫn, giả tạo nào.
Các trường hợp thiếu sự tự nguyện:
-
Giao kết Hợp đồng dân sự do bị giả tạo
Đặc điểm của hợp đồng này là các bên trong hợp đồng đó hoàn toàn tự nguyện
xác lập, nhưng lại cố ý bày tỏ ý chí không đúng với ý chí thực của họ. Ví dụ như
bên mua muốn mua nhà của bên bán để ở, nhưng bên bán lại muốn bán căn nhà
đó với mục đích để tẩu tán tài sản.
Có hai trường hợp giả tạo. Thứ nhất là xác lập một hợp đồng dân sự để che giấu
một hợp đồng khác. Ví dụ như giao kết hợp đồng tặng cho để che giấu hợp đồng
gửi giữ. Thứ hai là hợp đồng giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ
ba. Ví dụ như các bên giao kết hợp đồng tặng cho, nhưng thực chất hợp đồng
tặng cho đó là để trốn tránh nghĩa vụ của hợp đồng vay…
-
Giao kết Hợp đồng dân sự do nhầm lẫn
Đây là việc các bên hình dung sai về nội dung của hợp đồng mà tham gia vào
giao dịch gây thiệt hại cho mình hoặc bên kia. Sự nhầm lẫn này xuất phát từ
nhận thức của các bên hoặc phán đoán sai lầm về đối tượng sự việc, sự nhầm
lẫn phải được thể hiện rõ ràng mà căn cứ vào nội dung hợp đồng phải xác định
được. Có nhiều trường hợp nhầm lẫn khác nhau. Do đó, cần phải xác định để có
thể biết hợp đồng có vô hiệu hay không
-
Điều kiện về hình thức
Hình thức của hợp đồng là phương tiện thể hiện nội dung của hợp đồng.
Thông qua phương tiện này bên đối tác cũng như người thứ ba có thể biết
được nội dung của hợp đồng đã xác lập. Hình thức của hợp đồng có ý nghĩa
hết sức quan trọng trong tố tung dân sự. Nó là chứng cứ để xác nhận quan hệ
đã, đang tồn tại giữa các bên, qua đó xác định trách nhiệm dân sự khi có vi
phạm xảy ra.
14 | P a g e
Bài tập học kì Dân sự 2
Hợp đồng dân sự có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng hành vi, bằng văn
bản cụ thể. Người xác lập hợp đồng có quyền lựa chọn hình thức của hợp
đồng trừ một số trường hợp pháp luật có quy định khác buộc các bên trong
hợp đồng phải tuân thủ điều kiện về hình thức.
Theo quy định tại Điều 401 BLDS thì “hợp đồng dân sự có thể được giao kết
bằng lời nói, bằng văn bản hoặc hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định
đối với loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.
Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng
văn bản có công chứng hoặc chứng thực thì phải đăng kí hoặc phải xin phép
thì phải tuân theo các quy định đó”
-
Hình thức miệng
Đây là hình thức phổ biến nhất trong xã hội hiện nay, mặc dù hình thức giao
của hợp đồng phải xem xét cả bốn điều kiện và còn phải căn cứ vào từng hợp
đồng cụ thể, chứ không thể chỉ dựa vào Điều 122 BLDs để quy hợp đồng dân
sự có hiệu lực hay vô hiệu được.
2.
Các hậu quả pháp lí của việc không tuân thủ các điều kiện có hiệu
lực của hợp đồng dân sự
Pháp luật đã quy định các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự, đồng
nghĩa với đó là các hợp đồng không tuân thủ điều kiện có hiệu lực đó thì nó
sẽ bị vô hiệu, không có hiệu lực.
Hậu quả chung của việc không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng là hợp đồng đó sẽ chấm dứt việc thực hiện hợp đồng., khi hợp đồng bị
vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên từ khi thời điểm
giao kết, về nguyên tắc các bên khắc phục lại tình trạng ban đầu.
Trong trường hợp có biện pháp bảo đảm thì sẽ xử lí theo quy định tại Nghị
định 163/2006/ NĐ-CP về giao dịch bảo đảm :”
1. Hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị vô hiệu mà các bên chưa thực hiện
hợp đồng đó thì giao dịch bảo đảm chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần
16 | P a g e
Bài tập học kì Dân sự 2
hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm
không chấm dứt, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2. Giao dịch bảo đảm vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ
được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
3. Hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị huỷ bỏ hoặc đơn phương chấm dứt
thực hiện mà các bên chưa thực hiện hợp đồng đó thì giao dịch bảo đảm
Thực tế áp dụng pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của
hợp đồng dân sự, một số ý kiến hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
1.
Quy định về năng lực hành vi của người tham gia hợp đồng dân sự.
Bộ Luật Dân sự quy định người từ đủ mười tám tuổi trở lên mới có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ. Tức là không cần phải thông qua người đại diện. Tuy
nhiên, trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam thì lại có quy định là nữ từ
18 tuổi trở lên có quyền kết hôn. Tức là khi người phụ nữ kết hôn ở tuổi mười
tám thì họ chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, tức là việc giao kết hợp
đồng dân sự của họ phải thông qua người đại diện. Điều này là không phù
hợp với thực tế và như vậy là không công bằng đối với người phụ nữ. Thực tế
đã có rất nhiều trường hợp xảy ra trong thực tế khi người vợ tham gia một
hợp đồng dân sự nào đó vì lợi ích của gia đình nhưng người chồng lại buộc
Tòa án tuyền vô hiệu vì không đồng ý và với lí do là vợ mình chưa đủ mười
tám tuổi. Như vậy, giữa hai quy định pháp luật này có sự không thống nhất
với nhau. Việc này sẽ gây ra nhiều tranh cãi và không thuận tình giữa các
thành viên trong gia đình. Đây là một vướng mắc lớn của Bộ luật Dân sự.
Theo ý kiến cá nhân, để có thể giải quyết vướng mắc trên, nên thay đổi một
chút về năng lực hành vi dân sự của cá nhân. Bộ luật Dân sự nên thêm quy
định riêng đối với phụ nữ bước sang tuổi 18 khi kết hôn cũng được
xem là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Như vậy, quy định của
pháp luật về vấn đề này sẽ hoàn thiện hơn và phù hợp với thực tế hơn.
2.
18 | P a g e
Quy định về điều kiện ý chí chủ thể
Bài tập học kì Dân sự 2
danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha mẹ, vợ chồng, con
của mình”. Quy định như vậy không phù hợp. Bởi lẽ so với phạm vi những
người thân thích như trong BLDs năm 1995 thì phạm vi những người được
bảo vệ trong BLDS năm 2005 đã hạn hẹp hơn rất nhiều. Nếu một người đe
dọa gây hại đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, uy tín, nhân phẩm của anh
ruột, chị ruột, em ruột hay của vợ sắp cưới hay chồng sắp cưới để buộc mình
phải giao kết hợp đồng thì hợp đồng đó cũng không bị tuyên vô hiệu. Như vậy
là không phù hợp và không bảo vệ được lợi ích chính đáng của những người
có quyền và nghĩa vụ liên quan.
Do đó, theo ý kiến cá nhân thì nên giữ nguyên phạm vi những người thân
thích như trong BLDS năm 1995.
Trong việc giao kết hợp đồng do bị lừa dối, Điều 132 BLDS chỉ quy định về
hành vi cố ý của một người hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia
hiểu sai về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân
sự nên đã xác lập giao dịch đó. Tức là trong trường hợp người này làm người
kia hiểu sai về mục đích của hợp đồng thì cũng không bị coi là vô hiệu?? Đó là
một bất cập của BLDS, thực tế có rất nhiều người vì mục đích muốn người
khác giao kết hợp đồng với mình mà đã làm trái đi mục đích của hợp đồng. Ví
dụ như trường hợp một chương trình nghệ thuật nhỏ có thu vé, họ kí hợp
đồng biểu diễn với mục đích thu vé là để lấy tiền đó quyên góp cho một quỹ từ
thiện nào đó, nhưng thực tế thì toàn bộ số tiền vé thu được ấy không hề được
quyên góp cho một quỹ từ thiện nào cả. Người xem đến rất đông vì họ nghĩ là
đây là chương trình nhằm quyên góp từ thiện. Như vậy, rõ ràng đây là
trường hợp bị lừa dối về mục đích, nhưng lại không bị tuyên là vô hiệu do
pháp luật không có quy định nào về vấn đề này.
Trên đây là một số suy nghĩ về thực tế áp dụng của BLDS 2005 về điệu kiện có
hiệu lực của hợp đồng. BLDS cần phải điều chỉnh một số điều khoản cho phù hợp