TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
-----o0o-----
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Đề tài:
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ
VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM THAM GIA
HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG – TPP
Sinh viên thực hiện
Mã sinh viên
Lớp
Giáo viên hướng dẫn
: Đinh Hồng Giang
: 11130845
: Quản trị kinh doanh thương mại 55A
: Trần Đức Hạnh
HÀ NỘI - 2016
MỤC LỤC
Chia thành 3 phân khúc nhỏ:...................................................................................................33
1
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
BẢNG:
Nam dường như vẫn chưa đi được bao xa so với điểm xuất phát. Thực tế này
đã khiến Chính phủ cùng với các cơ quan Bộ ngành liên quan, các doanh
nghiệp trong ngành cùng vào cuộc nhằm xem xét lại một cách chi tiết và
khách quan những thành quả đã đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại,
để từ đó có cơ sở vạch ra một chiến lược cụ thể cho việc phát triển ngành. Bởi
lúc này đây, khi đất nước đang dần phát triển bằng việc ký kết các hiệp định
thương mại quốc tế, chúng ta phải ý thức được tính cấp thiết và bức bách cần
phải xây dựng và phát triển một ngành công nghiệp ô tô thực sự của riêng
Việt Nam. Chính vì thế, tôi đã chọn đề tài "Giải pháp phát triển ngành
công nghiệp ô tô Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam tham gia Hiệp định
đối tác xuyên Thái Bình Dương - TPP" với hi vọng góp phần cùng tìm hiểu
thực trạng phát triển của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đồng thời nghiên
cứu con đường đi tới tương lai của ngành công nghiệp này.
Mục đích nghiên cứu của đề tài: tìm hiểu thực trạng của ngành công
ngiệp ô tô Việt Nam, phân tích những thuận lợi, khó khăn tồn tại cũng như
những cơ hội và thách thức đối với việc xây dựng và phát triển ngành trong
4
thời gian đất nước ký kết Hiệp định TPP nhằm giúp những người trong và
ngoài ngành hiểu sâu sắc hơn về tầm quan trọng của ngành công nghiệp này,
từ đó có cái nhìn đúng đắn hơn về hiện tại và cả tương lai của ngành nhằm
khuyến khích sự đóng góp của mỗi cá nhân, tổ chức cho sự phát triển của
ngành công nghiệp cực kỳ quan trọng này trong quá trình công nghiệp hóa và
hiện đại hoá nước nhà.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của đề tài này
là các vấn đề liên quan đến ngành công nghiệp ô tô và các nội dung của
Hiệp định TPP, thực trạng phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh sự phát triển của ngành
tiến nó về cả hình thức lẫn chất lượng: từ những chiếc xe thuở ban đầu thô sơ,
cồng kềnh và xấu xí ngày càng trở nên gọn nhẹ và sang trọng hơn. Không lâu
sau, ô tô trở nên phổ biến, với những ưu điểm nổi trội về tốc độ di chuyển
cao, cơ động, không tốn sức và vô số các tiện ích khác, ô tô trở thành phương
tiện hữu ích, không thể thiếu của người dân các nước phát triển và là một sản
phẩm công nghiệp có ý nghĩa kinh tế quan trọng ở tất cả các quốc gia trên thế
giới. Chính vì thế, theo lịch sử ngành công nghiệp ô tô thế giới, năm đầu tiên
của thế kỷ 20- năm 1901, toàn thế giới có 621 nhà máy sản xuất ô tô xe máy,
trong đó 112 nhà máy ở Vương quốc Anh, 11 nhà máy ở Italy, 35 nhà máy ở
6
Đức, 167 nhà máy ở Pháp, 215 nhà máy ở Mỹ và 11 nước khác. Tuy nhiên,
mốc thời gian đánh dấu sự ra đời chính thức của ngành công nghiệp ô tô phải
kể đến năm 1910 khi ông Henry Ford- Người sáng lập ra tập đoàn Ford Motor
nổi tiếng, bắt đầu tổ chức sản xuất ô tô hàng loạt trên qui mô lớn. Vào những
năm 1930 của thế kỷ 20, trước chiến tranh thế giới thứ 2, ô tô đã có được
những tính năng kỹ thuật cơ bản. Cùng với những thành tựu khoa học kỹ
thuật thời đó, công nghiệp ô tô thế giới đã thực sự trở thành một ngành sản
xuất đầy sức mạnh với 3 trung tâm sản xuất chính Bắc Mỹ, Tây Âu (từ trước
chiến tranh thế giới thứ I) và Nhật Bản (trước chiến tranh thế giới thứ II). Hầu
hết các hãng sản xuất có tên tuổi trên thế giới như Ford, General Motor,
Toyota, Mercedes-Benz… đều ra đời trước hoặc trong thời kỳ này. Sau chiến
tranh thế giới thứ II, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại bùng nổ, ô tô
và công nghiệp ô tô cũng có những bước tiến vượt bậc. Những thành tựu khoa
học kỹ thuật được áp dụng như vật liệu mới, kỹ thuật điện tử, điều khiển học,
… đã làm thay đổi cơ bản, bản thân ô tô và ngành công nghiệp ô tô về mặt kỹ
thuật, khoa học công nghệ cũng như về quy mô kinh tế xã hội.
1.1.2. Quá trình phát triển của ngành công nghiệp ô tô
doanh số năm 1992 là 244 triệu FF.
Tại Mỹ có 3 hãng ô tô khổng lồ là GM, Ford, Chrysler và ngoài ra còn
có các hãng xe Nhật liên doanh như Navistar, US Honda, International,
Diamondster, Numi.
Nhật Bản nổi tiếng với các hãng ô tô lớn mạnh không ngừng như
Nissan, Toyota, Honda, Mitsubishi… Các hãng này đã vươn rộng ra các thị
trường thế giới và từng làm các hãng xe Mỹ và Tây Âu điêu đứng ngay trên
sân nhà của các hãng này.
Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế và xu thế toàn cầu
hóa, một số quốc gia, khu vực như Trung Quốc và ASEAN đã có những
thành tựu đáng kể trong tăng trưởng kinh tế cũng đã gia nhập ngành công
nghiệp ô tô thế giới. Hiện nay, hàng năm Trung Quốc sản xuất ra khoảng
1,2 triệu xe và các nước ASEAN đã góp tiếng nói của mình với sản lượng
8
gần 1 triệu xe mỗi năm.
Hiện nay, theo đánh giá, nhận xét của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô
thế giới, hãng General Motor được công nhận là hãng ô tô lớn nhất thế giới,
Ford chiếm vị trí thứ 2, vị trí thứ 3 thuộc về Toyota.
1.1.3. Ngành công nghiệp ô tô ở một số nước
1.1.3.1. Trung Quốc
Kết thúc năm 2009, Trung Quốc đã chính thức trở thành thị trường ô tô
lớn nhất thế giới, sau khi lần đầu tiên vượt Mỹ về tổng mức tiêu thụ năm.
Trung Quốc đã trở thành là điểm sáng của thị trường ô tô thế giới. Tiêu thụ xe
hơi tại Trung Quốc năm vừa qua đã tăng gần 50%. Theo số liệu của Hiệp hội
Các nhà sản xuất ô tô Trung Quốc, riêng lượng xe nội địa được tiêu thụ tại
quốc gia đông dân nhất thế giới trong vòng một năm qua đã đạt 13,6 triệu
chiếc. Trong khi đó, con số này tại Mỹ là 10,4 triệu xe (giảm 20% so với năm
đã được bảo hộ chặt chẽ. Nhưng qua bao nhiêu thăng trầm phát triển, kể cả
quá trình đại nhảy vọt, nước này chỉ có vài doanh nghiệp tạm gọi là lớn.
Nhưng với 2.500 công ty ô tô và linh kiện phụ trợ được nhà nước bảo hộ,
ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc có tổng doanh thu hàng năm chưa bằng
doanh số bán ra của một hãng xe trung bình tại Nhật, Mỹ hay châu Âu. Giữa
thập kỷ 80 của thế kỷ 20, chính phủ Trung Quốc thay đổi chính sách theo
hướng xóa bỏ những rào cản và có nhiều ưu đãi với nhà đầu tư nước ngoài.
Năm 1994, chính phủ Trung Quốc ban hành Chính sách phát triển công
nghiệp ô tô, lần đầu tiên xác nhận mối liờn hệ giữa xe hơi và gia đình, mở ra
thị trường phát triển rộng lớn cho xe hơi. Đây được coi là mốc lịch sử đáng
nhớ trong sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc. Hiện nay,
ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc đang nhận được sự ủng hộ về tài chính
và quản lý của nhà nước. họ đã mua thương hiệu xe Hummer của hãng
General Motors đầu năm 2009. Nhiều công ty ô tô Trung Quốc xác định
không chỉ bán ô tô cho người dân Trung Quốc mà còn xuất khẩu ra thị trường
nước ngoài, bao gồm cả Mỹ và Châu Âu. Trung Quốc cũng đầu tư mạnh vào
10
lĩnh vực sản xuất ắc quy để làm ô tô chạy điện, hãng BYD là nhà sản xuất ắc
quy Trung Quốc đã chuyển đổi thành công từ chế tạo ắc quy sang làm ô tô.
Các hãng xe nước ngoài đổ xô vào đây đầu tư và liên tiếp gặt hái thành công
ngoài mong đợi. Các hãng xe nội địa cũng ngày càng phát triển và khẳng định
vị thế riêng của mình tại thị trường ô tô đang tăng trưởng chóng mặt này.
Theo thời gian, ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc sẽ trở nên phổ biến và
gần với thực tế công nghiệp ô tô của Mỹ và Nhật Bản hiện tại. Ví dụ như
Nhật Bản, ba đến năm hãng lớn nhất, xuất khẩu nhiều ô tô nhất sẽ tồn tại trên
cơ sở hợp nhất với nhau và phấn đấu sản lượng 5 – 7 triệu chiếc mỗi năm.
Trung Quốc cũng đi theo cách này và sẽ tiếp tục mua lại các thương hiệu ô tô
4,5% của thế giới. Tuy nhiên, theo dự báo của các nhà kinh tế, sản xuất ô tô
có thể chiếm 10% GDP của Ấn Độ vào năm 2016.
Những chiếc xe hơi đầu tiên xuất hiện tại Ấn Độ từ năm 1898. Từ đó
đến nay, công nghiệp ô tô Ấn Độ đã trải qua nhiều bước phát triển thăng trầm.
Ban đầu, chính phủ quốc gia Nam Á này cũng tiến hành bảo hộ ô tô nội địa.
Kết quả là mọi sự đi vào bế tắc. Qua nhiều bước phát triển, đến những năm
2000, chính sách tự do hóa và sự hỗ trợ về thuế của chính phủ Ấn Độ, với
việc xóa bỏ nhiều rào cản đầu tư và thương mại, đã tạo điều kiện cho xe hơi
phát triển cả ở thị trường nội địa và xuất khẩu. Những chính sách mới đã biến
chiếc ô tô từ một mặt hàng sang trọng trở thành thứ hàng hóa phổ thông, với
sức tiêu thụ ngày càng tăng. Đây được coi là điểm đến lý tưởng của nhiều
hãng chế tạo xe hơi lớn trên thế giới. Nếu đến năm 2009, Trung Quốc đã vượt
Mỹ để trở thành thị trường ô tô lớn nhất thế giới, thì Ấn Độ đã trở thành thị
trường tiêu thụ ô tô cỡ nhỏ lớn nhất thế giới, tại Ấn Độ, cứ mỗi 5 chiếc ô tô
bán ra thỡ cú 4 chiếc là xe cỡ nhỏ - ô tô có dung tích động cơ dưới 1.2L.
Suzuki Ấn Độ đang dẫn đầu phân khúc này với thị phần 46%, tiếp đến là
Hyundai với 16,5% và Tata Motors với 14%. Tata Motors với hình ảnh chiếc
xe ô tô rẻ nhất thế giới Tata Nano “Xe của mọi người” với giá khoảng 3.000
12
USD đã gây chấn động thị trường xe thế giới. Chính Tata Nano đã làm nhiều
hãng đại gia ô tô phải đau đầu nếu muốn cạnh tranh tại Ấn Độ, cũng như các
quốc gia đang phát triển. Trong xu hướng khách mua ô tô trên toàn thế giới
chuyển hướng từ các loại xe ăn xăng sang ô tô cỡ nhỏ hơn, Ấn Độ hứa hẹn trở
thành trung tâm sản xuất ô tô cỡ nhỏ để xuất khẩu. Toyota đã thiết kế một
mẫu xe cỡ nhỏ cho thị trường Ấn Độ, dự kiến có mặt trên thị trường vào cuối
năm 2011, được sản xuất tại nhà máy của Toyota ở Bidadi, ngoại ô
Bangalore. Toyota dự kiến xuất khẩu mẫu xe này sang Nam Phi và một số thị
hướng đi đúng đắn đối với Ấn Độ, cùng với những chính sách hợp lý và sang
suốt của Chính phủ, thì trước mắt, có vẻ như không gì ngăn cản được Ấn Độ
trở thành trung tâm mới của ngành công nghiệp ô tô thế giới và Ấn Độ sẽ
nhanh chóng ghi tên mình vào vị trí cao trong bảng xếp hạng của ngành công
nghiệp này.
1.1.3.3. Malaysia
Sản xuất ô tô được coi là ngành chủ chốt cho sự nghiệp phát triển công
nghiệp theo kế hoạch tổng thể các ngành công nghiệp tại Malayxia. Tham gia
vào ngành này là hầu hết các tập đoàn kinh doanh lớn như: Petronas, PNB, Sime
Darby, Lion, Berjaya, DRB-HICOM, Tan Chong, Oriental... Khối lượng và thị
phần của các loại xe do các liên doanh này lắp ráp đang giảm dần đi do sự xuất
hiện của các loại xe mang nhãn hiệu quốc gia như Proton, Perodua và xe van
Inokom. Thị trường xe du lịch của Malayxia được xem lớn nhất so với các nước
Đông Nam Á. Để tạo đà phát triển bền vững cho ngành công nghiệp ô tô, Chính
phủ Malayxia đã đưa ra những chính sách ưu đãi đặc biệt về thuế quan nhằm
khuyến khích các nhà sản xuất thực hiện sâu rộng chương trình nội địa hoá,
“chiếc xe mang nhãn hiệu quốc gia” và định hình các biện pháp nhằm cơ cấu lại
ngành công nghiệp ô tô, tăng tính hiệu quả và cạnh tranh trong khu vực.
Từ năm 1985, chính phủ Malaysia đã đề ra một chính sách kiểm soát
gắt gao để bảo hộ sản xuất xe hơi trong nước với tham vọng nắm quyền kiểm
14
soát ngành công nghiệp xe hơi. Sau gần 2 thập kỷ thực hiện chính sách này,
Malaysia đã có cho riêng mình nhiều hãng xe, trong đó, đáng kể nhất là
những cái tên như Proton hay Perodua. Tuy nhiên, xe do Malaysia sản xuất
chỉ có thể tiêu thụ ở thị trường nội địa, với thị phần ngày càng sụt giảm.
Tương lai của các hãng xe Malaysia được nhìn thấy trước là hoặc phá sản,
hoặc phải chịu sát nhập vào một “đại gia” ô tô nào đó trên thế giới. Hiệu quả
cho thấy sự khó khăn cho các quốc gia có ngành CN ô tô chuyển hướng sang
sản xuất xe nhỏ - loại có khí xả ít hydrocarbon, giảm thiểu nguy cơ tăng
nhiệt độ trái đất. Chính phủ Thái Lan từ lâu đã dành ưu đãi đặc biệt cho xe
bán tải bởi vì các nhà hoạch định chính sách cho rằng đây là loại xe thích
hợp nhất cho Thái Lan, một nước có nền nông nghiệp lớn và thành công với
việc xuất khẩu gạo, cao su, trái cây. Nhưng do giá nhiên liệu tăng và giao
thông châu Á ngày một đông đúc chật chội, chính phủ Thái Lan đã khuyến
khích bằng các ưu đãi cho các nhà sản xuất các mẫu xe tiết kiệm nhiên liệu.
Vừa qua các quan chức Ủy ban đầu tư của chính phủ Thái Lan đã có các
buổi gặp gỡ với các nhà sản xuất lớn để thảo luận khả năng cắt giảm, miễn
thuế cho các nhà máy sản xuất công cụ và các chương trình đào tạo của các
nhà sản xuất có thể mở thêm nhà máy sản xuất các loại xe tiết kiệm nhiên
liệu. Nhưng theo các nhà nghiên cứu thị trường, một câu hỏi lớn đặt ra là
liệu Thái Lan có từ bỏ được sở trường xe bán tải hay không. Cơ cấu thuế của
Thái Lan lại ưu đãi quá nhiều cho xe bán tải nên người tiêu dùng đã quen
với các loại xe bán tải lớn và mạnh. Và tại Thái Lan, nhu cầu cho xe nhỏ là
không nhiều, tất cả mọi người đều thích xe lớn. Song các quan chức chính
phủ Thái Lan lại cho rằng cơ sở hạ tầng tốt, cảng biển thuận lợi và kinh
nghiệm từ lâu với các dây chuyền hiện đại kiểu Nhật Bản sẽ giúp Thái Lan
chuyển đổi từ sản xuất xe bán tải sang các loại xe nhỏ. Đã có dấu hiệu điều
này có thể sẽ diễn ra. Mazda cùng đối tác Ford đã có kế hoạch đầu tư 430
triệu USD cho một nhà máy sản xuất xe nhỏ có công suất 200 ngàn xe/năm,
16
nhà máy này đã đi vào hoạt động từ năm 2009. Chưa dừng lại ở đó, Ủy ban
đầu tư Thái Lan và Viện ô tô nước này đang ban hành những chính sách ưu
đãi để các doanh nghiệp trong và ngoài nước sản xuất những cụm linh kiện
then chốt của xe hơi chưa từng được sản xuất tại Thái Lan như hệ thống
với nền kinh tế quốc dân
1.2.1. Các dòng sản phẩm
1.2.1.1. Phân loại theo phân loại về thân xe (body)
Thân xe cơ bản được chia thành 3 phần: Khoang máy; khoang người
ngồi; khoang để hành lý.
Có nhiều kiểu thân xe khác nhau:
- Sedan: Đây là kiểu thân xe có ba khoang riêng biệt, 4 cửa, 4-5 chỗ ngồi.
- Coupe: Đây là dòng xe 2 cửa thể thao, có 4 chỗ ngồi, luôn thể hiện
được sức mạnh của động cơ.
- Lift back (Hatch back): Về cơ bản nó giống với coupe, là sự kết hợp
khoang hành khách và khoang hành lý. Lắp cốp đồng thời là cửa sau.
- Hardtop: Cơ bản giống Sedan, nhưng không có khung cửa sổ, và cộ
trụ cửa.
-Convertible: Đây là một kiểu Sedan hoặc Coupe, nhưng nó có khả
năng thu gọn mui lại thành một chiếc mui trần.
- Pickup: Đây là một loại xe tải nhỏ, có khoang máy kéo dài về phía
trước ghế người lái.
- Van and wagon: Kiểu xe này là sự kết hợp khoang hành khách và
khoang hành ký, nó chứa được nhiều người và hành lý. Khoang hành khách
thông với khoang hành lý.
1.2.1.2. Phân loại theo ô tô sử dụng nhiên liệu động cơ
- Xe có động cơ sử dụng nhiên liệu xăng: Đây là loại xe có động cơ sử
dụng nhiên liệu xăng, vì động cơ xăng là một sản phẩm có công suất lớn mà
lại gọn nhẹ, lên được sử dụng rộng rãi trên các loại xe chở người.
- Xe có động cơ sử dụng nhiên liệu Diesel: Đây là loại xe có động cơ
sử dụng nhiên liệu dầu Diesel, động cơ Diesel là loại động cơ cú Mụmen xoắn
lớn, mà vận hành lại kinh tế (dầu rẻ hơn xăng) vì vậy nó được sử dụng chủ
19
cung cấp phương tiện đi lại và vận chuyển tối ưu nhằm đảm bảo mạch máu lưu
thông, thúc đẩy kinh tế phát triển. Theo thống kê, 82% khối lượng hàng hóa vận
chuyển bằng đường ô tô và 75% hành khách đi lại bằng phương tiện cơ động
này. Như vậy, ở điểm này, ngành công nghiệp ô tô đã gián tiếp đóng vai trò
không thể thiếu của mình vào sự phát triển kinh tế quốc gia và thế giới. Ngoài ra,
do đặc trưng gắn liền với thành tựu khoa học kỹ thuật, ngành công nghiệp ô tô
có tác động thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển, đặc biệt là ngành tự động hóa,
khoa học điện tử, công nghiệp mới, hóa chất, cơ khí chế tạo,… từ đó thúc đẩy
nhiều ngành, lĩnh vực liên quan cùng phát triển đóng góp vào sự phát triển
chung của nhân loại. Bên cạnh đó, công nghiệp ô tô là khách hàng lớn nhất của
nhiều ngành công nghiệp phụ cận như: kim loại, hóa chất, cơ khí, điện tử,… và
tạo công ăn việc làm cho vô số lao động trong các ngành công nghiệp này.
Hình 1.1: Mô tả tác động của ngành công nghiệp ô tô đến nền kinh tế
(Nguồn: Vụ công nghiệp nặng, Bộ Công Thương)
Rõ ràng sức ép phát triển ngành công nghiệp ô tô trong nước là rất lớn.
Một mặt khác, sự thành công của công nghiệp ô tô trong nước cũng sẽ giúp
tận dụng được thị trường còn tiềm năng lớn với dân số trong khoảng 10 năm
20
tới đạt trên 100 triệu và có giá trị hàng chục tỷ USD. Ở các nước công nghiệp
tiên tiến, công nghiệp ô tô là nguồn động lực phát triển cho các ngành công
nghiệp khác. Một xe ô tô du lịch hiện đại có từ 20.000 – 30.000 chi tiết và
tính trên toàn thế giới thì ngành công nghiệp ô tô tiêu thụ 77% cao su thiên
(trừ Việt Nam đến 13/11/2010 mới tuyên bố tham gia đàm phán với tư cách
thành viên đầy đủ, các nước khác quyết định tham gia chính thức ngay từ
đầu). Cũng từ thời điểm này , đàm phán mở rộng P4 được đặt tên lại là đàm
phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương.
Tuy nhiên, đàm phán TPP bị trì hoãn đến tận cuối 2009 do phải chờ đợi
Hoa Kỳ hoàn thành kỳ bầu cử Tổng thống và Chính quyền mới của Tổng
thống Obama tham vấn và xem xét lại việc tham gia đàm phán TPP. Tháng
12/2009 USTR mới thông báo quyết định của Tổng thống Obama về việc Hoa
Kỳ tiếp tục tham gia TPP. Chỉ lúc này đàm phán TPP mới được chính thức
khởi động.
Sau hơn 5 năm đàm phán với hơn 30 phiên làm việc ở cấp kỹ thuật và
hơn 10 cuộc đàm phán ở cấp Bộ trưởng, các nước TPP đã chính thức kết thúc
đàm phán Hiệp định vào ngày 5/10/2015 tại Hội nghị Bộ trưởng tại Át-lan-ta,
Hoa Kỳ.
1.3.2. Nội dung chính của Hiệp định đối tác xuyên
Thái Bình Dương – TPP
•Về thương mại hàng hóa:
Các bên tham gia TPP nhất trí xóa bỏ hoặc cắt giảm thuế quan và
các hàng rào phi thuế quan đối với hàng hóa công nghiệp và xóa bỏ hoặc
cắt giảm thuế quan cũng như các chính sách mang tính hạn chế đối với
hàng hóa nông nghiệp.
Việc xóa bỏ phần lớn thuế quan đối với hàng nông nghiệp sẽ được thực
hiện ngay lập tức mặc dù thuế quan đối với một số mặt hàng sẽ được xóa bỏ
với lộ trình dài hơn do các bên thống nhất.
22
Việc cắt giảm thuế cụ thể do các bên thống nhất được quy định tại
lộ trình cam kết bao gồm tất cả hàng hóa và được đính kèm theo lời văn
xuất xứ với điều kiện họ có các chứng từ chứng minh. Các bên cũng nhất trí
không sử dụng các yêu cầu về thực hiện như là điều kiện để một số nước áp
đặt cho các doanh nghiệp để được hưởng các lợi ích về thuế quan. Ngoài ra,
các bên nhất trí không áp dụng các hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu về các loại
thuế không phù hợp với WTO, bao gồm cả đối với hàng tân trang – việc này
được cho là thúc đẩy việc tái chế các bộ phận để chuyển thành sản phẩm mới.
Nếu các bên TPP duy trì yêu cầu cấp phép nhập khẩu hoặc xuất khẩu thì phải
thông báo cho các bên kia về quy định không nhằm mục đích làm chậm sự
lưu thông thương mại.
•Về quản lý hải quan và thuận lợi hóa thương mại
Các nước nhất trí về các quy định liên quan đến việc xử phạt hải quan
để đảm bảo các hình thức xử phạt này được thực hiện một cách công bằng và
minh bạch. Bên cạnh đó, vì tầm quan trọng của việc chuyển phát nhanh đối
với các lĩnh vực kinh doanh, trong đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các nước
TPP nhất trí về các quy định hải quan đối với chuyển phát nhanh.
Để hỗ trợ việc chống buôn lậu và trốn thuế, các nước tham gia TPP
nhất trí cung cấp thông tin khi được yêu cầu để hỗ trợ lẫn nhau trong việc
thực thi luật hải quan.
•Đối với các biện pháp vệ sinh, kiểm dịch động thực vật (SPS)
Các nước TPP nhất trí cho phép công chúng được đóng góp ý kiến vào
các dự thảo quy định SPS trong quá trình đưa ra quyết định và ban hành chính
sách cũng như để đảm bảo rằng doanh nghiệp hiểu rõ các quy định mà họ sẽ
phải tuân thủ. Việc kiểm tra hàng hóa đáp ứng các quy định SPS được dựa
trên các rủi ro tiềm tàng trên thực tế có gắn với việc nhập khẩu và thông báo
cho các nhà nhập khẩu hoặc xuất khẩu trong vòng 7 ngày nếu hàng hóa bị
cấm nhập khẩu vì lí do liên quan đến SPS.