Các điều kiệncó hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành– Một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 34

LỜI NÓI ĐẦU
Từ xa xưa, hợp đồng dân sự vốn đã là một phương thức cơ bản để xác định các
chủ thể thực hiện việc lưu thông và trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Trong nền kinh tế
hàng hóa và sự giao lưu kinh tế trên phạm vi toàn thế giới thì hợp đồng dân sự càng
có một vai trò quan trọng. Một hợp đồng dân sự chỉ có giá trị bắt buộc thi hành đối
với các bên khi có hiệu lực pháp luật. Hợp đồng dân sự để có hiệu lực cần có những
điều kiện nhất định, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là tổng hợp những yêu cầu
pháp lí nhằm đảm bảo cho hợp đồng được lập đúng bản chất đích thực của nó. Các
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng góp phần nâng cao ý thức cuả các chủ thể tham
gia vào quan hệ hợp đồng, giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong quá
trình giao kết, thực hiện hợp đồng cũng như bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham
gia vào quan hệ hợp đồng và tạo nên sự bình đẳng trong giao lưu dân sự. Tuy nhiên
trên thực tế các vấn đề về điều kiện vẫn chưa được tuân thủ chặt chẽ nên có nhiều
tranh chấp giữa các bên trong giao kết hợp đồng mà có liên quan đến điều kiện của
hợp đồng. Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề em xin chọn đề tài: “Các điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
– Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”

NỘI DUNG
1. Khái quát về hợp đồng dân sự
1.1 Khái niệm và đặc điểm hợp đồng dân sự.
a. Khái niệm
Ở nước ta, hợp đồng dân sự được định nghĩa tại Điều 388 bộ luật Dân sự năm
2005 như sau : “ Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Xét về bản chất, hợp đồng được tạo ra bởi sự thỏa thuận của các bên, là kết quả,
của quá trình thương thảo và thống nhất ý chí giữa các bên để phát sinh, thay đổi,
chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đối với nhau, trừ những quyền và nghĩa vụ mà pháp
luật có quy định là không thể thay đổi hoặc chấm dứt bằng thỏa thuận của các bên.
Xét về vị trí vai trò của hợp đồng, theo nghĩa hẹp, thì hợp đồng là một loại giao dịch
dân sự, là một căn cứ pháp lí làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân

hoặc của một trong các bên thì hợp đồng có thể bị coi là vô hiệu và không làm phát
sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia hợp đồng.
Thứ hai hợp đồng dân sự là căn cứ làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt quyền
và nghĩa vụ dân sự
Các bên chủ thể khi thiết lập hợp đồng bao giờ cũng hướng tới một hậu quả pháp
lí nhất định. Hậu quả ấy có thể nhằm phát sinh , hay cũng có thể thay đổi, chấm dứt
một quan hệ pháp luật về nghĩa vụ, ( nghĩa vụ theo hợp đồng) để qua đó các bên thực


hiện, thực hiện khác như đã thỏa thuận ban đầu hoặc không thực hiện những nghĩa vụ
đã cam kết với nhau về việc đem lại cho nhau những lợi ích nhất định.
Tuy nhiên hợp đồng dân sự chỉ có hiệu lực pháp luật khi mà ý chí của các bên
phai phù hợp với ý chí của nhà nước. Theo nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự
thì các chủ thể được “ tự do, tự nguyện, cam kết thỏa thuận” nhưng sự tự do đó phải
được đặt trong giới hạn bởi lợi ích của nhà nước, lợi ích xã hội và lợi ích chính đáng
của người khác.
Thứ ba hợp đồng dân sự phải có ít nhất 2 bên chủ thể.
Chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự phải có ít nhất từ hai bên trở lên, vì
hợp đồng dân sự là một giao dịch pháp lý song phương hay đa phương. Các chủ thể
khi giao kết, thực hiện hợp đồng đều phải có tư cách chủ thể tức là phải đáp ứng các
điều kiện theo quy định của pháp luật đối với một chủ thể của quan hệ dân sự (ví dụ:
nếu chủ thể là cá nhân thì phải đáp ứng được các yêu cầu về năng lực pháp luật, năng
lực hành vi dân sự…
Như vậy một hợp đồng dân sự luôn luôn có các đặc điểm trên và để nhận biết và
phân biệt với các hợp đồng khác như hợp đồng thương mại, hợp đồng kinh tế.
1.2 Khái niệm, ý nghĩa pháp lí của điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân
sự.
a) Khái niệm của điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự
Tuy không có khái niệm cụ thể về khái niệm có hiệu lực của hợp đồng dân sự
nhưng từ điển luật học có đưa ra khái niệm về điều kiện có hiệu lực của của giao dịch

phải tuân theo những quy định của pháp luật thì mới có thể có giá trị pháp lí và trở
thành căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự. Vì vậy các điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng dân sự có ý nghĩa pháp lí.
- Tạo hành lang pháp lí an toàn cho các chủ thể khi tham gia giao kết
Pháp luật quy định về các điều kiện để các chủ thể tham gia hợp đồng phải tuân
theo đồng thời quy định biện pháp chế tài nếu các bên tham gia không tuân thủ các
điều kiện để hợp đồng có hiệu lực thì hợp đồng dân sự có thể bị vô hiệu, các bên phải
chịu hậu quả pháp luật bất lợi. Quy định này tạo hành lang pháp lí an toàn cho các
chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự. Vì thế chế định pháp lí về hợp đồng dân sự,
trong đó có các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng đóng vai trò là công
cụ pháp lí quan trọng bảo đảm an toàn cho các chủ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu trong
sinh hoạt tiêu dùng của họ. Bên cạnh đó còn góp phần nâng cao ý thức của các chủ
thể khi tham gia vào các quan hệ hợp đồng, bởi lẽ họ ý thức được hậu quả pháp lí bất
lợi của việc không tuân thủ các điều kiện do pháp luật quy định để bảo vệ cho chính
mình và cho người khác.


- Là cơ sở pháp lí để giải quyết các tranh chấp xảy ra
Ngày nay việc tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng xảy ra rất nhiều, vì thế
khi quy định về điều kiện của hợp đồng là một căn cứ pháp lí phát sinh không thể
thiếu trong quá trình giải quyết các tranh chấp phát sinh. Bởi lẽ bên cạnh những
chứng cứ trực tiếp là những thỏa thuận của các bên pháp luật cũng có những quy
định cần thiết để bảo vệ lợi ích của các bên tham gia.
- Góp phần ổn định quan hệ dân sự nói riêng và quan hệ xã hội nói chung
Các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng có ý nghĩa quan trọng để
cho các chủ thể khi tham gia quan hệ hợp đồng nghiêm túc thực hiện, tránh không
vi phạm các quy định của nhà nước. Nếu một trong các bên tham gia mà vi phạm
các quy định đó thì hợp đồng sẽ bị vô hiệu và phải chịu hậu quả pháp lí bất lợi cho
chính họ, bên có lỗi sẽ phải bồi thường. Điều này có ý nghĩa khắc phục những thiệt
hại do bên vi phạm gây ra cho những bên bị vi phạm, đồng thời còn tạo lên sự công

hợp đồng có hiệu lực thì người tham gia hợp đồng dân sự phải có năng lực hành vi
dân sự. Như vậy điều kiện đặt ra với một cá nhân khi tham gia vào quan hệ hợp đồng
phải có năng lực hành vi dân sự. Điều 17 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định : “ Năng
lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng cá nhân bằng hành vi của mình xác lập,
thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự”. Dựa vào sự phù hợp giữa khả năng nhận thức,
kiểm soát, làm chủ hành vi với các hành vi mà cá nhân thực hiện thì năng lực hành vi
dân sự của cá nhân được xác định theo nhiều mức độ khác nhau như: người có năng
lực hành vi dân sự đầy đủ, người có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ, người
không có năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành vi và người bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự.
Đối với người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 18 và 19
Bộ luật Dân sự năm 2005 là người đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên và có năng
lực dân sự đầy đủ trừ trường hợp bị tòa án tuyên bố bị mất năng lực hành vi dân sự
hoặc bị tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự. Người có năng lực hành vi dân sự
đầy đủ có toàn quyền tham gia vào mọi giao dịch dân sự để xác định cho mình hoặc
cho người đại diện các quyền và nghĩa vụ dân sự cũng đồng thời phải gánh chịu mọi
trách nhiệm và nghĩa vụ phát sinh từ hành vi pháp lí mà họ thực hiện. Tuy nhiên
không phải cứ có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì có thể tham gia mọi hợp đồng
dân sự mà pháp luật có quy định hạn chế quyền tự định đoạt của những người có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi tham gia vào một số quan hệ hợp đồng nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện như: bán trao đổi, cho thuê,
cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và các giao dịch khác đối với tài sản có
giá trị lớn của người được giám hộ mà không được sự đồng ý của người giám sát việc


giám hộ. Những giao dịch không nằm trong phạm vi thẩm quyền đại diện của người
đại diện. Bên cạnh đó người có năng lực hành vi dân sự có thể ủy quyền cho người
đại diện cho mình tham gia quan hệ hợp đồng trừ trường hợp pháp luật quy định họ
phải tự mình xác lập thực hiện hợp đồng đó.
Người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi là những người đã có một phần năng lực

nhiên nhà nước ta cũng quy định các cá nhân là người nước ngoài ( cả người không
có quốc tịch và người có quốc tịch nước ngoài) cũng là chủ thể của hợp đồng dân sự.
Theo quy định tại Điều 762 BLDS năm 2005 trong trường hợp người nước ngoài xác
lập thực hiện các giao dịch tại Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự của người đó
được xác định theo quy định của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam.
Trong thực tiễn pháp luật Việt Nam các tranh chấp về hợp đồng về mặt chủ thể
là không nhiều, ví dụ như bản án số 01/2006/DSST ngày 21 tháng 2 năm 2006 của
Tòa án nhân dân huyện VC tỉnh Yên Bái, Tòa đã tuyên hợp đồng chuyển quyền sử
dụng đất giữa anh Th và ông C là vô hiệu do ông C là người mất năng lực trách
nhiệm và năng lực hành vi dân sự. Hợp đồng chuyển nhượng này đã kí kết với một
chủ thể không đủ điều kiện về năng lực hành vi dân sự mà không có sự tham gia của
người đại diện (Bản án số 08 – luật hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận bản án)
Vì vậy với các hợp đồng mà được kí kết do chủ thể không đáp ứng được các quy định
về điều kiện chủ thể thì sẽ bị tuyên bố vô hiệu và sẽ được áp dụng xử lí khi hợp đồng
vô hiệu
b) Đối với chủ thể là pháp nhân
Pháp nhân là chủ thể của hợp đồng dân sự. Điều 84 BLDS quy định một tổ chức
được thừa nhận là pháp nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự với tư cách
là một chủ thể độc lập thì phải có các điều kiện: được thành lập hợp pháp, có cơ cấu
tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm
bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Các pháp nhân là chủ thể đầy đủ của quan hệ pháp luạt dân sự, có năng lực chủ thể
mang tính chuyên biệt, được tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch phù hợp với
mục đích và phạm vi hoạt động của pháp nhân. Mục đích và phạm vi hoạt động của
pháp nhân được thể hiện trong điều lệ, hoặc quyết định thành lập của pháp nhân
(Điều 88 BLDS ).
Pháp nhân khi tham gia vào giao kết hợp đồng dân sự phải thông qua hành vi
của người đại diện. Đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật có thể
đại diện theo ủy quyền ( khoản 1 Điều 91 BLDS). Đại diện theo pháp luật của pháp

đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của tổ hợp tác theo các lĩnh vực mà tổ hợp tác
đã xác định trong hợp đồng hợp tác. Người đại diện theo ủy quyền của tổ hợp tác là
thành viên của tổ hợp tác được tổ trưởng tổ hợp tác ủy quyền, người này đại diện cho


tổ hợp tác để tham gia các hợp đồng dân sự trong phạm vi đã được tổ trưởng tổ hợp
tác ủy quyền.
Đối với hộ gia đình tham gia các hợp đồng dân sự thông qua hành vi của người
đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền. Người đại diện theo pháp luật của hộ gia
đình là chủ hộ gia đình đó. Người đại diện theo ủy quyền của hộ gia đình là thành
viên đã thành niên của hộ gia đình đó được chủ hộ ủy quyền.
Như vậy, để có thể xác lập, thực hiện các hợp đồng, chủ thể là cá nhân phải có
năng lực hành vi dân sự thích ứng với loại giao dịch hoặc loại hợp đồng mà chủ thể
đó tham gia. Pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập, thực hiện hợp đồng thông
qua người đại diện hợp pháp, nhưng phải đúng “ phạm vi đại diện” và phải phù hợp
với giới hạn về “lĩnh vực hoạt động” của các chủ thể.
2.2 Nội dung mục đích của hợp đồng không bị vi phạm điều cấm của pháp
luật, không trái đạo đức xã hội
BLDS năm 2005 thừa nhận nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận ( Điều 4).
Nhưng để bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích của công cộng, quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác BLDS năm 2005 cũng quy đinh một số trường hợp hạn chế
quyền tự do của các bên trong việc thiết lập hợp đồng. Theo đó, nội dung và mục
đích của hợp đồng ( giao dịch dân sự) “ không được vi phạm điều cấm của pháp luật
và không trái đạo đức xã hội ( điểm b khoản 1 điều 122), hợp đồng ( giao dịch dân
sự) “ có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì
vô hiệu ( Điều 128)
Nội dung của hợp đồng là tổng hợp quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham
gia hợp đồng được thể hiện trong các điều khoản của hợp đồng. Mục đích của giao
dịch dân sự ( hay hợp đồng) là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi
xác lập giao dịch đó ( Điều 123)

đích từ hợp đồng đó.
Tự nguyện được hiểu là sự phù hợp, thống nhất giữa mong muốn bên trong với
sự bày tỏ mong muốn đó ra bên ngoài bằng một hình thức nhất định. Vì vậy, tự
nguyện trong tham gia hợp đồng được hiểu là sự phù hợp giữa mong muốn của một
người với việc họ tham gia một hợp đồng nhất định. Trong những trường hợp một
người không muốn tham gia một hợp đồng nhưng họ buộc phải tham gia hợp đồng đó
hoặc muốn tham gia hợp đồng với nội dung này nhưng buộc phải chấp nhận những
nội dung khác vì những lí do nhất định làm cho họ không xử sự khác được thì hợp
đồng đó sẽ bị coi là thiếu sự tự nguyện của người tham gia hợp đồng.
Trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp từ hợp đồng dân sự việc xác định như
thế nào thì bị coi là hợp đồng được giao kết không có sự tự nguyện của người tham
gia giao kết hợp đồng là việc hết sức khó khăn. Vì vậy, về nguyên tắc khi hợp đồng
đã được giao kết thì được coi là có sự tự nguyện giữa các bên. Người nào cho rằng


hợp đồng đó không có sự tự nguyện trong giao kết thì phải chứng minh rằng hợp
đồng đó được giao kết trong các trường hợp cụ thể như là:
- Thứ nhất, hợp đồng giao kết một cách giả tạo:
Là hợp đồng được các bên giao kết một cách hình thức không nhằm làm phát
sinh các quyền nghĩa vụ dân sự giữa các bên mà chỉ nhằm che giấu một hợp đồng có
thực khác hoặc nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với người thứ ba. Trên thực tiễn
Việt Nam có nhiều trường hợp do là giả tạo nên bị vô hiệu Ví dụ: trong Bản án số
1701/2005/DS-PT của TAND Tp. Hồ Chí Minh ngày 08/8/2005: bị đơn có ký hợp
đồng thuê nhà của nguyên đơn, thời hạn là 05 năm, giá thuê là 20.000.000
đồng/tháng. “Sau khi hợp đồng ký kết, theo yêu cầu của nguyên đơn, đôi bên đã ký
kết hợp đồng mượn nhà tại Phòng công chứng nhằm mục đích để bên cho thuê được
lợi khi nộp thuế cho Nhà nước…” Hợp đồng này bị tòa tuyên là vô hiệu. Hay Ví dụ:
trong Quyết định giám đốc thẩm số 06/2006/KDTM-GĐT ngày 06/7/2006 về vụ án
“Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”: Bị đơn mua mè vàng từ người thứ ba,
nhưng do người thứ ba không có tư cách pháp nhân để xuất hóa đơn giá trị gia tăng.

qui định tại Điều 131 BLDS 2005
Như vậy, sự tự nguyện giao kết hợp đồng là yếu tố cơ bản để các bên xác lập
quan hệ hợp đồng vì bản chất của hợp đồng vốn la sự thống nhất ý chí của các bên
thông qua sự thỏa thuận tự do và tự nguyện. Vì thế, hợp đồng xác lập thiếu yếu tố tự
nguyện thì có thể bị vô hiệu hoặc đương nhiên vô hiệu.
2.4 Sự tuân thủ về hình thức của hợp đồng.
Hình thức là một yếu tố pháp lí quan trọng của hợp đồng, có quan hệ biện chứng
với bản chất, nội dung, giá trị hiệu lực, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, và là
phương tiện diễn đạt ý chí của các bên, cũng như để chứng minh sự tồn tại của hợp
đồng. Người ta sẽ không biết đến sự tồn tại của hợp đồng, nếu nó không được thể
hiện dưới một hình thức xác định. Hình thức của hợp đồng là sự biểu hiện ra bên
ngoài của nội dung hợp đồng, gồm tổng hợp các cách thức, thủ tục, phương tiện để
thể hiện và công bố ý chí của các bên, ghi nhận nội dung hợp đồng và là biểu hiện
cho sự tồn tại của hợp đồng.
Theo quy định tại của BLDS năm 2005, hợp đồng có thể được lập bằng một
trong 3 hình thức là : lời nói, văn bản hoặc một hành vi cụ thể (khoản 1 Điều 124 và
khoản 1 Điều 401) trừ những trường hợp pháp luật có quy định hình thức bắt buộc thì
phải tuân theo hình thức đó (khoản 2 Điều 124 và khoản 2 Điều 401).
a. Hình thức bằng lời nói.
Hợp đồng bằng lời nói là những hợp đồng được giao kết dưới hình thức ngôn
ngữ nói , bằng lời hay còn gọi là hợp đồng miệng. Theo đó, các bên giao kết hợp


đồng trao đổi với nhau bằng lời nói trực tiếp hoặc thông qua điện thoại, điện đàm, gửi
thông điệp điện tử bằng âm thanh tiếng nói …. Để diễn đạt tư tưởng và ý muốn của
mình trong việc xác lập, giao kết hợp đồng.
Trừ những loại hợp đồng pháp luật quy định hình thức bắt buộc, các hợp đồng
đều có thẻ được xác lập bằng lời nói. Tuy vậy, để tránh trường hợp các bên liên quan
phủ nhận sự tồn tại của hợp đồng, chỉ nên sử dụng hình thức hợp đồng bằng lời nói
để giao kết các hợp đồng có giá trị không lớn, với những người thân quen có sự tin

được thể hiện bằng một hành động thuần túy.
Thông thường, hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể được sử dụng khi bên
thực hiện hành vi giao kết hợp đồng đã biết rõ nội dung của hợp đồng và chấp nhận
tất cả các điều kiện mà bên kia đưa ra, và bên kia không loại trừ việc trả lời bằng
hành vi, hoặc không đưa ra một yêu cầu rõ ràng về hình thức của sự trả lời chấp nhận.
Hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể được thể hiện ra bên ngoài khá đa
dạng. Hành vi cụ thể thường được sử dụng để xác lập các hợp đồng thông dụng, được
thực hiện ngay, và trở thành thói quen phổ biến của lĩnh vực hoạt động liên quan, tại
nơi giao dịch được xác lập. Ví dụ: hành vi mua báo hay mua vé số của người bán
“dạo” hay mua hàng của người bán hàng “rong”, hành vi mua hàng trong các quán ăn
tự phục vụ, với món ăn tự chọn được làm sẵn… Trong những trường hợp này, bên có
hành vi xác lập hợp đồng đã hiểu rõ nội dung và các điều kiện của hợp đồng, còn bên
kia cũng chấp nhận cách thức giao dịch bằng hành vi cụ thể đó.
Hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể cũng được sử dụng phổ biến trong các
hoạt động dịch vụ dành cho số đông đại chúng mà bên cung cấp dịch vụ đã có qui chế
hoạt động rõ ràng đã được công bố, hoặc giữa các bên đã có sự thỏa thuận về việc
một bên chấp nhận hành vi cụ thể của bên kia như là một hình thức giao kết, thực
hiện hợp đồng theo những qui ước, những điều kiện về pháp lý và kỹ thuật mà các
bên đã cam kết chấp nhận. Ví dụ: hành vi lựa chọn hàng hóa và thanh toán tiền khi
mua hàng tại siêu thị, hay mua hàng qua máy bán hàng tự động, mua vé trên xe buýt
bằng máy bán vé tự động, gọi điện thoại công cộng thanh toán bằng thẻ..
Một trong những ảnh hưởng quan trọng của hình thức đối với hiệu lực hợp đồng
là việc xem hình thức hợp đồng là một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng,
nếu pháp luật có qui định( khoản 2 Điều 122 BLDS). Theo đó, hình thức không phải
là điều kiện có hiệu lực đương nhiên của hợp đồng, mà chỉ là điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng khi pháp luật qui định. Trong trường hợp đó, để được coi là hợp đồng
hợp pháp và phát sinh hiệu lực, thì hợp đồng phải được lập tuân thủ các điều kiện luật
định, trong đó phải tuân thủ đúng qui định về hình thức hợp đồng.





hiệu, tòa án buộc ông vợ chồng ông B phải trả lại căn nhà; ngược lại, vợ chồng ông
A có nghĩa vụ trả lại cho vợ chồng ông B tiền bán căn nhà đã nhận.
Như vậy, hình thức của hợp đồng trong trường hợp này là một trong những yếu
tố pháp lý quyết định hiệu lực của hợp đồng.
Tóm lại các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng có 2 nhóm là điều kiện bắt buộc
phải có với bất cứ hợp đồng nào đó là người tham gia hợp đồng phải có năng lực
hành vi dân sự; mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của
pháp luật và không trái đạo đức của xã hội; người tham gia hợp đồng dân sự phải
hoàn toàn tự nguyện và điều kiện trong một số trường hợp cụ thể thì mối cần điều
kiện này đó là tuân thủ điều kiện về hình thức của hợp đồng trong trường hợp pháp
luật quy định.
3. Thực trạng áp dụng pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và
các giải pháp để hoàn thiện.
Trên đây là các điều kiện mà pháp luật Việt Nam quy định để hợp đồng có hiệu
lực về mặt pháp lí. Tuy nhiên trong thực tiễn với việc áp dụng các quy định này thì
thấy còn có nhiều điều bất hợp lí và là vách ngăn cho sự phát triển chế định hợp đồng
trong pháp luật Việt Nam.
Thứ nhất về năng lực của chủ thể tham gia giao kết và xác lập hợp đồng
Điều 130 BLDS 2005 qui định trường hợp người xác lập giao dịch dân sự là
“người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện” mà “theo quy định của pháp luật giao dịch này
phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện” thì có thể vô hiệu. Như vậy, điều
luật này mới chỉ dừng lại ở qui định mang tính chất một chiều là bảo vệ những người
kể trên nhưng chưa tính đến các trường hợp cũng cần phải bảo vệ người tham gia xác
lập, thực hiện hợp đồng với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nhưng không biết và không buộc phải
biết đối tác là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự.

người mà khi muốn xác định là rất khó khăn. Nhiều trường hợp khi rõ ràng người ta
không tự nguyện do sự ép buộc nhưng dưới dạng không hành động không thể
chứng minh được như ảnh hưởng của sự cạnh tranh thị trường lẫn nhau hay sự ảnh
hưởng của cấp trên với cấp dưới mà dẫn đến việc khi xác định là thiếu yếu tố tự
nguyện là rất khó. Vì thế trong các tranh chấp về sự tự nguyện để giải quyết được là
rất khó khăn.


Vì vậy luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng về mặt sự tự nguyện của các
bên chủ thể cần quy định rõ ràng hơn nữa cần xác định một tiêu chí để trong từng
trường hợp cụ thể có thể xác định đâu là tự nguyện và đâu là thiếu sự tự nguyện
trong giao kết hợp đồng.
Thứ tư đó là về điều kiện về hình thức của hợp đồng.
Quy định về hình thức hợp đồng vẫn còn nhiều điểm thiếu sót, chưa nhất quán,
chưa đảm bảo lô gíc pháp lý giữa các điều luật liên quan.Vấn đề hình thức hợp
đồng được qui định tại các Điều 122, 124, 401 BLDS 2005. Các qui định có
những điểm bất cập cần phải được làm rõ.
Qui định tại khoản 2 Điều 122 BLDS chỉ những trường hợp pháp luật có qui
định’, mà không dự liệu khả năng khi các bên có thỏa thuận lựa chọn hình thức hợp
đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Trên thực tế, đối với các loại hợp đồng
pháp luật không qui định hình thức bắt buộc, thì các bên cũng có quyền thỏa thuận
hình thức là một điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Ví dụ: các bên có thể thỏa
thuận hợp đồng đặt cọc mua bán nhà, hoặc hợp đồng mua bán kim cương… phải
được lập bằng văn bản theo thủ tục công chứng thì mới có hiệu lực, mặc dù pháp
luật không qui định bắt buộc các hợp đồng kể trên phải được lập bằng văn bản có
công chứng.
Vì vậy hình thức của hợp đồng có thể là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
trong trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có qui định. Bởi vậy, cần bổ
sung vào qui định tại Điều 401 về khả năng hình thức là điều kiện có hiệu lực của
hợp đồng khi các bên có thỏa thuận.

thức kể trên”.
Sửa đổi, bổ sung qui định tại khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự 2005: Trong
trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định hợp đồng phải
được thể hiện bằng hình thức nhất định thì hợp đồng phải được giao kết theo
đúng hình thức đó
Bỏ đoạn 2 khoản 2 Điều 401 và bổ sung qui định hình thức là điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có qui định.
Đó là một số bất cập và một số giải pháp về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
để chế định về hợp đồng trong luật Việt Nam được nâng cao hơn và bên cạnh đó là
nâng cao hiệu quả pháp lí, để đảm bảo cho các chủ thể giao kết hợp đồng có lợi ích
nhất định.

KẾT LUẬN
Tóm lại điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là tổng hợp những yêu cầu pháp lý
nhằm đảm bảo cho hợp đồng được lập đúng bản chất đích thực của nó. Đây là
những điều kiện cần và cũng là tiền đề pháp lý nhằm đảm bảo cho hợp đồng được


xác lập hợp pháp và có hiệu lực ràng buộc đối với các bên. Theo pháp luật Việt
Nam hiện hành thì có bốn điều kiện để một hợp đồng có hiệu lực, khi hợp đồng
không tuân thủ các điều kiện này thì hợp đồng có thể bị vo hiệu không thực hiện
được. Tuy nhiên các điều luật về vấn đề này trong pháp luật Việt Nam còn có nhiều
bất cập, các nhà làm luật cần hoàn thiện hơn nữa về chế định này để cho luật hợp
đồng của chúng ta đầy đủ và rõ ràng hơn nữa để đúng là hành lang pháp lí an toàn
cho các bên khi giao kết hợp đồng dân sự.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. Trường Đại học Luật Hà Nội,Giáo trình luật Dân sự Việt Nam, Tập 2,
Nxb.CAND, Hà Nội, 2009


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status