Ngành công nghiệp ô tô tại việt nam trước ngưỡng cửa hiệp định đối tác xuyên thái bình dương (TPP) có hiệu lực - Pdf 37

Contents

1


Lời mở đầu
Ngành công nghiệp ô tô là một trong những ngành hết sức
quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Một ngành công nghiệp
ô tô vững mạnh sẽ càng khẳng định sức mạnh và vị thế của
một quốc gia. Phát triển ngành này cũng là một mục tiêu
chính để xây dựng một đất nước công nghiệp hóa hiện đại
hóa và trở thành một nước phát triển. Sức ảnh hưởng của
ngành công nghiệp ô tô đến các ngành khác như hóa dầu,
thép, dịch vụ…. là vô cùng lớn, thể hiện là một ngành mũi
nhọn của quốc gia. Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam luôn
được chính phủ quan tâm tạo điều kiện rất lớn để thu hút vốn
đầu tư của các quốc gia có ngành công nghiệp ô tô lớn mạnh.
Trong quá trình hội nhập, các doanh nghiệp trong nước cũng
đã liên doanh với các thương hiệu ô tô lớn để thu hút đầu tư,
chuyển giao công nghệ, học tập và ứng dụng các công nghệ
kỹ thuật cao. Đó là những hướng đi đúng của chính phủ và
các doanh nghiệp để xây dựng một ngành công nghiệp vũng
mạnh. Việt Nam một quốc gia đang trong quá trình phát triển,
với một thị trường tiêu thụ ô tô đầy tiềm năng, nguồn lao
động có tay nghề… đây là lợi thế để Việt Nam có thể thu hút
đầu tư, sự gia nhập của các thương hiệu lớn trên thế giới.
Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều muốn
mở rộng quan hệ với các quốc gia trên thế giới. Việt Nam là
một quốc gia đang phát triển việc đi đàm phán, tham gia vào
các tổ chức, các khối kinh tế, các hiệp định thương mai tự do
là điều mà chính phủ luôn đặt lên hàng đầu. Thế giới đang

3


4


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ
XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP)
1.1 HIỆP ĐỊNH TPP LÀ GÌ ?
Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương ,TPP viết
tắt

của

Trans



Pacific

Strategic

Economic

Parnership

Agreement. Hiệp định TPP là thỏa thuận tự do thương mại
giữa 12 quốc gia với mục đích hội nhập nền kinh tế khu vực
Châu Á – Thái Bình Dương. 12 quốc gia bao gồm Australia

Quá trình hình thành Hiệp định TPP

Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) hiện
nay có nguồn gốc từ Hiệp định hợp tác Kinh tế chiến lược
Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic
Partnership Agreement – còn gọi là P4) - một Hiệp định
thương mại tự do được ký kết ngày 3/6/2005, có hiệu lực từ
28/5/2006 giữa 4 nước Singapore, Chile, New Zealand, Brunei
Ban đầu , Hiệp định TPP giữa 4 nước thành viên đàm phán về
các vấn đề , bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ, vệ sinh an toàn
thực phẩm, rào cản kỹ thuật, chính sách cạnh tranh, sở hữu
trí tuệ, mua sắm chính phủ và minh bạch hóa. Ngoài ra, còn
có một chương về hợp tác và 02 văn kiện đi kèm về Hợp tác
Môi trường và Hợp tác Lao động. Điểm nổi bật nhất của Hiệp
định dưới sự đàm phán của 4 nước thành viên là tự do hóa rất
lớn về hàng hóa. Thuế nhập khẩu được xóa bỏ hoàn toàn và
nó được các nước thành viên thống nhất có hiệu lực ngay khi
hiệp định có hiệu lực. Về dịch vụ, các thành viên nhất trí thực

6


hiện tự do hóa mạnh theo phương thức chọn-bỏ. Theo đó, tất
cả các ngành dịch vụ đều được mở, trừ những ngành nằm
trong danh mục loại trừ.
Tháng 9 năm 2008, Mỹ tuyên bố tham gia TPP. Ngay sau đó,
tháng 11 năm 2008, Úc và Pê-ru cũng tuyên bố tham gia TPP.
Tại buổi họp báo công bố việc tham gia của Úc và Pê-ru, đại
diện các bên khẳng định sẽ đàm phán để thiết lập một khuôn
khổ mới cho TPP. Kể từ đó, các vòng đàm phán TPP được lên

thuế xuất nhập khẩu,…
Ngày 05/10/2015, tại Atlanta, Bộ trưởng của 12 nước thành
viên tham gia hiệp định TPP chính thức thông báo hoàn thành
các thỏa thuận liên quan đến hiệp định này và tuyên bố kết
thúc quá trình đàm phán. Đây là một bước ngoặt lớn đánh
dấu sự phát triển của một mô hình mới về hợp tác kinh tế khu
vực và hứa hẹn trở thành hạt nhân để hình thành một Khu vực
Mậu dịch tự do cho châu Á – Thái Bình Dương trong tương lai.

1.2.2

Quá trình Việt Nam gia nhập Hiệp định TPP

Trong buổi họp báo cung cấp thông tin kết thúc đàm phán
Hiệp định TPP cuối tuần qua, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần
Quốc Khánh cho biết TPP khởi đầu có 4 nước tham gia là
Brunei, Chile, New Zealand và Singpore, vì vậy được gọi là
Hiệp định P4. Tháng 9/2008, Mỹ tuyên bố tham gia, nhưng

8


các bên sẽ đàm phán một hiệp định hoàn toàn mới, gọi là
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương. Sau đó các nước
Australia, Peru cũng tuyên bố tham gia.
Ngay từ khi TPP được hình thành, Việt Nam đã được các
nước TPP mời tham gia. Việt Nam đã tham gia đàm phán ngay
từ những ngày đầu nhưng chưa phải thành viên chính thức mà
là thành viên liên kết. Sau 3 phiên tham dự với tư cách thành
viên liên kết, Việt Nam chính thức tham gia TPP từ tháng

mới về thương mai nhưng bên cạnh đó vẫn đề cập đến những
vấn đề phi thương mai.


Thứ nhất, tiếp cận thị trường một cách toàn diện. Các
nước thành viên thông qua hiệp định TPP sẽ cùng thống
nhất cắt bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối
với các hàng hóa và dịch vụ nhằm tạo cơ hội và các lợi
thế cho doanh nghiệp, người lao động, người tiêu dung



của các nước thành viên.
Thứ hai, tiếp cận mang tính khu vực trong việc đưa ra
các cam kết. Hiệp định TPP được ký kết tạo thuận lợi cho
việc phát triển sản xuất và dây chuyền cung ứng, đẩy
mạnh tính hiệu quả và hỗ trợ thực hiện mục tiêu về việc
làm, nâng cao mức sống của người dân, tạo cơ hội thuận



lợi cho việc hội nhập mở rộng thị trường trong nước.
Thứ ba, Giai quyết các thách thức mới đổi với thương
mai. Sau khi được ký kết, mục tiêu của hiệp định là thúc
đẩy việc đổi mới , tăng năng suất và tính cạnh tranh
thông qua việc giải quyết các vấn đề mới trong đó bao
gồm việc phát triển nền kinh tế số và vai trò ngày càng
tăng của các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế



của Hiệp định thông qua các buổi hội thảo và diễn đàn dành
cho các đối tượng liên quan được tổ chức bên lề các phiên
đàm phán. Điều mà TPP muốn hay có thể coi là tham vọng, đó
là thiết lập được các chuẩn mực cao và toàn diện cho sự hợp
tác của các quốc gia thành viên, chính vì vậy nó gần như bao
phủ toàn bộ mọi hoạt động của nền kinh tế.
Một trong những nội dung của Hiệp định TPP, đó là giải
quyết các vấn đề liên quan đến thương mại của mỗi quốc gia.
11


Để giải quyết vấn đề các bên tham gia TPP đã nhất trí xóa bỏ
hoặc cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan đối
với hàng hóa công nghiệp và xóa bỏ hoặc cắt giảm thuế quan
cùng với đó là các chính sách mang tính hạn chế khác đối với
hàng hóa nông nghiệp. Hiệp định TPP sẽ luôn đảm bảo cho
nền kinh tế các bên tham gia phát triển ở mọi cấp độ và mọi
quy mô doanh nghiệp đều có thể tận dụng và hưởng đầy đủ
các lợi ích mà hiệp định TPP mang lại.
Một trong những sự khác biệt của Hiệp định TPP , đó là nội
dung của TPP không chỉ dừng lại dừng lại ở các vấn đề liên
quan đến thương mại mà còn hết sức toàn diện với nhiều vấn
đề phi thương mại hướng tới sự phát triển hợp tác sâu rộng và
lâu dài. Hiệp định này hướng tới sự thay đổi một cách toàn
diện không chỉ có các vấn đề về kinh tế mà nó còn bao gồm
các vấn đề môi trường, đạo đức kinh doanh và văn hóa…
Theo đó, TPP thống nhất nhiều luật lệ, quy tắc chung được áp
dụng đối với các quốc gia thành viên như chất lượng sản
phẩm, sở hữu trí tuệ, vấn đề lao động, bảo vệ môi trường của
các quốc gia thành viên phải được quy định và giám sát theo

tham gia đàm phán dựa vào lợi ích và trình độ phát triển của
các nước tham gia. Các quốc gia tham gia vào hiệp định TPP
các nước trong đó có Việt Nam sẽ nhận được các cơ hội để
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống,
tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao chất lượng lao động và
hoàn thiện hệ thống pháp luật. Năm 2007, Việt Nam đã đánh
dấu một mốc lịch khi chúng ta tham dự vào tổ chức thương
mai thế giới WTO. Khi gia nhập vào tổ chức WTO , Việt Nam

13


đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn về các lĩnh vực thương
mai. Nhưng tổ chức WTO vẫn còn nhiều nhược điểm do hệ
thống nhiều thành viên khá cồng kềnh và mất thời gian. Hiệp
định TPP tỏ ra ưu việt hơn so với WTO và các hình thức hợp
tác khác hiện nay bởi nó thiết lập được sự đồng thuận với
phạm vi can thiệp sâu hơn liên quan đến rất nhiều vấn đề đối
với các quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam như chính
sách đầu tư, chất lượng sản phẩm, kiểm soát các công ty nhà
nước, bảo vệ môi trường,… Tuy nhiên, bên cạnh các cơ hội thì
cũng không ít những thách thức đang chờ đón các quốc gia
trong đó có Việt Nam
1.4.1

Cơ hội của Việt Nam khi gia nhập hiệp định
TPP

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển. Chúng ta vô
cùng tích cực tham gia đàm phán các Hiệp định tự do thương

Việt Nam. Qua đó ta thấy được lợi thế của Việt Nam đối
với các mặt hàng nông sản khi xuất khẩu sang các thị
trường các nước TPP. Ngoài ba mặt hàng, có tỷ trọng

15


xuất khẩu sang thị trường TPP cao thì những mặt hàng
như gạo, cà phê, hạt tiêu vẫn là lợi thế của ngành nông
nghiệp Việt Nam khi bước chân vào thị trường gồm các
cường quốc mạnh về nhiều ngành.

Hình 1.2. Giá trị xuất khẩu các mặt hàng chủ lực sang
thị trường TPP giai đoạn 2009-2014

Nguồn: Báo cáo Bộ Công Thương
năm 2014
Theo hình 1.2, các nước TPP đang là những thị trường
xuất khẩu quan trọng của Việt Nam trong những năm
vừa qua. Giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chủ
lực sang thị trường TPP giai đoạn 2009-2014 có xu hướng
tăng trưởng, ngoại trừ mặt hàng gạo. Giá trị xuất khẩu
của Việt Nam cao nhất ở mặt hàng thủy sản và gỗ. với
tốc độ tăng trưởng xuất khẩu lần lượt là 14.7% và 17.6%.

16


Hạt tiêu và hàng rau quả là hai mặt hàng có tốc độ tăng
trưởng bình quân về giá trị xuất khẩu sang thị trường

hạn chế được sự phụ thuộc quá mức vào một thị trường
nhất định. Hiện nay thị trường Đông Á như ASEAN, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kông đang
chiếm tỷ trọng trong kim ngạch xuất nhập khẩu của
nước ta, trong đó xuất khẩu luôn ở trên mức 60%, nhập
khẩu lên tới 75%. Tuy nhiên, nếu thị trường Đông Á gặp
biến động hoặc có các tác động bất lợi thì có thể xảy ra
rất nhiều rủi ro với nền kinh tế. Việc tham gia hiệp định
TPP giúp đa dạng hơn các thị trường mục tiêu đồng thời
hạn chế việc phụ thuộc và sự mất cân đối trong tình


trạng xuất nhập khẩu hiện nay.
Thứ ba, dù đã ký kết rất nhiều các hiệp định thương mại
tự do FTA việc cắt giảm hoặc xóa bỏ hoàn toàn các loại
thuế và rào cản thương mại thông qua TPP được xem là
cú hích thực sự cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam,
đặc biệt là đối với các thị trường lớn và nhiều tiềm năng
phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Australia… Việc tham gia
vào TTP đem đến cơ hội cho Việt Nam thúc đẩy sản
xuất và đầu tư, trong đó các ngành được hưởng lợi
nhiều nhất đó chính là mặt hàng chủ lực như dệt may,
giày dép, thủy hải sản, điện tử, nông sản nhiệt đới bởi
mức thuế thấp hoặc xóa bỏ hoàn toàn 0% ngay khi TPP
được ký kết, điều này giúp mở rộng thị phần và nâng
cao năng lực cạnh tranh của các mặt hàng này tại thị
trường của các nước thành viên TPP, đặc biệt là các thị




cho người tiêu dùng trong nước có cơ hội tiếp cận và sử
dụng các sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao với giá
thành rẻ hơn, đồng thời đảm bảo vệ sinh an toàn hơn
với các mặt hàng thực phẩm bởi các quy định tiêu
chuẩn được áp dụng cho các nước thành viên TPP. Đồng
thời giá lao động của Việt Nam được tăng lên để xóa
dần khoảng cách với các nước phát triển khác trong
TPP, cải thiện quyền lợi của người lao động.

19


1.4.2

Thách thức của Việt Nam khi gia nhập hiệp
định TPP

Bên cạnh những thuận lợi mà hiệp định TPP mang lại cho
Việt Nam thì sân chơi nào cũng có những thách thức mà
chúng ta sẽ gặp phải khi hiệp định TPP chính thức có hiệu lực.
Những thách thức đó là gì, liệu ảnh hưởng lớn đến Việt Nam
và làm cách nào để khắc phục các bất lợi đó là cả một quá
trình phải phối hợp giữa các chính sách của nhà nước và các
doanh nghiệp.


Thứ nhất, nhiều ngành nghề chịu tác động trực tiếp của
các điều khoản quy định nghiêm ngặt về nguồn gốc
xuất xứ của sản phẩm, trong đó có ngành dệt may bởi
hoạt động xuất khẩu của nước ta phụ thuộc khá nhiều



quan đến thương mại và đầu tư.
Thứ tư, do có các điều khoản liên quan đến sở hữu trí
tuệ, nên các doanh nghiệp và người dân phải mất tiền
nhiều hơn để mua bản quyền các sản phẩm trí tuệ
trong đó có thuốc và các chế phẩm từ thuốc, phần
mềm, các ấn phẩm giải trí truyền hình, công nghệ số
bản quyền hay các ứng dụng công nghệ. Trong khi vấn
đề bản quyền và sở hữu trí tuệ tại Việt Nam còn rất
nhiều tồn đọng cần giải quyết.

21


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ VIỆT
NAM
2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam bắt đầu vào năm 1991
với vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài (FDI) của 2 công ty là

Mekong và VMC. Trong hơn 20 năm phát triển,

hàng loạt

hãng ô tô đã được cấp phép thành lập liên doanh tại Việt Nam
như Fiat, Ssangyong, PMC, BMW, Mazda, GM Daewoo,

các liên doanh cao nhất tại Việt Nam, đạt từ 19% đến 37% tùy
theo từng mẫu xe (theo phương pháp tính giá trị của ASEAN).
Cùng đó việc đào tạo nhân lực cũng mới chỉ đáp ứng cho công
việc lắp ráp ô tô. Trong quá trình phát triển, ngành công
nghiệp ô tô Việt Nam luôn được đánh giá là ngành xương sống
của ngành công nghiệp Việt Nam. Nói như vậy là do trong
ngành công nghiệp ô tô Việt Nam chứa đựng nhiều những
công nghệ cơ bản như chế tạo máy, luyện kim, đúc, khuôn
mẫu, vật liệu, điện tử…
23


2.2 THỰC TRẠNG NGÀNH Ô TÔ VIỆT NAM
Sau hơn 20 năm phát triển. ngành công nghiệp ô tô Việt
Nam đã có những thành tực và sự phát triển nhất định. Bước
đầu Việt Nam đã có một ngành công nghiệp “lắp ráp” ô-tô.
Chúng ta đã hình thành được một ngành công nghiệp hỗ trợ,
cung cấp một số phụ tùng cho sản xuất, lắp ráp ô-tô trong
nước. Tuy nhiên, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam vẫn còn
khá non trẻ và không được đánh giá cao. Có rất nhiều nguyên
nhân lý giải cho việc này. Một trong những lý do có thể kể đến
là ngành công nghiệp ô tô Việt Nam có xuất phát điểm thấp
hơn nhiều nước trên thế giới và trong khu vực. Chúng ta có
thể có thế mạnh với nguồn lao động dồi dào, một thị trường
khá nhiều tiềm năng nhưng cái chúng ta thiếu là vốn, kinh
nghiệm, khoa học công nghệ còn non nớt chưa đủ khả năng
cạnh tranh với các quốc gia khác Dù là một thị trường tiềm
năng nhưng sức tiêu thụ

ô tô ở Việt Nam còn thấp có

một quốc gia đang phát triển, GDP của ngành công nghiệp
đang chiếm tỷ trọng lớn. Một đất nước phát triển thì sự đóng

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status