HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) – GÓC NHÌN TỪ NGÀNH NÔNG NGHIỆP - Pdf 38

HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI
BÌNH DƯƠNG (TPP) – GÓC
NHÌN TỪ NGÀNH NÔNG
NGHIỆP
Văn đức mười – tổng giám đốc công ty VISSAN
Văn đức mười – tổng giám đốc công ty VISSAN


THAM LUẬN
“HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) –
GÓC NHÌN TỪ NGÀNH NÔNG NGHIỆP”
Văn Đức Mười – Tổng Giám đốc Công ty Vissan,
Chủ tịch Hội Lương Thực Thực Phẩm TP.HCM

I.

TỔNG QUAN VỀ TPP
1. TPP là gì?
Đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP – Trans-Pacific
Parrtnership) – một Hiệp định thương mại tự do giữa 11 nước hai bờ Thái Bình Dương,
bao gồm Việt Nam, Brunei, Singapore, Malaysia, Chile, Úc, New Zealand, Peru, Mexico,
Canada và Mỹ - đến nay đã trải qua 17 vòng đàm phán.
2. Lịch sử hình thành và diễn biến đàm phán TPP
a. Lịch sử hình thành
 Đàm phán Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) hiện nay có nguồn
gốc từ Hiệp định hợp tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TransPacific Strategic Economic Partnership Agreement – còn gọi là P4) - một Hiệp
định thương mại tự do được ký kết ngày 3/6/2005, có hiệu lực từ 28/5/2006 giữa
4 nước Singapore, Chile, New Zealand và Brunei.
 Năm 2007, các nước thành viên P4 quyết định mở rộng phạm vi đàm phán của
Hiệp định này ra các vấn đề dịch vụ tài chính và đầu tư và trao đổi với Mỹ về
khả năng nước này tham gia vào đàm phán mở rộng của P4. Phía Mỹ cũng bắt

Melbourne, Úc

15-19/3/2010

8 nước

Thứ 2

San Francisco, Mỹ

14-18/6/2010

8 nước

Thứ 3

Brunei

4-9/10/2010

9 nước

Ghi chú
Úc, Mỹ,
New
Zealand,
Chile,
Singapore,
Brunei, Peru
và Việt Nam


Thứ 7

Tp. Hồ Chí Minh, Việt
Nam

20–21/06/2011

9 nước

Thứ 8

Chicago, Mỹ

6-15/9/2011

9 nước

Thứ 9

Lima, Peru

18-28/10/2011

9 nước

Thứ 10

Kuala Lumpur,
Malaysia

2


Thứ 14

Leesburg, Virginia, Mỹ

6-15/9/2012

9 nước

Thứ 15

Aucland, New Zealand

3-12/12/2012

11 nước

Thứ 16

Singapore

4-13/3/2013

11 nước

Thứ 17

Lima, Peru


Lĩnh vực

Các định hướng đàm phán

1

Cạnh tranh

Tạo lập và duy trì pháp luật và các cơ quan cạnh tranh, đảm bảo
công bằng trong thủ tục thực thi luật cạnh tranh, minh bạch, bảo vệ
người tiêu dùng và quyền hành động của khu vực tư nhân

2

Cơ chế hợp tác và hỗ trợ xây dựng mang tính thiết chế
Hợp tác và Xây
- Linh hoạt
dựng năng lực
- Theo cơ chế “yêu cầu - đáp ứng”
Các nguyên tắc chính điều chỉnh lĩnh vực này:

3

Dịch vụ xuyên
biên giới

- Công bằng
- Mở
- Minh bạch


- Đánh cá trên biển
- Bảo tồn đa dạng sinh học
- Chống sinh vật ngoại lai
- Biến đổi khí hậu
- Các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ môi trường
- Minh bạch, không phân biệt đối xử;

7

Dịch vụ tài
chính

- Đối xử công bằng đối với các dịch vụ tài chính mới
- Bảo hộ đầu tư và cơ chế giải quyết tranh chấp
- Đảm bảo chủ quyền của các nước, đặc biệt trong trường hợp có
khủng hoảng tài chính
Những nguyên tắc cơ bản và thủ tục đấu thầu công:

8

Mua sắm chính - Công bằng
phủ
- Minh bạch
- Không phân biệt đối xử
- Dựa trên và phát triển từ TRIPS

9

Sở hữu trí tuệ

Các nguyên tắc đảm bảo thực thi Hiệp định:

12

Các vấn đề
pháp lý

- Quy tắc giải quyết tranh chấp;
- Các ngoại lệ về vấn đề minh bạch trong quá trình ban hành pháp
luật nội địa
Phạm vi đàm phán
- Lộ trình cắt bỏ thuế quan của tất cả các dòng thuế (khoảng 11.000
dòng);

13

Thương mại
hàng hóa

- Quy tắc xuất xứ
- TBT, SPS và Phòng vệ thương mại: Dựa trên nền của WTO (phát
triển theo hướng minh bạch hơn và hợp tác hơn)
- Dệt may: Một loạt các quy định liên quan, bao gồm cơ chế hợp
tác hải quan, thủ tục thực thi, quy tắc xuất xứ, cơ chế đàm phán đặc
biệt
Các nguyên tắc cơ bản:

14

Thương mại

đã được các nước này cho hưởng ưu đãi thuế quan.
 Với các nước khác trong TPP (Australia, New Zealand, các nước ASEAN –
Association of Southeast Asian Nations – Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á,
Chile, Peru), lợi thế này từ TPP có thể ít quan trọng hơn, do hàng hóa của chúng
ta đã có thể tiếp cận thị trường các nước này với thuế quan ưu đãi theo các hiệp
định đã có (ASEAN-Australia, New Zealand, AFTA – ASEAN Free Trade Area
– Khu vực mậu dịch tự do ASEAN…).
2. Thứ hai:
 Với việc mở cửa thị trường Việt Nam cho hàng hóa, dịch vụ đến từ các nước
TPP (thông qua việc cắt giảm thuế quan và các điều kiện khác), có thể kỳ vọng
về một môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn, với hàng hóa và dịch vụ giá rẻ
hơn, chất lượng tốt hơn cho người tiêu dùng, với công nghệ, máy móc thiết bị,
nguyên vật liệu phong phú hơn và giá thấp hơn cho sản xuất trong nước, và cả
những mô hình, phương thức quản lý mới, hiện đại và hiệu quả hơn cho DN
Việt Nam. Cùng với đó là kỳ vọng về những lợi ích hữu hình và vô hình từ việc
mở rộng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, trong đó có gia tăng sản xuất, công
ăn việc làm, tăng nguồn thu từ thuế…
 Tuy nhiên, cùng với các thuận lợi chúng ta cũng phải đối mặt với những thách
thức là vấn đề đương nhiên. Mở cửa theo một FTA tham vọng như TPP, thách
thức càng lớn hơn, dưới hình thức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Việt Nam
vốn nhỏ bé và ít kinh nghiệm với những “người khổng lồ” đến từ các nước TPP
ngay ở thị trường trong nước.
 Dù vậy, chúng ta đều hiểu rằng cạnh tranh là yếu tố không thể thiếu trong một
nền kinh tế thị trường, ít nhất với tính chất là động lực, là sức ép để các doanh
nghiệp, các ngành và cả nền kinh tế phải tự điều chỉnh, tự cải thiện, tiến tới tự
hoàn thiện mình. Điều này không phải lý thuyết xa xôi mà là thực tế đã được
6


chứng minh sau gần hai thập kỷ nền kinh tế phát triển theo hướng thị trường,

đối tượng dễ bị tổn thương trong hội nhập là nông dân. Ngoài ra, điều này cũng
dẫn đến việc doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh với nhau và doanh nghiệp
nào yếu kém sẽ bị đào thải khỏi thị trường. Chỉ doanh nghiệp nào tự thích nghi,
tự điều chỉnh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình mới tồn tại được.
 Ngoài ra, tham gia TPP đồng nghĩa với việc mở cửa thị trường dịch vụ, là mảng
hoạt động thương mại mà mức độ mở cửa của Việt Nam là hạn chế và dè dặt
7


nhất từ trước đến nay. Việc mở cửa thị trường dịch vụ sẽ khiến cho các nhà cung
cấp có tiềm lực lớn, có kinh nghiệm và danh tiếng lâu năm, có ưu thế về cung
cấp dịch vụ trên thế giới "đổ bộ" vào thị trường Việt Nam, khiến cho các đơn vị
cung cấp dịch vụ của Việt Nam gặp khó khăn nghiêm trọng và việc mất thị phần
là nguy cơ có thể dự báo trước được.
 Không những thế, so với các hiệp định khác, TPP hướng tới một sân chơi bình
đẳng, không phân biệt quốc gia phát triển hay đang phát triển trong khi WTO
vẫn có chính sách ưu tien cho các quốc gia đang phát triển. Như vậy, rõ ràng
đây là bất lợi lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi không có đủ năng lực để
cạnh tranh bình đẳng, sòng phẳng với các DN của Mỹ hay Australia.
2. Điều kiện xuất xứ trong xuất khẩu hàng hóa phi nông nghiệp:
 Đối với việc xuất khẩu hàng hóa phi nông nghiệp mà chúng ta có thế mạnh (dệt
may, da giầy, đồ gỗ, điện tử, công cụ, hàng thủ công mỹ nghệ…), để được hưởng
thuế 0% hoặc thuế thấp trong TPP, doanh nghiệp phải đáp ứng được các điều
kiện về xuất xứ hàng hóa trong Phụ lục của Hiệp định này. Như vậy, đàm phán
về các quy tắc về xuất xứ trong TPP phải đạt được cam kết sao đó để phù hợp
với với thực tế thu mua nguyên liệu, phương thức sản xuất của doanh nghiệp
Việt Nam.
 Trong bối cảnh phần lớn nguyên liệu sản xuất (chiếm tỷ lệ khá cao trong trị giá
sản phẩm) của nhiều ngành xuất khẩu của chúng ta đang được nhập từ Trung
Quốc, Lào, Hàn Quốc... (các nước nằm ngoài TPP). Ví dụ, ngành dệt may của

phẩm mà các nước TPP có thế mạnh...).
b. Đối với thị trường xuất khẩu
 Rào cản kỹ thuật của các nước sẽ khắt khe hơn, trong khi năng lực cạnh của Việt
Nam không cao dẫn đến khó tận dụng lợi ích từ việc giảm thuế quan.
 Điều này gây bất lợi cho nông sản Việt Nam dù thuế suất có là 0%, đó là một
số nước thuộc TPP đang ra sức bảo hộ, hạn chế nhập khẩu nông sản để bảo vệ
nền nông nghiệp trong nước. Nông sản là vấn đề rất khó đàm phán vì từ xưa đến
nay trong khuôn khổ đàm phán các hiệp định tự do thương mại hay gia nhập
WTO... nông sản luôn là lĩnh vực được các nước bảo hộ mạnh mẽ.
 Vấn đề TBT (hàng rào kỹ thuật thương mại) và SPS (biện pháp vệ sinh dịch tễ)
rất quan trọng đối với khả năng tiếp cận thị trường các nước của nông sản Việt
Nam bởi dù thuế quan (nhập khẩu vào các nước) có được cắt bỏ hết nhưng việc
kiểm dịch, kiểm tra dư lượng kháng sinh, các đòi hỏi về nhãn mác bao gói... của
các nước vẫn ngăn chặn khả năng xuất khẩu của nông sản Việt Nam, thậm chí
là còn rủi ro hơn nhiều so với thuế quan.
 Đàm phán TPP trong vấn đề này hiện hầu như không giải quyết được vướng
mắc này của Việt Nam vì các nội dung đàm phán không đề cập tới vấn đề hạn
chế quyền ban hành các điều kiện SPS, TBT mới của các nước TPP (và vì vậy
các nước này vẫn được đơn phương đưa ra các điều kiện SPS, TBT mới hoặc
điều chỉnh, từ đó ngăn chặn việc nhập khẩu của nông sản Việt Nam vào các
nước này). Thực tế, đàm phán chỉ xoay quanh vấn đề hợp tác để xử lý vướng
mắc, một vấn đề chỉ liên quan tới rút ngắn thời gian xử lý khiếu nại, còn các
điều kiện kiểm dịch thì vẫn giữ nguyên.

9


 Như vậy, để những lợi ích thuế quan đối với nông sản của Việt Nam được hiện
thực hóa, TPP cần có những cam kết ràng buộc và hạn chế quyền tự do, độc
đoán của các nước TPP trong việc ban hành các quy định biện pháp kỹ thuật

TPP, đặt trong bối cảnh các cam kết mở cửa thương mại hiện có của Việt Nam với các
nước này.
Cụ thể, trong số các nước đàm phán, nước ta đã tham gia các FTA khu vực (tức là
đã có cam kết cắt giảm thuế quan xuống bằng 0% theo lộ trình đối với các sản phẩm hàng
10


hóa nói chung và nông nghiệp nói riêng) với các nước hiện là thành viên đàm phán TPP
như sau:
1. Đối với Brunei, Malaysia và Singapore:
 Việt Nam đã tham gia thỏa thuận Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA)
trong đó có cam kết về mở cửa thị trường nông sản cho ba nước này.
 Theo cam kết trong khuôn khổ AFTA, thuế quan của Việt Nam đối với tất cả
các mặt hàng nông sản nhập khẩu từ 03 nước này đều đã ở mức từ 0-5%, kể cả
các mặt hàng nông sản nhạy cảm như đường ăn (mặc dù đường vẫn được duy
trì hạn ngạch thuế quan -TRQ theo cam kết WTO). Như vậy, về mặt thuế quan,
việc mở cửa thị trường nông sản hoàn toàn cho các nước này trong khuôn khổ
TPP sẽ không làm thay đổi tình hình cạnh tranh của Việt Nam với các đối tác
này so với AFTA đã có.
 Về năng lực cạnh tranh thực tế, Brunei và Singapore tuy là hai nước có thu nhập
cao nhưng nước nhỏ và không có sản xuất nông nghiệp đáng kể. Vì vậy, khả
năng nông sản Việt Nam bị cạnh tranh mạnh từ các nước này khi Việt Nam mở
cửa thị trương theo TPP hầu như không có. Đối với Malaysia, do nước này hiện
đang nhập siêu nông sản từ VN (đặc biệt là gạo, rau quả, kể cả thịt) nên nguy
cơ rủi ro khi Việt Nam mở cửa thị trường nông sản cho Malaysia theo TPP cũng
không đặt ra.
 Tóm lại, vấn đề mở cửa thị trường nông sản trong TPP đối với Brunei, Singapore
và Malaysia không đặt ra vấn đề gì nghiêm trọng đối với nông nghiệp Việt Nam.
2. Đối với Úc và New Zealand:
 Việt Nam đã có thỏa thuận mở cửa thị trường nông sản với trong khuôn khổ

đa phương), và do đó mức độ cam kết mở cửa thị trường nông sản của Việt Nam
đối với đối tác này hiện tại đang dừng lại ở cam kết WTO.
 Về triển vọng xuất khẩu, TPP có thể mang lại cho nông sản nhiệt đới, nhất là
rau quả chế biến, của nước ta cơ hội tiếp cận thị trường quan trọng này thông
qua việc loại bỏ thuế quan. Tuy nhiên, Mỹ áp dụng hàng rào kỹ thuật, vệ sinh
dịch tễ cao (TBT, SPS) nên khả năng thực tế để nông sản nhiệt đới xâm nhập
được vào thị trường này có thể bị hạn chế nhiều.
 Ngoài ra, Mỹ có thế mạnh trong các sản phẩm như sữa, thịt bò, thịt gia cầm, thịt
lợn và với mức thuế suất hiện tại, Việt Nam cũng đang nhập khá nhiều từ Mỹ,
nếu mở cửa các mặt hàng này, nguy cơ sản phẩm tương tự của Việt Nam gặp
khó khăn khi cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu từ Mỹ là rất lớn.
Như vậy, có thể nói, trong TPP, ba nước Mỹ, Úc, New Zealand là đáng lo ngại nhất
đối với Việt Nam khi đàm phán và thực hiện cam kết về mở cửa hàng nông sản, đặc biệt
đối với các sản phẩm chăn nuôi. Khả năng cạnh tranh của ngành này của Việt Nam còn
tương đối thấp, năng lực sản xuất và công nghệ còn hạn chế trong khi phải đối mặt thường
xuyên với các loại dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm. Trong khi đó chăn nuôi hiện vẫn
đang là ngành tạo công ăn việc làm cho nông dân, nhóm chiếm tới trên 80% dân số, có thu
nhập thấp, không ổn định và trước nay vẫn là đối tượng “dễ bị tổn thương” trong quá trình
mở cửa thị trường. Vì vậy, đối với nhóm này, trong mọi trường hợp, cần có mức độ bảo
hộ nhất định.
12


Thông thường, trong thương mại nông sản, bảo hộ được thực hiện theo nhiều cơ
chế (hợp pháp). Áp dụng trong hoàn cảnh cụ thể của TPP (với các nguyên tắc và tiến triển
như đã phân tích phía trên) thì:
 Bảo hộ bằng thuế quan: Trong TPP, có vẻ như bảo hộ theo cơ chế này đang
gặp thách thức lớn nếu xu hướng đàm phán trong Khung sơ bộ đàm phán TPP
nói trên (loại bỏ 100% dòng thuế, kể cả nông sản) không thay đổi trong những
Vòng đàm phán tới hoặc không có ngoại lệ;

CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN VIỆT NAM KỸ NGHỆ SÚC SẢN (VISSAN)
Địa chỉ : 420 Nơ Trang Long, P. 13, Quận Bình Thạnh, Tp.HCM, Việt Nam
Điện thoại: (84 8) 3553 3999 - 3553 3888
Fax: (84 8) 3553 3939
Email:
Website:

14


Tài liệu tham khảo
1. Diễn biến đàm phán tpp (Trung tâm WTO - VCCI)
/>2. VCCI khuyến nghị phương án hành động cho hiệp hội, doanh nghiệp về một số vấn
đề nóng trong TPP
/>3. Khuyến nghị của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam về phương án mở cửa thị
trường nông sản trong TPP
/>4. Để TPP mang lại những lợi ích kỳ vọng
/>5. Doanh nghiệp Việt Nam phải làm gì khi tham gia TPP?
/>6. Phân tích những lợi ích Việt Nam có thể thu được từ TPP
/>7. Phân tích những bất lợi tiềm tàng của TPP đối với Việt Nam
/>8. Việt Nam và TPP - Những suy tính thiệt hơn
/>
15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status